MỘT MÌNH 13 NGÀY SỐNG TRONG VÒNG VÂY QUÂN PÔN PỐT

 Trong trận đánh ở bản Phờ Lon - CPC tháng 3/1978, đại đội 9 - Trung đoàn 24 của Trần Văn Quý bị địch bao vây vo tròn. Trung đoàn và Tiểu đoàn nhiều lần tổ chức phá vây cho đại đội 9 nhưng đều không thành. Cuối cùng Tiểu đoàn đã cho lệnh rút quân. Trong cuộc phá vây rút quân Trần Văn Quý bị lạc trong vòng vây quân Pôn Pốt suốt 13 ngày liền trong khi bản thân anh lại bị thương. Không có vũ khí, súng đạn, không lương thực, nước uống nhưng bằng nghị lực và ý chí kiên cường của người lính anh đã trở về được Việt Nam, đã trở về với đồng đội. Bài viết về Trần Văn Quý vừa qua được tôi và fb Van LeNgoc giới thiệu trên kênh YouTube - Hồi ức lính Tây Nguyên đã được bạn đọc khắp nơi nhiệt tình hưởng ứng và ngợi khen. Chỉ trong vòng một tuần đã có tới 50 ngàn lượt người xem. Đây là một kỷ lục người xem trong thời gian một tuần trên trang Website Hồi ức lính chiến. Hôm nay Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu lại với các bạn về bài viết này

MỘT MÌNH 13 NGÀY SỐNG TRONG VÒNG VÂY QUÂN PÔN PỐT
Nguyễn Đình Thi ( Ghi theo lời kể của Trung đội Trưởng Trần Văn Quý - C9/D6/E24 , quê Quyết Tiến - Xuân Viên - Yên Lập - Phú Thọ )
Bị thương ở mắt, từ hầm chốt ở tuyến trên tôi phải trở về hầm y tá băng bó vết thương, về đến hầm y tá tôi lại bị tiếp một mảnh đạn ĐKZ của địch xuyên qua hàm. Suốt 4 ngày qua chốt của đại đội tôi bị địch vây tròn, đường tiếp viện từ phía sau của Tiểu đoàn lên đều bị địch chiếm giữ. Đã mấy lần Tiểu đoàn tổ chức giải vây cho đại đội tôi nhưng đều không thành. Nhìn xung quanh chỗ nào cũng thấy lố nhố địch. Cả đại đội lúc vào đây ngày 29/2/1978 là hơn 80 người, thế mà mới sau 4 ngày giữ chốt giờ chỉ còn hơn chục tay súng. Tiểu đoàn đã cho lệnh rút nhưng suốt 3 ngày qua quân địch vây tứ phía, giờ đường rút cũng không còn. Sáng nay 4/3/1978, trời vẫn còn tối, địch vừa nổ súng, vừa la hét tấn công vào chốt chúng tôi. Biết quân địch quá đông không thể cầm cự được nữa vì người còn ít, súng đạn còn lại không đáng là bao, Tôi bàn với anh Quyền - đại đội trưởng và mấy anh em còn lại tranh thủ lúc trời chưa sáng, địch nhìn không rõ, mình phá vây. Tôi sẽ nổ súng chạy về một hướng để thu hút quân địch, số anh em còn lại chạy về hướng khác. Thống nhất với mọi người xong, tôi lao lên khỏi hầm chạy về phía Kỷ và Ngọc người của Trung đội tôi đang chốt gữi ở phía trên, kêu lớn:
- Kỷ ơi ! Ngọc ơi ! Rút thôi ! Đại đội có lệnh rút rồi !
