CHUYỆN VỀ NHỮNG NẮM CƠM CHÁY CỦA CÁC CHIẾN SỸ TRÊN CHIẾC XE TĂNG 377 ANH HÙNG

CHUYỆN VỀ NHỮNG NẮM CƠM CHÁY

CỦA CÁC CHIẾN SỸ TRÊN CHIẾC XE TĂNG 377 ANH HÙNG

Nguyễn Đình Thi

Ở bảo tàng của binh chủng tăng - thiết giáp nằm trên đường Hoàng Quốc Việt - Hà Nội có một hiện vật mà mỗi lần nghe cô hướng dẫn viên giới thiệu là không ai có thể cầm lòng , rơi nước mắt . Đó là hiện vật những nắm cơm đã cháy thành than của các chiến sỹ trên chiếc xe tăng 377 trong trận chiến ngày 24/4/1972 , tại căn cứ Đắc Tô 2 - thuộc địa phận tỉnh Kon Tum .
Chuyện như sau : Trưa 24/4/1972 , sau khi cùng bộ binh Trung đoàn 66 đánh chiếm và làm chủ hoàn toàn căn cứ Sở chỉ huy Sư đoàn 22 của địch ở thị trấn Tân Cảnh , thì xe tăng 377 cùng xe tăng 354 và 369 nhận lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận Cánh Đông lên chi viện gấp cho cánh quân của Trung đoàn 1 - Sư đoàn 2 ở căn cứ Đắc Tô 2 ( căn cứ của Trung đoàn 47 - Sư 22 địch ) đang bị 10 xe tăng và một Trung đoàn bộ binh địch bao vây , dồn ép và có nguy cơ bị tiêu diệt . Nhận thấy tình hình hết sức cấp bách , tính mạng các chiến sỹ bộ binh Trung đoàn 1 đang bị đe dọa nên sau khi nhận lệnh Nguyễn Nhân Triển - trưởng xe 377 đã cho xe nổ máy đi ngay ,không chờ 2 xe 354 và 369 lúc này còn đang ở trong căn cứ 42 . Trên chặng đường 8 km vừa đi vừa đánh trả máy bay địch , tầm 11 giờ 30 , xe tăng 377 tới Đắc Tô 2 , tại Đắc Tô 2 bộ binh ta đang bị bộ binh và xe tăng địch dồn ép . Bất chấp nguy hiểm , trưởng xe Nguyễn Nhân Triển cho xe lao vào tấn công . Thấy xe tăng ta xuất hiện bộ binh địch dãn ra nhưng 10 xe tăng M48 và M41 của địch lại bu vào xe tăng 377 tấn công , máy bay địch ở trên không cũng nhằm xe 377 không kích . Cuộc chiến lúc này vô cùng bất lợi cho xe tăng 377 nhưng không một thành viên nào trong xe nao núng . Xe 377 liên tục cơ động , lợi dụng các vật cản , góc khuất kể cả lợi dụng những xe tăng địch đang cháy đánh trả địch . Bằng sự mưu trí và lòng quả cảm trong vòng chưa đầy 30 phút , xe tăng 377 đã bắn cháy 7 xe tăng địch , có chiếc chỉ cách xe tăng 377 khoảng 10m . 2 xe tăng đi sau là xe 354 và 369 khi nhận được thông tin xe 377 đang bị xe tăng địch bao vây đã tăng hết tốc lực lên chi viện nhưng vẫn không kịp . Khi tới đầu căn cứ Đắc Tô2 các anh không còn liên lạc được với xe 377 nữa . Xe 377 đã bị địch bắn cháy . Tất cả 4 thành viên trên xe 377 gồm Trưởng xe Nguyễn Nhân Triển , lái xe Trần Cao Vịnh , pháo thủ Nguyễn Đắc Lượng , pháo thủ Hoàng Văn Ái đều hy sinh . Đây là một trận đánh vô cùng dũng cảm , một trận đánh đạt kỷ lục cao nhất về diệt xe tăng địch của binh chủng tăng - thiết giáp Việt Nam : Một xe tăng ta chọi với 10 xe tăng địch và bắn cháy 7 . Khi làm công tác tử sỹ ở xe tăng 377 , các chiến sỹ ta phát hiện những nắm cơm mà các chiến sỹ xe tăng 377 nhận tối hôm trước để dùng cho ngày hôm sau 24/4 , nhưng do mải chiến đấu chưa ai kịp ăn , giờ tất cả đã cháy thành than cùng với 4 chiến sỹ trên xe tăng 377 . Những ai đã từng chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên đều biết những năm đó bộ đội Tây Nguyên vô cùng đói khổ , đói triền miên , một ngày tiêu chuẩn ăn của mỗi người chỉ có 3 , 4 lạng gạo . Các chiến sỹ xe tăng 377 cũng vậy . Vậy mà hôm đó có một nắm cơm nhỏ các anh cũng chưa kịp ăn để rồi ra đi mãi mãi . Thật xót xa nhưng cũng thật cảm phục các anh , những chiến sỹ anh hùng của binh chủng tăng - thiết giáp Việt Nam . Nhờ có sự chi viện kịp thời của xe tăng 377 , 354 và 369 , bộ binh Trung đoàn 1 đã tiến hành phản kích , đến 15 giờ ngày 24/4/1972 Trung đoàn 1 đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Đắc Tô 2 . Sau chiến công này tập thể các chiến sỹ trên xe tăng 377 đã được Chủ tịch nước tuyên dương ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN .


    

CHẶN ĐÁNH LỮ DÙ 3 TRÊN ĐÈO MADRAC

BÀI VIẾT HƯỞNG ỨNG ĐỢT PHÁT ĐỘNG VIẾT VỀ NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC TRONG NHỮNG NĂM THÁNG SỐNG, CHIẾN ĐẤU TẠI QUÂN ĐOÀN 3 NHÂN KỶ NIỆM 45 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐOÀN 3 ( 26/3/1975 - 26/3/2020 )