Tôi cố kêu thật to để Kỷ và Ngọc biết vì không có cách nào báo cho Kỷ và Ngọc được
Vừa gọi cho Kỷ và Ngọc, tôi vừa chạy vừa bắn. Phát hiện tiếng súng từ hướng của tôi, hỏa lực của địch dồn cả về phía tôi, bắn như vãi đạn. May làm sao tôi không dính một viên đạn nào. Chạy được chừng vài trăm m thì mệt quá không thể chạy được nữa, thấy một bụi le rất to bị đạn đổ rạp,mtôi chui vội vào trong đó nằm, vơ vội ít lá ở ngoài nấp lỗ vừa chui vào và phủ một ít lá lên người để chúng không nhìn thấy. Nằm trong bụi le tôi nghe rõ tiếng chân bọn chúng đi lùng sục ở phía ngoài, tôi nghĩ phen này mình chắc chết, nhưng may làm sao chúng không phát hiện ra tôi nằm trong đó. Chiều hôm đó chúng lại đi lùng sục, tới bụi le chỗ tôi nằm chúng bắn một loạt đạn, do chúng bắn hơi cao tôi lại nằm sát đất nên may quá tôi không sao. Cả ngày hôm đó tôi vẫn nằm im trong bụi le. Tôi biết thế là mình đã nằm trong vòng vây quân thù rồi ! Bao nhiêu ý nghĩ, bao nhiêu câu hỏi cứ xoay quanh tôi. Làm thế nào để thoát được chúng trở về Việt Nam? Làm thế nào để sống trong những ngày tới ? vì trong tôi lúc này không có một thứ gì ! Vũ khí không, lương thực không, nước không, trong khi vết thương của tôi vẫn rỉ máu, đau nhói. 3 ngày đầu tôi phải nằm im trong bụi le đổ, không dám ra ngoài vì địch liên tục đi lùng sục. Cái đói, cái khát lúc này cũng hành tôi thật dữ dội. Bụng tôi lúc thì réo lên, lúc thì như có ai cào cấu, đầu óc quay cuồng lúc nào cũng nghĩ đến cơm, đến nước. Môi tôi cũng bắt đầu khô, họng rát như phải bỏng, tôi bắt đầu phải dùng nước tiểu của mình để uống, nhiều lúc đói quá tôi lả đi không biết gì. Đêm thứ 3 tôi quyết định bò ra ngoài xem có kiếm được cái gì ăn và uống không. May mắn làm sao cách chỗ tôi nằm chừng 15m có cây Loọng bị đạn cháy dở, một số quả rụng xuống đất ( quả Loọng giống quả Thổ của Việt Nam, to gần như nắm tay, ăn có vị chua chua, ngọt ngọt ), gần đó có mấy cây mua cũng bị đạn còn trơ một vài cành với ít lá, tôi vơ vội những quả Loọng rụng và ngắt nốt số lá mua còn sót lại, cất vào chỗ nằm để dự trữ. Lấy được ít quả Loọng và lá mua rồi song tôi không thể nhai được do xương hàm bị đạn, tôi đành lấy tay chà nát quả Loọng và lá mua rồi đưa từng ít một vào mồn ăn. Nằm trong bụi le vừa nóng, vừa đói, vừa khát nhưng tâm trí tôi lúc nào cũng nghĩ cách tìm đường về Việt Nam. Lúc đó tôi chỉ ao ước gặp được ai hoặc gặp được đơn vị nào của ta đánh sang nhưng đã 3 ngày trôi qua không thấy một tia hy vọng nào. Ngày thứ 4 do bẩn và do không có thuốc, vết thương trên má tôi bị nhiễm trùng, đã xuất hiện giòi, chúng bò lổm nhổm trên má. Nhớ ngày ở quê, mẹ tôi bảo cái gì ăn được cứ ăn, vả lại lúc này đói quá thế là tôi nhặt những con giòi đang bò trên má cho vào mồn ăn, lúc đầu nghĩ thấy ghê ghê, ăn thử một con thấy béo béo, thế là chén sạch, chẳng nghĩ gì khác. Sang ngày thứ 5 vết thương của tôi sưng tấy, rất đau. Tôi bị sốt liên tục, còn ít thuốc lào đựng trong túi ly non hôm trước Phúc bạn tôi ở Tiểu đoàn 5 cho , tôi lấy lá mua ra nhai rồi trộn lẫn thuốc lào, đắp lên vết thương, bọn giòi say thuốc lào lăn ra chết, vết thương của tôi từ hôm đó cũng đỡ dần. Những ngày tiếp theo ngày nào cũng vậy, ban ngày tôi nằm im, ban đêm tôi lại bò ra ngoài để kiếm đồ ăn và tìm đường về Việt Nam. Có đêm tôi bò ra ngoài tới 3 lần, nhưng lần nào cũng phải quay lại vì nghe thấy tiếng bọn Miên ho, đặc biệt là mùi thuốc D bọn chúng hút, cách vài chục m vẫn ngửi thấy mùi. Tôi nhớ đêm thứ 11 hay 12 gì đó, tôi bò ra ngoài được hơn 100m thì phát hiện chiếc hầm kèo mà tôi và anh em trong đơn vị đã chốt hôm trước. Tôi chui xuống hầm xem có kiếm được vũ khí hay xem có anh em nào của ta còn ở đây không. Vừa chui vào hầm thì nghe tiếng bọn Miên xì xào từ phía sau đi tới. Phen này chắc chết! Tôi nghĩ vậy rồi lấy 2 tay bám vào cây gỗ nóc hầm kèo, đu treo người lên sát nóc hầm. May mắn làm sao bọn địch đi tới hầm tôi đang nấp, một tên ngó vào cửa hầm nhưng vì tôi đu người lên cao, nhìn không thấy gì chúng bỏ đi . Thật hú vía .

Sẩm tối ngày thứ 13 , vẫn đang mê man do đói và sốt , tự nhiên tôi thấy lạnh khắp người , thì ra một cơn giông lớn kèm theo mưa , nước tràn vào chỗ nằm làm tôi tỉnh lại . Quan sát , tôi thấy trời mưa rất to , gió thổi rất mạnh . Tôi nghĩ có lẽ đây là cơ hội cho mình trở về Việt Nam . Mặc dù người lúc này vẫn rất mệt nhưng sự nung nấu trở về Việt Nam bao ngày nay như tiếp cho tôi thêm sức mạnh . Tôi quyết định sẽ ra đi . Nhưng đi như thế nào đây ? vì xung quanh tôi lúc này chỗ nào cũng có địch . Khó khăn nữa với tôi lúc này là vẫn chưa xác định được chính xác lối về Việt Nam , khu vực tôi đang nấp địa hình bằng , cây cối xung quanh rất giống nhau nên rất khó phân biệt hướng , không cẩn thận lại đi về hướng địch thì rất nguy hiểm . Tuy vậy tôi vẫn quyết tâm , dù nguy hiểm cũng đi , còn nằm lại ở đây trước sau cũng chết , không chết vì đói , vì khát , vì vết thương thì cũng chết vì địch . Để có thêm sức tôi lấy mấy lá mua dự trữ ra ăn , quả Loọng thì hết từ mấy hôm trước rồi . Thấy gần chỗ tôi nằm có mùn đất con giun đùn lên , nghĩ ăn được tôi lấy tay bới rồi nhón một chút cho vào mồn ăn thử , khi đưa vào mồn nhai thấy sạn và đắng quá , nuốt không nổi đành nhè ra . Mấy cây mua gần chỗ tôi nằm còn ít lá tôi vẫn để dự trữ ăn dần , chưa dám hái hết giờ tôi bứng sạch đem theo . Đứng giữa trời mưa , sấm chớp ầm ầm tôi cầu khấn tổ tiên , bố mẹ , đồng đội phù hộ cho tôi bình an trở về Việt Nam . Lúc này trời mưa mỗi lúc