CHẶN ĐÁNH LỮ DÙ 3 TRÊN ĐÈO MADRAC
Hoàng Kim Hậu - E66

Ngày 23 -03 -1975 quận lỵ Khánh Dương đã được giải phóng, các đơn vị bạn đang chuyển quân rầm rập, xe tăng, xe thiết giáp lấp ló trong cánh rừng thưa, chúng tôi lục tục bám theo đội hình.
Ðến một ngã tư, thấy anh Nguyễn Thanh Xuân (Yên Khánh-Ninh Bình) phó ban hậu cần tiểu đoàn bảo:
-Tiểu đoàn 8 vào đây lấy thêm gạo rồi tiếp tục hành quân!
Tôi theo đoàn người rẽ vào quận lỵ. C5 và C6 đã có nhiều chiến sỹ lấy xong gạo đang quay ra. Tôi cho gạo vào bao rồi vội vàng bám theo họ. Ði dọc đường 21 khoảng một tiếng nữa thì thấy con đường bị cây lấp lại, ở đó có biển chữ viết vội vàng: Ðường này có địch. Không đi!
C6 và C5 được lệnh đi sang bên phải đường hướng lên đèo Ma ĐRắc, C7 và C8 cùng cơ quan tiểu đoàn bộ rẽ sang bên trái, dừng lại ăn cơm trưa.
Pháo binh và hoả tiễn của ta bắt đầu bắn lên đỉnh đèo Ma ÐRắc (Ðèo Phượng Hoàng). Tiếng hút gió của chùm đạn bay đi và một loạt tiếng nổ dây truyền vọng vào núi. Bao nhiêu năm chiến đấu trên mặt trận Tây Nguyên, hôm nay chúng tôi hành quân đuổi địch dưới tầm đại bác và tên lửa chi viện, thấy cũng phấn chấn và an tâm.
Khoảng hơn 13 giờ chiều, chúng tôi đi vào một tràn cỏ xanh mướt, đồi núi nhấp nhô trông như thảo nguyên vậy. Phía trên kia là đèo Phượng Hoàng, nghe đâu địch đã ném lữ dù 3- Con át chủ bài của Thiệu lên chốt chặn. Tiểu đoàn 8 chia làm hai gọng kìm theo ven đười 21 từ chân đèo tiến lên.
Ðoàn người như con rắn khổng lồ trườn mình trên thảm cỏ tiến về phía chân đèo. Chưa bao giờ chúng tôi dám vượt qua bãi tráng vào ban ngày như thế này cả, ngoại trừ hôm nay. Quy luật của chiến tranh thường hay lập lại: Sự chủ quan khinh địch thì bao giờ cũng phải trả giá. Ðội hình đi đầu của C 7 do anh Nguyễn BáTẩm (Quỳnh Hoàng-Quỳnh Phụ-Thái Bình) đại đội trưởng, anh Doỏng (Cao Bằng) đại phó vừa vượt qua bãi lầy tiến cách chân đèo khoảng vài trăm mét thì nghe một loạt tiếng nổ từ trên đỉnh đèo vọng tới. Ðã có kinh nghiệm khi thấy tiếng nổ đầu nòng của pháo địch, đoàn người chững lại, tai căng ra. Chỉ vài giây sau, tiếng rú của quả đạn bay đến, khói bao trùm đội hình đi đầu. Không ai bảo ai, tất cả tản ra, nằm bẹp cạnh các mô đá và ven bãi lầy, phơi lưng hứng pháo bầy của địch.
Tôi và hai chiến sỹ khác nằm dựa vào một tảng đá nhô lên khỏi mặt cỏ, rút xẻng đào hầm. Khi bị pháo thúc vào đít, họ đào hầm nhanh lắm, không biết mệt, không kịp thở, không ai phải nhắc nhở ai. Mạnh ai người ấy đào, cố khoét cho mình lấy một cái hố để giữ gáo. Xung quanh khói lửa mù mịt, loạt đạn trước chưa tan khói thì loạt sau lại trùm lên đội hình, hai tai ù đặc.
Một toán lính dù bò xuống chân đèo, dùng cối 60 và súng phóng lựu bắn vào quân ta, anh Doỏng bị một quả M79 vào cạnh sườn, Dương Bá Hậu (Hồng Kỳ-Đa Phúc-Vĩnh Phúc) bị mảnh đạn cắt ngang ống chân. Anh Tẩm bảo: Pháo bắn ác liệt quá, tôi bò lại băng bó cho thằng Hậu, một lúc sau đã thấy nó chết rồi. Tất cả bộ đội nằm dán xuống mặt đất mặc cho pháo bầy địch chà đi sát lại.
Cứ đội pháo như thế cho đến sẩm tối, toán lính dù cũng rút lên chân đèo. Rất may là các mặt trận đang đồng loạt nổ súng nên máy bay địch không đủ sức chi viện. Nếu chúng vác bom đến thì chắc rằng chúng tôi đã thành tương tất cả.
Phía mũi tiến công của đại đội 5 và đại đội 6 bám sát ven đường 21 tiến lên chân đèo. Ðại đội 5 do đại đội trưởng Trần Ðới và chính trị viên Lê Hải Triều đẫn đầu đội hình hành quân dưới sự chi viện của hoả tiễn và pháo binh. Ðến giáp chân đèo, địch phát hiện lực lượng của ta, gọi pháo bắn cấp tập. Chúng cho xe bọc thép M113 ra chặn đội hình và gọi máy bay oanh kích dữ dội. Lập tức, hoả tiễn và pháo binh của ta bắn trả lên đỉnh đèo, do hiệp đồng giữa pháo binh và bộ binh chưa chặt nên loạt đạn thứ tư, hai quả đạn 155 ly hụt tầm rơi trúng vào giữa đội hình đại đội 5 làm 19 cán bộ vàchiến sỹ hy sinh, bị thương hơn 20 người, gây tổn thất nghiêm trọng đơn vị này.
Trời tối sẫm, có lệnh truyền xuống: C7 tổ chức lên lấy thương binh ngay!
Không biết thương vong có nhiều không. Tôi xách túi cứu thương bò lên đầu đội hình. Qua một bãi lầy hẹp, lên dông đồi cỏ phẳng lỳ xung quanh loang lổ hố pháo. Có mấy thương binh đồng đội băng cho đang được dìu ra. Trước mặt tôi cảnh tượng thật thê thảm: 8 liệt sỹ, có 1 thông tin 2w còn lại đại đội tôi 7 người. Tất cả đã được tập kết về một chỗ, ai nằm tư thế nào thì bây giờ vẫn như vậy, cứng ngắc, cong keo.
Cứ hai người khiêng một liệt sỹ, cố gắng mang ra càng nhanh càng tốt. Lý Sài Quẩy (Sa Pa-Lào Cai) một mình vác anh Doỏng bị quả phóng lựu vào bụng, ruột lòng thòng chảy xuống hết vạt áo của Quẩy. Có hai người khiêng Dương Bá Hậu (Hồng Kỳ-Đa Phúc-Vĩnh Phúc) đã cứng như khúc gỗ, cái chân còn dính tý thịt đong đưa. Cao Bá Hợi (Ngũ Kiên-Vĩnh Tường-Vĩnh Phúc) bị mảnh pháo xuyên qua cắt đôi chiếc thắt lưng da trung quốc. Lê Văn Tân (Phú Thịnh-Vĩnh Tường-Vĩnh Phúc) cùng mấy liệt sỹ ngổn ngang chồng chất lên nhau. Không còn thời gian xem tên từng người, tôi và một chiến sỹ nữa khiêng liệt sỹ thông tin.
Buộc võng vội vàng, chúng tôi lục tục chạy xuống bãi lầy, đường trơn dép tọt lên tới bắp chân. Dây võng tuột làm rơi liệt sỹ xuống bùn, đặt cáng xuống, khênh liệt sỹ vào võng và cứ thế nước chảy tong tỏng cho đến vị trí tập kết.
Anh Vũ Hồng Ðiệp (Hà nội) - Chính trị viên phó đại đội- ở lại cùng đơn vị vận tải làm công tác tử sỹ. Chúng tôi tiếp tục lên đường.
Cắt sang bên trái tiến về phía đỉnh núi đen sẫm. Bên phải, bên trái đâu đâu cũng nghe thấy tiếng súng địch nổ. Quá nửa đêm thì đến chân đèo. Dốc dựng đứng, chúng tôi bám theo nhau bò ngược dốc. Xuyên qua một rừng cây thưa giống như một nương sơn. Ðến đỉnh núi, có những tảng đá xếp chồng lên nhau tạo thành nhiều hang hốc. Lệnh cho C7 chốt lại trong hang, các đơn vị trong tiểu đoàn tiến lên phía trước. Tôi mò tìm chỗ giải ni lông, dựa vào một tảng đá và ngủ thiếp đi.
Ngày 29-03-1975
Lệnh ra cắt đường 21. Bỏ ba lô lại vị trí tập kết, mỗi người mang đủ cơ số đạn bám nhau xuôi theo lòng khe. Sẩm tối ra một bãi lầy, cỏ hoang mọc gần lút đầu người, bùn thụt quá đầu gối. Dò dẫm theo vết bùn tôi đặt chân lên một bãi đất có vài cây chuối siêu vẹo. Anh Nguyễn Văn Mão (Tả Thanh Oai-Thanh Trì-Hà Nội) chính trị viên đại đội đứng chờ ở đấy bảo:
- Đường cách đây 50 mét! Phía trước là điểm chốt trung đội 2! Đại đội bộ chốt cùng trung đội 1, phía bên kia bài lầy, đi theo đường dây điện thoại ấy!
Lại bì bọp cắt qua bãi lầy. Đặt chân lên một sườn đồi thoai thoải toàn cỏ gianh. Con đường 21 nằm ngay trước mặt, gần lắm, chỉ khoảng 20 mét thôi. Ban đêm mặt nhựa bắt ánh trăng thật thơ mộng, giá như không có chiến tranh chúng tôi nằm ngay trên con lộ cho đỡ nhớ.
Anh Nguyễn Bá Tẩm (Quỳnh Hoàng-Quỳnh Phụ-Thái Bình) đại đội trưởng chỉ vị trí cho chúng tôi đào hầm. Lại húc hầm, cơn đói bất chợt ào đến quặn ruột. Không biết căn hầm này có số seri thứ bao nhiêu rồi. nếu như cứ gộp những căn hầm của bộ đội lại có lẽ đã thành con sông chảy từ Hà Nội vào đến Sài Gòn rồi. Khiếp thật.
Phần thức đêm, phần đói, người như muốn lả đi. Nghe đâu đại đội đã vét đến bao gạo cuối cùng rồi. Kiểu này đến nhịn đói mà đánh nhau đây. Anh Mão đi kiểm tra các trung đội về lôi gói lương khô ra. Bốn người không là bao thế mà thấy khỏe hơn bao lần.
Quá nửa đêm hầm đào cũng tạm đứng được bốn người. Tôi đang lom khom xúc đất, anh Tẩm ấn nhẹ vai tôi xuống. Một trung đội lính dù hành quân qua, chúng đi theo đội hình hàng một, rất đều, tiếng giầy khua lẹp kẹp trên mặt nhựa. Tôi cúi sát mép hầm đếm được 24 đứa. Không biết có đánh bọn này hay không!?
Trung đội địch đi ngang qua chúng tôi kể cả trung đội 2 nằm sát mép đường. Không một tiếng súng. Màn đêm lại trở về với bản năng của nó.
Ảnh minh họa
Bỗng có tiếng động cơ vọng lại, anh Tẩm hô trung đội 1 chuẩn bị hỏa lực, tôi kéo khẩu AK lại gần, tim nhảy trong lồng ngực: Đánh nhau thật rồi. Sườn đồi bên tráibỗng lù lù hiện ra một chiếc ô tô, sao chỉ có một chiếc! Tôi cúi xuống áp tai vào vách hầm xem còn chiếc nào nữa không. Xe vừa chạy đến chốt trung đội 2 thì ùng oàng, một luồng lửa màu da cam chùm lên phần đuôi chiếc xe, hàng loạt AK nhì nhằng xiên vào những bóng đen đang kêu la chấp chới. Chiếc xe như chững lại vài giây sau đó nó lại vù ga cõng theo cả khối lửa trên lưng. Trên tà luy đường phía trung đội 3 khóa đuôi, một vệt xanh bíếc của quả đạn B41 bắn vượt tầm nổ bên kia đường. Chiếc xe chồm lên chạy thêm một đoạn nữa rồi dừng lại, một vầng lửa bùng lên kèm theo những tiếng nổ lép bép.
Tiểu đoàn điện ra yêu cầu báo cáo lại trận đánh chặn xe địch. Kiểm tra cụ thể xem xe chở những gì, địch chuyển quân hay rút quân để cấp trên biết ý đồ của chúng.
Khoảng 2 giờ sáng ngày 30-03-1975. Phía sau dông đồi bên trái chúng tôi, hàng loạt tiếng nổ đan vào nhau, đạn lửa bay tứ tung cơ hồ như hàng trăm họng súng cùngbắn một lúc. Anh Tẩm bảo hình như thằng K7 và K9 bắt đầu công kích. Tôi chưa kip định thần thì ầm ầm từng đoàn xe địch từ sườn đồi nhô ra, vừa đi vừa bắn, đạn bay hoa cả mắt, tiếng xích xe rung chuyển mặt đường. Anh Tẩm hô:
- Xe tăng địch đấy! Trung đội 1 đâu! Bắn nhanh không nó chạy hết!
Một vầng lửa màu da cam bùng lên, hơi nổ phụt về phía sau kèm theo một tiếng nổ inh tai. Lửa chùm lên toàn bộ chiếc xe thiết giáp của địch. Cháy rồi! Trung đội 1 đánh tốt lắm! Bắn đi! Lửa cháy dữ dội. Đoàn xe từ phía sau chạy chen lên, B40, B41 chớp lửa, AK quây lấy những con voi sắt ấy, tôi nhằm vào những bóng đen lừng lững ấy màbóp cò. Anh Mão bảo:
- Khéo bắn phải thằng trung đội 1 phía trước! Hỏa lực đâu! Bắn đi!
Ảnh minh họa
Lại một chiếc nữa bị Nguyễn Văn Phán (Hà Tây) bắn cháy ngay trước chốt trung đội 2, lửa bùng lên soi rõ như ban ngày. Trong ánh sáng chói lòa của đạn lửa, nhữngthi thể quần áo rằn ri nằm ngổn ngang trên mặt đường. Chiếc thứ 3 hoảng loạn đâm vào tà luy máy vẫn nổ xình xình. Lũ ngụy lóp ngóp chui ra nhảy xuống đường. Tôi nhằm vào những bóng loang lổ ấy mà nhả đạn. Anh Mão kéo áo tôi:
-Thằng trung đội 2 ở đấy! Khéo bắn nhầm phải nó!
Hai chiếc xe cháy sáng cả quãng đường, đạn 12ly7 nổ lục bục trong xe, đạn DKZ thỉnh thoảng lại tung từng quầng lửa sáng trắng, tàn bay tứ tung. Anh Tẩm báo cáo vắn tắt trận chặn đánh đoàn xe địch. Tiểu đoàn ra lệnh: Đại đội 7 tổ chức bắt sống xe tăng!
Tôi chột dạ, bắt sống để làm gì!? Ai biết lái mà bắt sống! lũ ngụy còn nằm đầy ven đường, bộ đội ra bây giờ thế nào cũng thương vong.
Anh Tẩm và Anh Mão bò ra ven bãi lầy, lấy tay làm loa lệnh cho trung đội 2 ra bắt sống xe tăng. Thương binh hay tử sỹ rồi cũng đến tay mình cả, không nên vì thành tích mà đưa bộ đội vào chỗ chết như vậy. Tôi cáu tiết bảo Lê Văn Ngân (Trung Nguyên-Yên lạc-Vĩnh Phúc) làm liên lạc đại đội:
-Mày ra bảo anh Tẩm: Lệnh tiểu đoàn cho tiêu diệt chiếc xe ấy đi, thôi không bắt sống nữa!
Cùng lúc ấy, từ bên kia bãi lầy gọi tôi sang cấp cứu thương binh. Tức thật, nói có sai đâu cơ chứ!
Tôi bò ra ven bãi lầy, anh Tẩm đang ra lệnh cho trung đội 2 bắn cháy xe tăng địch. Trong ánh lửa bập bùng, Phán cùng hai chiến sỹ nữa vác B41 bò ra ven đường. Một vệt xanh biếc phụt ra kèm theo tiếng nổ đinh tai là một vầng lửa chùm lên toàn bộ xe địch. Ba chiếc xe M113 cháy ngùn ngụt, tàn lửa bùng lên bay tứ tung khi một quả đạn trong xe phát nổ. Cả quãng đường khoảng 300 mét sáng như trên sân khấu.
Tôi xách súng lội qua bãi lầy. Thấy bộ đội đứng lố nhố ven đường, tôi hỏi:
-Thương binh ở đâu!? Ai bị thương đấy!
-Ở ngoài đường ấy! Anh Lý ra bắt sống xe tăng thì bị địch bắn!
Tôi biết ra mặt đường bây giờ không khác gì làm tấm bia sống cho lũ ngụy nằm mai phục ven đường. Nhưng bỏ thương binh nằm một mình trên mặt nhựa xung quanh đạn lửa như vậy cũng không thể được. Tôi bảo:
-Thế thì anh nào cùng tôi ra lấy thương binh!
Tôi và Phạm Xuân Bích (Yên Chính - Ý Yên - Nam Hà) tiểu đội trưởng cối 60 ly cùng Phán leo ra đường. Lửa cháy sáng rực, hơi nóng tỏa ra rát mặt. Phạm Ngọc Lý (Đào Giã - Thanh Ba - Phú Thọ) trung đội trưởng nằm cách chiếc xe định bắt sống khoảng 3 mét đang cố chống tay ngồi dậy, lật phải rồi lật bên trái mà không được. Tôi cúi xuống ôm ngang người Lý, Bích và Phán ôm phía chân vội vã chạy quay trở lại, nhảy xuống ven đường mới biết mình thoát chết.
Đặt Lý ngồi dựa vào vách hầm, tôi thấy một thằng lính dù nằm còng keo bên bãi cỏ. Hỏi ra mới biết tên ngụy này từ trên xe nhảy xuống và bị trung đội 2 bắt sống. Thấy chúng tôi túm vào với thương binh, tên ngụy thừa cơ bỏ chạy, sẵn khẩu AK trên tay, tôi lia theo cái bóng đen loang lổ ấy, chỉ thấy hắn hự lên và cắm đầu xuống bãi lầy. Chết thật, bắt tù binh mà không ai trói buộc gì cả.
Gần sáng, sương xuống dày đặc, ngoài đường những chiếc xe chỉ còn những tàn lửa lập lòe. Bỗng nghe như có hàng trăm bước chân rê trên mặt cỏ, gần lắm. Anh Tẩm quát ai! Có tiếng súng va vào nhau. Địch rồi, anh lia một loạt AK lên trên đỉnh đồi. Tôi và anh Mão ném hai quả US về phía địch, tiếng chân người chạy ngược dốc.Trung đội 1 đâu! Cho bộ đội vận động đánh địch ngoài công sự!
Hàng loạt AK bắn lên dông đồi, súng phóng lựu chớp lửa, tiếng chân chạy rào rào như đàn voi vượt dốc, Anh Mão gọi cho khẩu cối 82 ly của tiểu đoàn chốt bên kia bãi lầy nhưng chẳng hiểu vì lý do gì mà không thấy bắn quả nào cả.
Sáng ra tôi và anh Mão xách súng đi lên sườn đồi. Sương muối đặc quánh, cách chúng tôi chưa đầy 6 mét. Bãi cỏ gianh như bị hàng đàn thú cán dẹp xuống mặt đất, hướng chạy lên đỉnh đồi. Có mấy xác chết nằm lăn lóc, máu tươi còn vương trên mặt cỏ. Một xác lính dù ăn trọn một quả M79 vào mặt, xương hàm toác ra. Phía bên kiakhe suối, ba lô súng địch vứt ngổn ngang, chồng đống lên nhau kể cả đài 15 w. Tôi và anh Mão thu ba lô và súng địch rồi quay về hầm.
Sáng rõ, bỗng có tiếng người từ phía sau:
-Em xin đầu hàng các anh ơi! Em xin đầu hàng!
Theo phản xạ chúng tôi nhảy ào xuống hầm. Anh Tẩm quát:
-Ai! Đi ra! Giơ tay lên!
-Dạ! Em bị gãy giò!
Có bóng đen lệt sệt từ bãi cỏ gianh sau hầm, gần lắm. anh Tẩm bảo:
-Tôi cảnh giới cho! Ông Hậu lên băng cho nó đi!
Tôi xách súng lên khỏi hầm, Tên ngụy cởi trần, giơ cao hai tay lên đỉnh đầu, thớ thịt hai bên má cứ giần giật, run lên vừa rét vừa sợ.
Qua lời khai của tên lính ngụy mới biết tiểu đoàn 5 dù tháo chạy lạc vào điểm chốt của chúng tôi. Tiểu đoàn lệnh cho C5 hành quân truy kích địch theo đường 21. Trung đội trưởng do Đỗ Văn Hoan (Sơn Dương-Lâm Thao-Phú Thọ) dẫn đầu. Khi đi cách chốt trung đội 2 khoảng 50 mét, đến chiếc xe DMC bị chúng tôi bắn cháy hôm trước thì bất ngờ hai chiếc A37 ào đến ném bom. Hoan nhảy xuống ven đường cạnh một trận địa pháo của địch và dính mìn râu tôm, Hoan cùng hai chiến sỹ tử nạn.
Nghe tin trung đội vận tải vừa đưa liệt sỹ về bên kia bãi lầy, tôi chạy sang. Không dám chứng kiến những hòn đất phủ lên thân hình thằng bạn cùng quê, cùng nhập ngũ một ngày với mình, tôi đi về nơi Hoan chết. Chiếc xe DMC chỉ còn trơ bộ khung sắt thảm hại, xung quanh những thùng thịt hộp cháy nổ tung tóe. Có mấy xác ngụy nằm trên thùng xe bị lửa thiêu trụi phơi bộ xương sườn vừa khét, vừa khẳn. Bên phảiđường là một trận địa pháo của địch bỏ lại. Hai khẩu pháo 105 ly chồm hỗm còn tươi nước sơn. Ven đường, một sợi thép gai căng ngang vẫn còn chiếc bìa các tông vẽ hình đầu lâu người, bên dưới là hàng chữ: CÓ MÌN! Hoan chết ở đây.
Tôi chán nản quay về. Nhớ lại trưa ngày 23 tháng 3 năm 1975. Đại đội 7 và đại đội 5 chia làm hai hướng theo ven đường 21 tiến lên chân đèo MaĐ’rắc. Đội hình nằm trong tầm pháo bầy của địch, đại đội 5 hy sinh 19 cán bộ chiến sỹ, đại đội tôi hy sinh 8 người trong đó có một thông tin 2W và đại đội phó Dỏong (Cao Bằng). Nghĩ đến lúcmình ôm đầu trên bãi cỏ chờ chết, nghĩ đến Lý, đến Hoan. Nhìn thân hình đồng đội bị pháo địch trà đi, sát lại, những cơ thể không còn nguyên vẹn, cứng ngắc, cong queo mà uất lên đến tận cổ. Tại sao tôi lại phải cứu chữa, băng bó cho tên tù binh này nhỉ!? Tôi tức tốc quay về, đi qua xác ba chiếc xe thiết giáp bị cháy đen. Nguyễn Xuân Thanh (Đại Phạm - Hạ Hòa - Phú Thọ) trung đội trưởng vừa bắn chết 5 tên tàn binh chui rúc ven bãi lầy. Tôi nghĩ bụng: Mình về thịt nốt thằng tù binh này đi!
May quá đại đội trưởng và chính trị viên không ai ở nhà, Ngân đang đứng dưới hầm gác tù binh, tôi lặng lẽ xách khẩu AK lên khỏi hầm, mở khóa an toàn đi về phía tên lính ngụy. Có lẽ nó đã chứng kiến toàn bộ cử chỉ và thái độ lạnh lùng của tôi. Thân hình nó trùng xuống, mồm há hốc, mắt nhìn tôi và chuẩn bị đón nhận cái chết. Nhìn vào mắt tên tù binh, bất chợt tôi nhận ra trước mặt mình là một con người, không phảiloài thú dữ thế mà tại sao chúng nó ác ôn như vậy!? Đã có trận chúng tôi bị địch phục kích, một đồng đội bị thương, chúng nó còn chặt đầu mang đi đâu mất. Mắt người biết rằng mình chuẩn bị chết, nó có một luồng sáng, một cái gì đó kỳ lạ lắm. Tôi thở dàichợt hiểu ra rằng: Bóng đêm dễ đồng lõa với tội ác và vì sao mà người ta phải bịt mắt trước khi thi hành án tử hình.
Chiều 30-03-1975 anh Tẩm và anh Mão quyết định tha chết cho tên lính dù này. Nhìn nó cất tờ giấy phóng thích như cất lá bùa hộ mệnh, vội vàng lê xuống chân đồi, bóng nó siêu siêu giống như con sâu đo lết từng bước trên đường 21 dẫn đến một bản nhỏ với mái tôn sáng trắng.
.
Đêm chúng tôi để lại một trung đội chốt đường, hai trung đội hộ tống 6 chiếc xe K63 của ta đi về phía đông đèo. Những xác chết đã được kéo sang ven đường cho xe ta chạy. Phía trước tiếng súng vẫn vọng về ì ầm.
Ngày 31-03-1975 trung đoàn 24 và trung đoàn 28 sư đoàn 10 tiến công tiểu đoàn 2, tiểu đoàn 6 nhảy dù. Bao vây tiêu diệt lữ bộ lữ dù 3, tiến đánh căn cứ Lam Sơn vàtrung tâm huấn luyện Dục Mỹ.
Tôi đã từng giáp chiến rất nhiều với quân cộng hòa, bảo an, biệt động…hôm nay đối mặt với lính dù ngụy rõ ràng lực lượng này lì lợm và thiện chiến hơn rất nhiều.Trên con đèo hiểm trở dài 15 KM địch chiếm ưu thế về địa hình và hỏa lực, ta không có cách đánh hợp lý là khó tránh khỏi tổn thất. Chúng tôi đã nhịn đói, luồn sâu, biết bao nhiêu hy sinh vất vả để bao vây chia cắt địch theo đúng ý đồ của bộ chỉ huy chiến dịch. Dàn địch mỏng ra để tiêu diệt. Khúc đầu khúc giữa và khúc đuôi cùng oằn lưng mà ăn đòn. Nghĩ lại mới thấy bộ đội ta thông minh mà anh hùng thật.
Thế là chỉ sau 3 ngày đêm chiến đấu liên tục, Sư đoàn 10 đã loại khỏi vòng chiến đấu lữ dù 3, tiêu diệt và bắt sống hoàn toàn 1 chi đoàn xe thiết giáp, thu 24 khẩu pháo 105 ly và 155 ly, 84 xe quân sự, toàn bộ vũ khí đạn dược và các trang bị khác của lữ đoàn này, đập tan lá chắn phía tây Ninh Hòa, mở thông đường xuống vùng đồng bằng ven biển. “Lịch sử sư đoàn 10 )
Ngày 02-04-1975 thừa thắng sốc tới, chúng tôi tiến xuống Ninh Hòa, giải phóng Nha Trang và quân cảng Cam Ranh. Chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

    

ĐỒNG BÀO VÀ BỘ ĐỘI CÙNG ĐÁNH GIẶC

BÀI VIẾT HƯỞNG ỨNG ĐỢT PHÁT ĐỘNG VIẾT VỀ NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC TRONG NHỮNG NĂM THÁNG SỐNG , CHIẾN ĐẤU TẠI QUÂN ĐOÀN 3 . NHÂN KỶ NIỆM 45 NĂM , NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐOÀN 3 ( 26/3/1975 - 26/3/2020 )
Trong những năm chiến tranh ác liệt ở chiến trường Tây Nguyên, mặc dù đói, rét nhưng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn sắt son một lòng đi theo cách mạng, nhịn đói để góp gạo nuôi bộ đội. Hình ảnh những ông bố, những bà mẹ rồi những em bé còm nhom đóng khố, gùi đạn, gạo ra mặt trận cho bộ đội có lẽ là những hình ảnh cảm động không thể quên với bất kỳ người Lính Tây Nguyên nào. Để nhớ tới đồng bào các dân tộc Tây Nguyên những năm đánh Mỹ, trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc bài ĐỒNG BÀO VÀ BỘ ĐỘI CÙNG ĐÁNH GIẶC của bạn Nguyễn Xuân Thư - Nguyên cán bộ Phòng cán bộ Mặt trận Tây Nguyên .
ĐỒNG BÀO VÀ BỘ ĐỘI CÙNG ĐÁNH GIẶC

Nguyễn Xuân Thư - Phòng cán bộ Mặt trận Tây Nguyên

Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, khối chủ lực Tây Nguyên có hậu cứ cả 3 tinh Kom Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và chiến đấu chủ yếu trên địa bàn 3 tỉnh. Hậu cứ cơ quan lãnh đạo, chỉ huy Bộ Tư lệnh Mặt trận ở sâu trong rừng giáp biên giới Lào, Campuchia. Lãnh đạo, chính quyền, đoàn thể các Tỉnh, huyện cùng sơ tán sâu trong rừng. Nhiều buôn làng của đồng bào cũng phải rời bỏ sa tán vào rừng lập nơi ở mới. Tuy nhiên, lãnh đạo, chỉ huy, các cơ quan Mặt Trận vẫn giành thời gian thích đáng để đến thăm làm việc thống nhất với lãnh đạo, chính quyền địa phương cả 3 tỉnh. Các đơn vị xuống cấp huyện xã vừa làm việc vừa làm công tác dân vận với chính quyền và nhân dân trên địa bàn. Trên mười năm khối chủ ỉực Tây Nguyên - B3 luôn được Đảng bộ, chính quyền địa phương Tây Nguyên thống nhất cao với những nội dung kế hoạch lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu, xây dựng, lao động sản xuất: Cùng chăm lo xây dựng cơ sở chính trị ở mọi nơi, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, đặc biệt là các chính sách lớn: dân tộc và tôn giáo. Cả bộ đội chủ lực và địa phương đều tham gia làm tốt công tác địch vận; tuyên truyền vận động các gia đình, sỹ quan binh lính Nguỵ quay về với cách mạng... Chính quyền và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã có những kế hoạch toàn diện, lâu dài trên các lĩnh vực và luôn sẵn sàng chi viện ca sở vật chất, sức người với khả năng cao nhất cho bộ đội trong chiến đấu. Họ không tiếc sương máu, công sức, của cải vật chất, một lòng đi theo cách mạng, hướng về Bác Hồ kính yêu. Tình cảm cách mạng ấy đã trở thành tiềm thức trong mỗi con người đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Họ đã tin, đã yêu cán bộ, bộ đội tức yêu quý Đảng, làm theo lời cán bộ, bộ đội tức là làm theo mệnh lệnh của cách mạng, của Đảng. Thực tế được tiếp xúc với đồng bào, chiến đấu trên cả địa bàn 3 tỉnh Tây Nguyên, được đồng bào giúp đỡ cưu mang, càng hiểu sâu sắc trong gian khổ, ác liệt, đói nghèo, không làm cho người dân Tây Nguyên sờn lòng, nhụt trí. Họ yêu cái rừng, cái nương, cái núi bao nhiêu thì họ cũng yêu cách mạng, yêu bộ đội Bác Hồ bấy nhiêu. Có những cuộc họp bản của dân, như Bản Đắc Son gần ngã ba biên giới hay Bản Tung gần Đức Cơ bàn việc góp lương thực, góp dân công phục vụ bộ đội tải lương, tải đạn, xây dựng trận địa pháo...
Từ tâm can của đồng bào đã nói lên điều tâm huyết sắt đá: Đảng cần cái gì, nếu có đồng bào đóng góp hết. Những ngày sau đó cả bản ai cũng gùi thóc, gạo nộp vào kho cho cách mạng. Khi hỏi, ai cũng trả lời: Đồng bào đã quen chịu khổ rồi, ăn cái rau, ăn củ mì được. Nếu để bộ đội đói thì lấy sức đâu đánh giặc. Đồng bào và bộ đội cùng đánh quân Ngụy, cùng đánh Mỹ, đồng bào có ăn, bộ đội Bác Hồ không lo đói, hết gạo đã có sắn, hết sắn đã có rừng. Bộ đội cứ đánh thật nhiều địch, đánh thắng Mỹ giữ được cái rừng, có rừng là có gạo, có sắn, có rau, có đất, có rừng là có tất cả. Cái bụng của đồng bào Tây Nguyên đã ưng cái bụng của bộ đội rồi thi không lo gì hết. Dân bản ai cũng bảo: “Làm cách mạng bằng nhau”. Nhiều bản của đồng bào đã có riêng một nương, rẫy trồng đu đủ, chuối, bầu bí, trồng rau. Đồng bào bảo đó là “nương rẫy cách mạng”. Bộ đội đi chiến đấu, đi công tác qua cứ lấy mà ăn. Có đêm chúng tôi hành quân qua bản, tháy cả bản cùng giã gạo. Tiếng chày giã gạo bằng tay đều đều, nhịp nhàng, vừa giã gạo vừa hát: Trăng lên rồi đêm càng đẹp, cả bản mình mừng vui giã gạo nuôi quân, anh giải phóng đôi chân không mỏi, cả bản mình đôi tay cũng không mỏi, bộ đội diệt được nhiều thù, cối gạo càng trắng thơm, bản làng mình cùng bộ đội đánh giặc, đẹp lòng quân dân cả nước.
    