một lớn , gió vẫn thổi mạnh . Những hạt mưa to quất vào mặt , vào vết thương đau điếng , tôi cắn chặt răng để không bật ra tiếng kêu . Nhưng có lẽ cũng nhờ trời mưa đã làm cho tôi khỏe ra sau bao ngày khát nước . Tôi căng mắt quan sát các vị trí của địch , lúc thì bò , lúc thì lom khom đi . Đêm đầu tháng không có trăng , trời rất tối nhưng nhờ vào ánh chớp của cơn mưa nên tôi nhìn thấy các vị trí chốt của chúng , có những chỗ tôi phải vòng tránh , nhưng có những chỗ không thể vòng tránh được , đành liều đi lom khom giữa 2 hầm chốt của địch , tôi cố bước những bước thật nhẹ để chúng không nghe thấy , thỉnh thoảng những ý nghĩ về bọn Miên sát hại bộ đội ta một cách man rợ lại le lói xuất hiện trong tôi làm tôi ghê ghê , bọn này hành xử như thời Trung Cổ , khi bắt được bộ đội ta chúng thường dùng búa hoặc rìu đập cho đến chết chứ không bắn . Hôm trước chốt ở đây , ngồi trong hầm tôi nghe rõ tiếng đồng đội kêu khi bị chúng sát hại , uất hận và đau xót làm sao mà không làm gì được vì bọn chúng quá đông . May quá đêm nay trời mưa to và về đêm nên chúng chui hết vào hầm chứ nếu hôm nay trời không mưa to thì không thể qua mắt bọn chúng được . Tầm 9 giờ đêm tôi ra tới khu vực cửa mở , tôi nhận ra cửa mở vì nơi này có một bụi cây và 2 cái hầm mà trung đội tôi chốt những ngày qua . Tựa người vào một gốc cây , tôi định lại hướng về Việt Nam . Đúng rồi lối mòn kia , chỗ có con hào ngang mà hôm trước tôi cùng đơn vị đã đi vào , cứ theo đường này sẽ về tới Việt Nam . Xác định được hướng về Việt Nam trong lòng tôi như trút được một gánh nặng , thế là chặng đường nguy hiểm nhất đã vượt được qua , nhưng khó khăn vẫn còn rất nhiều , cơ thể tôi lúc này quá mệt , chân tay rã rời do đói , do kiệt sức lâu ngày chẳng muốn bước thêm một bước nào nữa nhưng bản năng sống cũng như khát khao trở về lại thúc giục tôi phải vùng lên . Tôi tiếp tục đứng lên đi . Từ cửa mở này về tới biên giới Việt Nam hôm trước chúng tôi đi vào mất gần 2 giờ đồng hồ , khoảng 5km . Khu vực này là bãi trống và là khu vực giáp gianh giữa ta và địch nên có rất nhiều mìn của cả ta và địch gài . Vừa bò , tôi vừa thận trọng khua nhẹ 2 tay ra phía trước để phát hiện dây mìn vướng của địch , loại mìn này chỉ sơ ý chạm mạnh vào dây vướng là toi đời ngay , nên buộc tôi phải hết sức nhẹ nhàng , có những chỗ tôi phát hiện chúng gài cả lựu đạn , định gỡ kiếm một quả để phòng thân nhưng lựu đạn chúng gài thành từng chùm , sợ nguy hiểm tôi đành thôi . Đêm hôm đó trời mưa rả rích suốt đêm , do ngấm nước mưa lâu nên cơ thể tôi có lúc rét run . Nhiều lúc mệt quá cộng với sốt do vết thương ngấm nước mưa làm tôi lả đi không biết gì , tỉnh lại tôi lại động viên mình phải cố gắng , nếu không cố gắng , trời sáng