NGỌN ĐUỐC VƯƠNG TỬ HOÀNG, SỐNG MÃI VỚI NGƯỜI LÍNH SƯ 10

BÀI VIẾT HƯỞNG ỨNG ĐỢT PHÁT ĐỘNG VIẾT VỀ NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC TRONG NHỮNG NĂM THÁNG SỐNG , CHIẾN ĐẤU TẠI QUÂN ĐOÀN 3 . NHÂN KỶ NIỆM 45 NĂM , NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐOÀN 3 ( 26/3/1975 - 26/3/2020 )

NGỌN ĐUỐC VƯƠNG TỬ HOÀNG, SỐNG MÃI
                           VỚI NGƯỜI LÍNH SƯ 10

                          Nhà văn  Dương Thanh Biểu
             Nguyên Đại đội trưởng, Đại đội 1 , D1, E 28, F 10
            Nguyên Phó Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao 

Ngày ấy, chiến trường Kon Tum hình thành ba khu vực: khu vực cánh Bắc, khu vực cánh Trung và khu vực cánh Nam. Mỗi nơi đều có những thuận lợi về địa hình và cũng có những khó khăn riêng. Chỉ huy quân đội Mỹ sử dụng 5 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 4 Mỹ. Vòng ngoài thuộc 3 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 1 đóng ở 3 khu vực. Khu vực thứ nhất gồm có: Ngọc Tô Ba, điểm cao 467, Plây Gia Siêng. Khu vực thứ hai gồm có: Chư Dơ Bang, Chư Mơ Nú, Chư Mo Rinh. Khu vực thứ ba: Chư Kê Pắc, Chư Kô Pắc. Vòng trong gồm hai tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 2 cùng với các đơn vị pháo binh yểm trợ chiếm giữ Chư Đô, Kleng, Chư Tăng Kra, Chư Tăng An. Tiểu đoàn 1, trung đoàn 28 chúng tôi được giao nhiệm vụ vây chặt tiểu đoàn 1, trung đoàn 12, lữ đoàn 1, thuộc sư đoàn 4 của Mỹ ở địa bàn Chư Đô, Kon Tum. Quân Mỹ đặt ở đây những cứ điểm lớn với những sư đoàn, quân đoàn. Chúng có các căn cứ không quân khá mạnh với xe tăng, thiết giáp, máy bay yểm trợ. Hệ thống phòng thủ khá kiên cố, chúng rải ra từng đại đội, trung đội xen kẽ nhau đóng chốt trên những điểm cao nhưng bộ đội ta không ngại khó khăn, vẫn tự tin vào trận đánh với khẩu hiệu rắn rỏi:
    Đánh cho sư 4 đảo điên
    Đánh cho quân Ngụy ở Tây Nguyên tơi bời