khu vực này trống trải địch phát hiện thì cực kỳ nguy hiểm . Cứ thế suốt đêm lúc nào mệt quá thì bò , đỡ mệt thì đi . Tảng sáng tôi nhận ra đã về tới Ngầm tăng ( Ngầm tăng là một cái ngầm cách Xa Mát - Huyện Tân Biên chừng vài km , để cho xe tăng ta vượt qua , bộ đội ta đã lấy gỗ lát nên . Từ đó có tên là Ngầm tăng ) , khu vực này tôi biết cách biên giới ta không còn xa . Chính nơi này tôi cùng đơn vị tập kết ban đầu vào chiếm lĩnh trận địa . Khu vực này mới có mấy ngày mà giờ tang hoang quá , không biết có còn đơn vị nào của ta ở gần đây không ? Mệt quá tôi chui vào một chiếc hầm ven đường nghỉ . Vừa chui vào hầm thì thấy tiếng nhiều loạt đạn AK bắn về phía tôi . Chả lẽ địch phát hiện ra mình ? Tôi nằm im và đinh ninh hôm nay là ngày tận số của mình . Nằm trong hầm tôi vẫn chăm chú lắng nghe xem có động tĩnh gì tiếp theo không . 20 phút trôi qua không thấy gì , tôi thấy bớt lo một chút . Một lúc sau thấy trời sáng rõ . Tôi quyết định bò ra khỏi hầm , bò được một đoạn , thấy một mô đất tôi dừng lại quan sát , tôi nghe có tiếng người thì thào to nhỏ , nhưng do tôi bị hỏa lực địch bắn nổ gần , tai bị chảy nước nên nghe không rõ . Chẳng nhẽ bọn địch chốt ở đây ? Chừng 10 phút sau tôi nghe tiếng thì thào xa hơn và nghe có tiếng Việt Nam gọi : Anh Thường ơi ! Về chỉnh pháo đi , pháo nó bắn vào mình đấy ! rồi tiếng xoong , nồi va vào nhau và tiếng một người gọi : - Các A cho người xuống lấy cơm ! . Tôi cố nghiêng đầu rũ nước còn đọng trong tai để nghe cho rõ . 3, 4 lần tiếng gọi đó vẫn lặp đi , lặp lại nhưng lúc này tôi vẫn chưa xác định được quân mình hay là địch , vẫn phải đề phòng vì bọn lính Pôn Pốt thỉnh thoảng chúng vẫn nói tiếng Việt Nam , nhưng theo phán đoán của tôi thì tiếng gọi các A lấy cơm và câu : pháo nó bắn vào mình chắc là quân ta nhiều hơn . Tôi quyết định dời khỏi chỗ nấp , đi về phía có tiếng vừa gọi . Vừa đi được một đoạn thì đột nhiên thấy một chiến sỹ của ta dậy sớm đi vệ sinh , đi về phía tôi , người chiến sỹ đó rất hốt hoảng khi nhìn thấy tôi . Tưởng địch , chiến sỹ đó chạy quay lại chắc là để lấy vũ khí . Thấy vậy tôi vội kêu lên :⁃ Đồng chí ơi ! Tôi đây ! Tôi C9 , E24 đây ! �Nghe tiếng tôi kêu , người chiến sỹ đó quay người lại nhìn tôi , hỏi :⁃ E24 phải không ? ⁃ Đúng rồi ! Tôi E24 , đánh nhau ở Phờ Lon bị lạc ! �May quá chiến sỹ này sáng dậy đi vệ sinh không mang vũ khí chứ sáng hôm đó chiến sỹ này mang theo vũ khí chắc tôi cũng toi đời . Thấy tôi từ đất Miên trở về mọi người ùa cả đến hỏi thăm . Thì ra đây là khu vực chốt của đại đội 9 - Trung đoàn 66 . Thế là tôi đã được trở về với đất mẹ Việt Nam , được trở về với các đồng đội . Một niềm vui không sao tả xiết trào dâng trong tôi .
 
Hình ảnh: Cựu chiến binh Trần Văn Quý