 Đơn vị tôi khẩn trương dàn thế trận bao vây tiêu diệt địch theo kế hoạch tác chiến. Khẩu đại liên của đại đội 4, tiểu đoàn 1, do tiểu đội trưởng Vương Tử Hoàng chỉ huy bố trí tại đồi Cháy. Nhiệm vụ của khẩu đại liên là bắn máy bay trực thăng đổ bộ và chi viện cho Đại đội 2 Tiểu đoàn 1.
Đại đội 2 bộ binh được giao nhiệm vụ đánh đại đội C của Mỹ ở Chư Đô. Cũng xin được nói thêm, Chư Đô là ngọn núi cao 1145met, cách Kleng 13 cây số. Qua trinh sát chúng ta biết được đại đội C của địch có 100 tên lính Mỹ ẩn náu trong hệ thống công sự kiên cố, vững chắc gồm ba lô cốt bê tông và 45 chiếc hầm xây có nắp thông với nhau bằng các đường giao thông hào chằng chịt. Lính Mỹ ở Chư Đô còn được trận địa pháo lớn đóng ở Chư Tăng Kra bắn chi viện khi cần thiết và máy bay trực thăng, máy bay C47 quần đảo liên tục trên bầu trời bất kể ngày đêm nhằm bảo vệ vòng ngoài của căn cứ. Đạn pháo lớn của địch nổ ùng oàng bên ngoài căn cứ và đêm đêm sáng đèn dù do máy bay Mỹ thả, soi rõ từng mô đất, khóm cây.
  Đêm mùng 4 tháng 3 năm 1969, khẩu đại liên của đại đội chúng tôi được lệnh chiếm lĩnh trận địa chiến đấu và chuẩn bị công sự chốt giữ trên đồi Cháy. Khoảng cách giữa trận địa chúng tôi và đồi Chư Đô nơi địch đóng quân là ba trăm mét- một khoảng cách rất gần và đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng. Đây là nới hỏa lực (máy bay, pháo) bắn liên tục để bảo vệ cứ điểm Chư Đô.
 Tôi còn nhớ rõ, quang cảnh đồi Cháy lúc bấy giờ, đúng như cái tên của nó, cả quả đồi bị cháy trơ trụi không còn sót lại một bụi cây, khóm cỏ nào. Mặt đồi phủ đầy tro than đen kịt, gặp gió, bụi tro bay lên mù mịt. Những cây to thì cháy nham nhở, cây nhỏ thì cháy xém hết cả, có chỗ còn cháy âm ỉ, mặt đất bỏng rát, bàn chân đặt xuống không chịu nổi…Có lẽ trong chiến đấu, những quả đồi không tên trên bản đồ thì bộ đội đặt cho cái tên là “Đồi không tên”. Còn đồi không tên đó mà bị bom đốt cháy thì gọi là đối Cháy. Chiều hôm trước khi đơn vị chiếm lĩnh trận địa, máy bay địch tăng cường ném bom na-pan, loại bom có sức hủy diệt ác liệt khiến cho tất cả những thứ gì trên mặt đất của đối Cháy hóa thành tro bụi. Khi bộ đội hành quân lên, chúng tôi vẫn thấy nhiều đống lửa bập bùng cháy trên đồi Cháy. Mùi bom, đạn nồng nặc khắp nơi lẫn vào mùi cỏ, mùi động vật bị thui oi nồng, ngột ngạt. Khói lửa vẩn cháy lên thành từng chùm, ngập ngụa cả bầu trời, màu đỏ quẩn vào màu khói đen bốc cao, cuốn theo tro bụi bay tứ tung, nhất là vào buổi trưa nắng nóng. Kẻ địch đánh bom na-pan lên đồi cốt để triệt tiêu mọi sự sống, triệt tiêu mọi vật cản mà bộ đội ta có thể dùng nó làm ngụy trang.
 Bộ đôi tiền nhập lên đồi Cháy và nhận vị trí chốt giữ vào lúc nửa đêm. Dưới ánh đèn dù hắt ra từ căn cứ Chư Đô, chúng tôi khẩn trương đào công sự, lặng lẽ làm việc, chỉ nghe rõ tiếng sẻng đào công sự và hơi thở của nhau. Người nào cũng ướt đẫm mồ hôi, mặt mũi lấm lem như bết bùn. Tiểu đội trưởng Vương Tử Hoàng nhắc nhở chúng tôi khẩn trương hoàn thành công sự trước khi trời chưa sáng. Sau đó tập trung ngụy trang hầm hào cho kín đáo. Rút kinh nghiệm từ cuộc chiến đấu vừa qua, ngụy trang công sự là biện pháp che mắt quân địch để bảo toàn lực lượng. Tuy nhiên, ngụy trang trên đồi Cháy lúc này là một vấn đề rất khó đối với chúng tôi, bởi quả đồi đã bị cháy trơ trụi, không còn cây, lá. Nhưng trong cái khó ló cái khôn, chúng tôi lấy tro than phủ trên lớp đất đỏ mới đào và nhặt cành cây cháy che lên trận địa. Với cách ngụy trang như vậy thì máy bay phản lực của địch sẽ rất khó phát hiện, thậm chí bộ binh chúng bước lên trên cũng không thể biết được. Chúng tôi tin như thế.
 Trời gần sáng thi công sự của tiểu đội và khẩu đại liên cũng vừa xong. Anh em vừa nhai lương khô, vừa uống nước và nghe anh Hoàng phổ biến nhiệm vụ:
Đêm nay, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 sẽ nổ súng tấn công địch ở đồi Chư Đô. Khi Đại đội 2 nổ sung thì trận địa chúng ta sẽ hứng pháo địch và sáng mai, chắc chắn máy bay địch sẽ bắn phá ác liệt vào trận địa của chúng ta, không loại trừ tình huống địch đổ bộ vào đây. Do đó, tiểu đội ta phải chuẩn bị hai phương án đối phó: Bắn máy bay và đánh bộ binh địch. Các đồng chí phải chuẩn bị tinh thần chiến đấu thật tốt. Bằng giá nào cũng phải kiên quyết làm tròn nhiệm vụ trên giao. Phải giữ vững trận địa. Bây giờ các đồng chí kiểm tra lại xem nguy trang đã ổn chưa. Nếu chưa đảm bảo thì chuẩn bị tiếp. Các đồng chí phải chuẩn bị mặt nạ phòng độc, bông băng cá nhân và nước uống cũng phải hết sức tiết kiệm… Tất cả đều chuẩn bị chu đáo và trong tư thế sẵn sàng chiến đấu thật cao.
Tiểu đội trưởng Vương Tử Hoàng đi kiểm tra sung, đạn, mặt nạ phòng hóa, túi cấp cứu cá nhân của từng người. Nơi chiến trường, sự cẩn thận, chu đáo của người chỉ huy chẳng bao giờ thừa cả. Sự khốc liệt, nghiệt ngã của chiến tranh đã rèn luyện cho người lính, dù là cán hay binh. Nghĩ một lát, anh Hoàng giao tiếp cho tôi và anh Hoàng Ngọc Loan đào thêm hai chiếc hầm cách trận địa đại liên chừng ba mươi mét và cách địch khoảng hai trăm năm mươi mét. Nhiệm vụ của tôi và anh Loan được anh Hoàng giao là cảnh giới, sẵn sàng đánh bộ binh địch từ đồi Chư Đô tràn sang. Tôi và anh Loan cũng lường trước được tính chất ác liệt của trận đánh sắp diễn ra nên làm hầm hào rất cẩn thận theo thế chi viện cho nhau. Tôi bảo anh Loan “Anh em mình cùng hỗ trợ đắc lực cho nhau nhé”. Hai anh em làm khẩn trương và mau lẹ, mồ hôi túa ra đầm đìa mà không dám uống nước. Ngắm bi đông nước rất them nhưng phải để dành cho ngày mai nữa.
Cũng may là đất ở đây là đất bazan nên cũng dễ đào công sự. Tựa lưng vào vách hầm mới đào, mùi đất bazan còn nồng nực, tôi nhìn lên bầu trời. Trời cao nguyên trong xanh và cao vời vợi. Trong khoảnh khắc căng thẳng trộn lẫn với hồi hộp, tôi chợt nhớ đến quê nhà, nhớ Cha tôi lắm. Giờ này nếu Cha còn sống, chắc là Cha sẽ trằn trọc lo cho tôi trận đánh đêm nay và nghe tin đài báo hằng ngày. Cha không còn nữa, tôi thì ở thật xa. Mới ngày nào mà đã tròn 5 tháng Cha tôi bị bom giặc Mỹ giết. Mộ Cha giờ đây chắc cỏ đã mọc xanh. Tới bao giờ tôi mới được trở về để thắp cho Cha nén hương tưởng niệm để tỏ lòng thành kính. Đêm nay và ngày mai, con sẽ trực tiếp đối mặt với kẻ thù. Tôi lại nao nao nghĩ đến Thoa, giờ này em đang làm gì nhỉ? Lớp học đã tan chưa? Em còn học bài hay ngủ rồi? chắc em cũng lo cho tôi nhiều lắm. Tôi biết rằng em và tôi đang ở rất xa nhau nhưng trái tim và tình cảm vẫn luôn hướng về nhau. Nếu như em được nhìn thấy những gì khốc liệt mà người lính như tôi phải trải qua, chắc em thương tôi mà khóc cạn nước mắt. Lời thư của em văng vẳng bên tai tôi: “Anh ơi, em đã kể chuyện của chúng mình cho mẹ nghe rồi, mẹ cũng thương anh lắm. Mẹ bảo sao không đưa anh về quê chơi. Em có nói chúng con đang chuẩn bị thì anh đi bộ đội…”.
Rạng sáng ngày 5 tháng 3, Đại đội 2 chia làm ba mũi tấn công Đại đội lính Mỹ ở đồi Chư Đô bằng thủ pháo, lựu đạn và súng B40. Những tiếng thủ pháo, lựu đạn nổ chát chúa. Các lô cốt và hầm chỉ huy của địch lần lượt bị chiến sĩ ta chiếm lĩnh. Khi các hướng tấn công của ta vào trung tâm căn cứ đang phát triển tốt thì một tình huống bất ngờ xảy ra: Bộ binh địch chui hết xuống hầm, pháo lớn từ Chư Tăng Kra bắn cấp tập vào trận địa. Những tiếng nổ rền rã của bom đạn nghe chat chúa, chói tai. Máy bay địch quần lượn bắn phá không ngớt. Có chỗ lửa bốc cháy dữ dội. Do còn ít kinh nghiệm, lúng túng trong xử lý tình huống nên anh em C2 bị thương vong khá nhiều. Tuy nhiên, tổn thất của địch cũng không nhỏ. Sau mười lăm phút giao tranh, bảy mươi tên lính Mỹ đã bị tiêu diệt. Xác của chúng rải rác trên trận địa.
  Trời sáng. Nhìn sang căn cứ địch ở Chư Đô tôi thấy không còn nguyên vẹn như hôm qua nữa. Nhiều hố pháo lớn xuất hiện khiến cho quả đồi lở loét như người bị ghẻ kềnh. Hàng rào dây thép gai bùng nhùng, bị phá đi nhiều đoạn. Một số lô cốt, ụ hỏa lực bị san phẳng hoặc sứt mẻ nham nhở. Khói bụi vẫn bốc lên. Thời gian yên tĩnh không kéo dài. Từ Chư tăng-Kra pháo của địch đã bắt đầu sủa. Chúng bắn tấp cập vào đồi Cháy, hết đợt này đến đợt khác. Đất đá và những mảnh pháo bay rào rào, khói lửa trùm lên trận địa mịt mù. Tai chúng tôi ù đặc và nhức. Mấy con vượn đen trũi như than chạy nhảy hốt hoảng gọi nhau vang vọng cả khu rừng. Chúng kêu la hốt hoảng, những con sống sót thì cũng di chuyển sang hướng quả đồi bên kia. Pháo kích ngưng thì máy bay phản lực và trực thăng Mỹ đến ném bom na-pan và bắn rốc két. Từng vệt lửa hừng hực bốc cao trên mặt đất. Đồi Cháy vốn đã trơ trụi nay càng trơ trụi hơn. Lửa bom na-pan bén vào cả những cành cây ngụy trang của chúng tôi. Đồi Cháy bị tro than phủ kín một màu đen lem luốc. Chẳng nói gì cây cối, đất đá, mặt mũi, quần áo chúng tôi đen nhẻm hết lượt. Khẩu đại liên của tiểu đội chúng tôi đã đĩnh đạc lên tiếng. Chúng tôi có 3 người tập trung vào khẩu đại liên, người thì tiếp đạn, người xạ thủ, có nhiệm vụ bắn và người thì chuẩn bị. Tôi thì dùng súng bộ binh AK cùng bắn máy bay. Ai cũng tháo vát, nhanh nhẹn, khẩn trương. Bất chấp bom đạn của giặc, khẩu đại liên Cô-li-nốp nhằm vào máy bay phản lực và trực thăng nhả đạn. Lúc này không còn bí mật được nữa, chúng tôi một mất một còn đối mặt  với kẻ thù hung hãn.
Quần nhau với địch đến gần trưa thì như hình chúng phát hiện ra trận địa đại liên của ta hay sao mà chúng càng bắn phá ác liệt hơn. Mặt trời gần đứng bóng thì trực thăng bắn đạn hóa học xuống trận địa. Tôi và anh Loan thấy máy bay bắn từng quả như cục pin đại xuống gần hầm. Khi những quả đạn hóa học chạm đất thì phụt ra làn khói xanh và bay lan tỏa khắp mặt đất. Tôi thấy nước mắt cay sè, mũi khó thở liền nói như ra lệnh với anh Loan: Chất độc, đeo mặt nạ vào. Mặc cho việc chuẩn bị đã sẵn sàng nhưng khi có chất độc tôi thấy hơi luống cuống. Sau món vũ khí hóa học ác hiểm là những màn bổ nhào ném bom của lũ máy bay phản lực. Kẻ địch cho rằng Việt cộng không chịu được khói đạn hóa học sẽ từ hầm chui lên và khi gặp bom, pháo sẽ thương vong nhiêu.
Im ắng được mấy phút, chúng tôi tranh thủ ăn cơm trưa. Ăn vội vàng qua quýt, thậm chí vừa ăn vừa nghĩ đến nhiệm vụ tiếp theo, nét mặt ai cũng căng thẳng, lo âu trước những khó khan, ác liệt đang diễn ra. Mặt mũi ai cũng nhọ nhem, chân tay chai sạn, tóc tai bơ phờ. Khi ăn cơm, ai cũng làm phép chùi tay vào quần áo cho đỡ bụi bẩn, nắm cơm cầm trên tay cũng dính tro than nhọ nhem. Mùi khói bom khét lẹt. Cổ họng khô khát nhưng anh em động viên nhau, cố gắng ăn hết khẩu phần để lấy sức chiến đấu với giặc. Miếng cơm cuối cùng chưa trôi khỏi cổ thì máy bay địch lại gầm rú trên đầu. Từng loạt, từng loạt bom sát thương, tiếp đến là bom cháy nổ đinh tai nhức óc, cả quả đồi bị giật phá rung lên theo làn sóng xung kích của bom. Mảnh bom, đất đá bay rào rào, khói lửa cuồn cuộn. Có lẽ nó đã đoán đúng khẩu đại liên có tác dụng tai hại như thế nào nên bọn chúng cũng dồn sức tiêu diệt. Bỗng một quầng lửa bùng lên hung dữ, trùm lên toàn bộ khẩu đại liên. Anh Hoàng thét lớn: “Địch ném bom napan trúng trận địa rồi, các đồng chí phải bình tĩnh”.- tiếng thét của anh khiến cho cả trận địa của chúng tôi chú ý và tập trung cao độ để chiến đấu và cảnh giác. Tôi và anh Loan cũng bị thương, hai bàn tay bị bỏng do dính chất cháy của bom. Quả bom sát thương nổ gần hầm không ai bị thương nhưng bị sức ép. Ngực đau, khó thở. Nhưng nhìn anh Hoàng như ngọn đuốc sống đang chỉ huy anh  em thì quên hết  cả đau đớn.
Tôi nhìn anh Hoàng - người chỉ huy của khẩu đội đại liên chúng tôi bị dính bom napan cháy như ngọn đuốc sống, vẫn chỉ huy khẩu đội đại liên bắn trả lại máy bay giặc. Hình ảnh ấy tôi không bao giờ quên được, cái ngỡ như chỉ xem trên phim ảnh hay đọc trên những trang báo lại là hiện thực trước mắt tôi. Chất anh hùng của người lính cách mạng là có thật chứ không phải do chúng ta bịa ra hoặc tô hồng cho nó đẹp thêm. Cùng lúc đó, hai chiếc máy bay trực thăng Mỹ đã bị trúng đạn tiểu liên, bốc cháy dữ dội và rơi ngay đồi bên cạnh.
 Anh Hoàng bị bỏng toàn thân vì lửa napan. Anh vẫn cố chịu đựng, dù rất đau đớn. Trong không khí yên tĩnh, chúng tôi bế anh nằm xuống hầm và băng bó cho anh, anh đã rất yếu. Bằng giọng nói rất nhỏ nhẹ, anh động viên chúng tôi: “Có thể bộ binh địch sẽ tấn công vào đây… cuộc chiến đấu diễn ra còn ác liệt lắm…anh em mình cố gắng giữ vững trận địa…. đừng cho địch chiếm”. Giọng nói của anh càng nói càng đuối dần, đôi mắt nhắm lại. Miệng hơi mấp máy muốn uống nước. Tôi lấy thìa bón cho anh ít nước. Anh uống nước thật ngon lành. Nhìn sắc mặt anh ngày càng nhợt nhạt, cái chết đang đến gần với anh từng giây mà chúng tôi bất lực, ai cũng xót thương. Tất cả anh em, những người đứng vây quanh anh, phần lớn đều bị thương, nhưng, ai cũng lặng lẽ lắng nghe từng lời của anh căn dặn. Rồi anh không nói được nữa. Khoảng 3 giờ chiều thì anh trút hơi thở cuối cùng. Anh mất đi giữa lúc trận địa còn mịt mù khói lửa. Nhưng trong lòng mỗi chiến sĩ vẫn rực lửa căm thù quân cướp nước, quyết biến đau thương thành hành động cách mạng.
Nhìn anh Hoàng nằm bất động trong hầm mà lòng tôi bùi ngùi xúc động. Anh như người anh cả, như người chị hiền trong đơn vị. Ngày nghe tin Cha mất, tôi suy sụp và khụy ngã hoàn toàn. Trong lúc khó khăn đến cùng cực ấy, anh là người chia sẻ động viên, an ủi và nâng bước tôi đi. Nếu không có anh chắc chắn tôi chẳng hành quân vào đây với đơn vị được. Trước trận đánh này, anh đã nhắc nhở chúng tôi kiểm tra rất kỹ về vũ khí, trang bị, lường trước những tình huống xấu có thể xảy ra như địch dùng vũ khí hóa học chẳng hạn. Các phương án chiến đấu do anh vạch ra cho tiểu đội thật chính xác. Anh là con người không chỉ có lòng dũng cảm mà còn có nhiều thực tiễn trong chiến đấu.
 Anh ra đi khiến tôi thấy trống trải và buồn thương vô cùng. Tiếc thương một người chỉ huy tài giỏi, nhanh nhẹn, gần gũi, sâu sát anh em, giờ không còn nữa. Cả tiểu đội trĩu buồn. Mấy hôm trước, anh Hoàng đã nói với tôi: Sau ngày thống nhất giang sơn, thế nào cũng về quê thăm gia đình tôi, thăm quê Bác Hồ, thăm dòng Sông Lam thấm đẫm câu dân ca xứ Nghệ. Anh đã kể cho tôi nghe về hoàn cảnh gia đình anh. Bố mất sớm, mẹ ở vậy nuôi anh. Đã mấy lần mẹ mong anh về để lấy vợ. Mẹ anh đã già. Trước lúc đi bộ đôi, mẹ anh cũng đã chuẩn bị cho một cố gái trong làng xinh xắn, ngoan ngoãn và hay làm. Anh nói rằng chờ cho chiến tranh kết thúc sẽ về lấy vợ và sinh cho mẹ một đứa cháu để bồng. Anh cũng hy vọng, sau này đất nước thống nhất, anh sẽ về với cuộc sống ruộng vườn như ông bà, tổ tiên đã sống. Một ước mơ bình dị thế mà không thực hiện được. Không hiểu mẹ anh Hoang có linh cảm đến sự đau thương này không. Anh Hoàng ơi. Em coi anh như người anh cả, chị hiền, bao nhiêu lần anh đã động viên em, giúp đỡ để em vượt qua những nỗi đau, mất mát. Sau này thống nhất, nếu còn sống em sẽ về với gia đình anh. Tôi bồi hồi xúc động lẩm bẩm với anh linh Anh Hoàng. Mong anh an nghỉ suối vàng và phù hộ độ trì cho tiểu đội chúng tôi vượt qua thử thách ác liệt này.
Chiều chầm chậm qua đi, hoàng hôn buông xuống. Cánh rừng lúc này chợt im ắng nhưng vết tích của trận đánh vẫn còn  nóng bỏng. Vây bọc trận địa của chúng tôi là màn đêm nhàn nhạt của cao nguyên hòa trong ánh đèn dù nhập nhoạng ở phía đồn địch. Xa xa tiếng ì oàng của pháo cối địch. Chốc chốc lại có những đợt pháo kích từ phía Chư Tăng-Kra bắn lên xung quanh Chư Đô và đồi Cháy. Có lẽ đây là các đợt pháo kích cầm canh để bảo vệ Chư Đô. Tối ngày 5 tháng 3 năm 1969 khẩu đội đại liên chúng tôi được lệnh rút khỏi Chư Đô tiến về phía Ngọc Ta Lung để làm nhiệm vụ mới. Chúng tôi vừa hành quân vừa đưa thi hài anh em liệt sĩ và thương binh nặng ra phía sau. Có rất nhiều việc, thời gian lại gấp rút nên ai cũng khẩn trương, tranh thủ thời giờ. Nhìn  đồng đội nằm xuống, ai cũng xót thương. Có chiến sĩ thân thể không còn lành lặn, bê bết máu, thấm đỏ cả chiếc áo, đất cát bám đầy người. Cũng rất may lúc này có mấy đồng chí vận tải của tiểu đoàn nên thương binh, thi hài liệt sĩ và vũ khí được mang ra an toàn và kịp thời. Sau trận Chư Đô, khẩu đội tôi được bổ sung thêm quân để bước vào những trận đánh mới.
Đối với tôi, trận đánh này là trận đáng ghi nhớ. Hình ảnh ngọn đuốc sống Vương Tử Hoàng mãi mãi cháy trong tôi như một vầng sáng bất tử.

    

MỘT SỐ BÀI THƠ CỦA LÊ TIẾN VƯỢNG

Trong số trước, trang Lính Tây Nguyên có giới thiệu cùng bạn đọc bài bình tập thơ LỤC BÁT PHỐ của họa sỹ, nhà báo, nhà thơ Lê Tiến Vượng - lính Sư 10. Trong số này, trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc một số bài thơ của anh .

CÔNG SỞ
Công sở lắm sếp nhiều quan
Nói xuôi thì ít, nói ngang thì nhiều
Lương thì chẳng đủ mà tiêu
Xe sang, biệt phủ lại nhiều… khắp nơi
Sếp giờ giàu nứt đó rồi
Nhân viên ì ạch còn xơi… em à
Sếp thì nồi bảy, nồi ba
Anh em cháo loãng, hành hoa, phập phù
Công sở như cái đèn cù
Con ông, cháu bác vù vù bay lên
Nhanh chân nắm chức, nắm tiền
Khua môi múa mép, múa quyền mà ghê
Công sở giờ lắm vai hề
Người thì bưng bát, kè về bưng bô
Hắt hơi, khối kẻ trầm trồ
Chàng thì như “cún”, nàng vờ như “miu”
Qua sông phải bắc cầu kiều
Em vào công sở nhớ nhiều phong bao
Tài năng, đức độ “gói vào”
Hở ra kẻ cấu, người cào te tua
Công sở thả sức tiền chùa
Sáng chi hội nghị, chiều lùa hội thi
Vỗ tay cũng có phong bì
Quanh năm đi họp, có khi cũng giàu
Học Tây rồi lại học Tàu
Sao bằng công chức, chải đầu lĩnh lương.
8-11-2017
Lê Tiến Vượng
NGÔI CAO
Ngôi cao, tưởng sếp đàn anh
Bao năm mới biết lưu manh nhảy dù
Quyền cao, múa mép tít mù
Tiền, vàng, lộc lá… sếp thu đều đều
Ngôi cao, nghĩ sếp đáng yêu
Thúy Vân phải mến, Thùy Kiều phải mê
Càng ngày, càng giống lợn sề
Sếp cười chẳng biết là dê hay bò
Ngôi cao chắc sếp hay lo
Biết đâu sếp chỉ bo bo thân mình
Tài sếp ghét, nghèo sếp khinh
Bao người vỡ mộng, động kinh xầm xì
Ngôi cao ngỡ sếp từ bi
Hương nhang cũng biết, kinh thi cũng rành
Cháu con chả chịu học hành
Bao nhiêu ghế tốt, lộc lành sếp ban
Ngôi cao tưởng sếp bình an
Dương phù, âm trợ, sếp toàn dâng sao
Đi đâu đền phủ cũng vào
Suýt xoa, khấn Phật, nghẹn ngào… đầy vơi
Ngôi cao, nghĩ sếp đời đời
Biết đâu thời thế sếp rơi… rơi… hoài
Chúa có mắt, Phật có tai
Sếp thành “quỷ sứ” hai vai “vào lò”
Tiền nhiều, chẳng thể đem cho
Cha già, mẹ héo, chẳng chờ được thăm
Vợ con giờ để ai chăm
Ngày ngồi đếm lịch, tối nằm đếm sao
Bao nhiêu sếp ở ngôi cao
Có nghe sóng vỗ, biển gào… hay quên.
26-7-2019
Lê Tiến Vượng
(Trích trong LỤC BÁT ĐÙA CHƠI
Sẽ XB)
CHUYỆN HÔM QUA
Một thời đi Đức, đi Nga
Toàn tên con cháu ông bà quan trên
Ngút ngàn bom đạn vùng biên
Vòng vây giữ chốt toàn miền quê ra
Bao năm lửa khói xông pha
Ba lô lộn ngược về nhà gặp nhau
Cơm tây bạn trắng phau phau
Mình ngô khoai sắn, da màu ốc biêu
Simson họ phóng hơi nhiều
Bao nhiêu em đẹp họ chiều vô tư
Mình như ông vãi, ông từ
Túi tiền lép kẹp, gày như ve sầu
Ngu ngơ có biết gì đâu
Ngầng lên thời thế chuyển màu mà ghê
Bạn giờ bụng rượu, bụng bia
Xe sang, biệt phủ đề huề khắp nơi
Nghênh ngang như cậu ông trời
Biết đâu củi lửa chuyển dời vần xoay
Bỗng dưng thành kẻ ăn mày
Cơm tù, nhà đá, biết ngày nào ra
Bạn giờ phải ở rất xa
Vợ con ly tán, cửa nhà hoang vu
Sòng đời đen bạc âm u
Lên voi xuống chó, vào tù như không
Ta lương ba cọc ba đồng
Cơm no, bò cưỡi, chăn mồng chiêm bao
Cuối đời chẳng hiểu vì sao
Bao nhiêu “cóc cụ” lao nhao “vào lò”
26-7-2019
Lê Tiến Vượng
(Trích trong LỤC BÁT ĐÙA CHƠI
Sẽ XB)
RA PHỐ
Ra phố là thấy chênh chao
Tàu xe hối hả, ước ao nhiều màu
Đường thì hẹp, nhà thì sâu
Nhìn nhau chưa kịp gật đầu đã đi
Ra phố phải sẵn phong bì
Gặp nhau sáng rượu, chiều bia luận bàn
Đi đâu cũng thấy công an
Mà sao “hổ báo” nghênh ngang hơi nhiều
Ra phố là phải biết điều
Bên quan, phải cúi phải siêu mọi trò
Ở đây nhà sếp thì to
Nhà dân thì bé, Hỏa Lò lại cao
Ra phố đừng có chiêm bao
Đêm nghe chó cắn, mèo gào cho quen
Ông ăn chả, bà ăn nem
Bao nhiêu lộc lá, mâm trên dâng đầy
Chả cần đi Mỹ đi Tây
Đại gia chân đất, chân giày cũng đông
Tốt đen, tốt đỏ, xe hồng
Lão gia, công tử, quận công, đầy đường
Kẻ bán phấn, người buôn hương
Người gồng, người gánh, bốn phương chập trùng
Ra phố là phải kiên trung
Thằng gian nó dọa, thằng khùng nó đe
Bao nhiêu là cái bóng đè
Lắm khi tức đến lộn mề… cho qua
Ra phố, bỏ mẹ, bỏ cha
Kiếm dăm bạc lẻ, để mà nuôi con
Ra phố một mất, một còn
Mồ hôi thì đắng, bồ hòn lại cay
Bao người ra phố hôm nay
Đường về hun hút, màu mây… nhạt nhòa
30-6-2019
Lê Tiến Vượng
(trích trong Lục Bát đùa chơi
Sẽ Xuất bản)


Họa sỹ , nhà thơ , nhà báo Lê Tiến Vượng trong đồng phục Câu lạc bộ Trái Tim Hồng ( Lê Tiến Vượng đứng bên trái )

    

GƯƠNG MẶT NHỮNG NGƯỜI LÍNH SƯ ĐOÀN 10

GƯƠNG MẶT NHỮNG NGƯỜI LÍNH SƯ ĐOÀN 10

Họa sỹ Lê Tiến Vượng trước đây công tác ở Tuyên huấn Sư đoàn 10. Hết nghĩa vụ quân sự, cuối năm 1981 anh chuyển về công tác ở Báo Hoa học trò cho đến tận bây giờ. Trong giới hội họa người ta gọi anh với cái tên rất trìu mến “ Vượng logo “ bởi anh nổi tiếng với các bức họa logo. Không chỉ nổi tiếng trong giới hội họa , anh còn khá nổi tiếng với các tập thơ lục bát. Nhân dịp anh vừa cho ra mắt tập thơ thứ 4 với nhan đề LỤC BÁT PHỐ, trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Nguyễn Thị Mai về tập thơ của anh .

GỬI VÀO LỤC BÁT XÓT XA NỖI ĐỜI
( Nhân đọc tập thơ Lục bát Phố của Nhà thơ Lê Tiến Vượng – NXB Hội Nhà văn 2018).

Tôi đã được đọc thơ của NT Lê Tiến Vượng rải rác trên báo chí và trong các cuốn sách in chung. Tuy chưa nhiều nhưng các bài thơ ấy đều khiến tôi thích thú bởi một giọng thơ riêng, rất riêng và ám ảnh tôi bởi những câu thơ nói như tếu táo mà sao ngậm ngùi xa xót. Thực tế, Lê Tiến Vượng đã có 4 tập thơ dày dặn, chững chạc. tập nào cũng gần trăm bài thơ, bài nào cũng để lại cảm xúc trong lòng bạn đọc. Và tôi đang có trên tay tập thơ thứ tư – mới nhất, được tác giả tặng với nhan đề: Lục bát Phố do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành cuối năm 2018 vừa qua. Trân trọng, nâng niu. Thử mở vô tình một trang, mắt bỗng chạm phải những lời bộc bạch tưởng đùa mà “rất có chuyện”:
Thơ mình tặng bạn đọc chơi
Mượn câu lục bát mà ngồi ngắm nhau
Đòn đời không đánh mà đau
Đòn tình chưa tỏ, mái đầu đã phai. (Thơ mình)
Vâng, từ “chơi” và “ngắm nhau” là tếu táo. Tếu táo để lấy cớ bộc bạch nỗi niềm về “đòn đời” và “đòn tình”. Nó ở đâu? Thì hẳn là ở Phố. Thơ Lê Tiến Vượng bộc bạch là thế (giống như con người anh: quang minh, ngay thẳng, chan hòa và chia sẻ). Bộc bạch từ tên tập thơ đến tên các bài thơ và đến từng câu thơ. Với tôi và nhiều người, chỉ cần nhìn tên tập thơ, đọc đầu đề bài thơ đã hình dung được vấn đề anh định nói. Điều quan trọng là vấn đề ấy có động lòng trắc ẩn, khơi dậy tính bản thiện trong tâm thức con người ta hay không? Xin thưa, điều đó hoàn toàn có trong thơ Lê Tiến Vượng. Đúng vậy, với 71 bài thơ trong tập Lục bát phố, ta gặp đủ thứ chuyện, đủ thứ người, đủ thứ cảnh… toàn những thứ diễn ra trước mắt hàng ngày, ai cũng thấy nhưng chỉ riêng Lê Tiến Vượng nói ra tưng tửng. Vì thế, Lục bát Phố là bức tranh hiện thực đời sống thời hiện đại hóa được phô bày qua hình tượng con người và những cảnh đời xã hội thật sinh động. Con người: Họ là những cô gái làng nhẹ dạ cả tin, mơ lên phố để thoát kiếp nghèo; là những chân dài váy ngắn sống giả để lừa tình và bị tình lừa; là em gái lấy chồng ngoại quốc tưởng đổi được đời mà không; là cô gái bán thân nuôi miệng; là những ông thợ sửa xe, bà hàng nước, anh thợ khóa, chị bán hàng rong, em đánh giày lam lũ vỉa hè; là anh tài xế tắc xi ngầu đời, anh xe ôm bán sức; là những chàng những nàng lương còm nơi công sở phải hèn như chó như mèo với sếp; là những sếp cưỡi xe sang, ở nhà biệt phủ quen hưởng thụ tiền chùa khi về hưu đầy hụt hẫng… phần lớn họ xuất phát từ nhà quê chân chất. Ra phố, người thì chầy chật, lam lũ kiếm sống, kẻ thì lên chức lên quyền lắm tiền nhiều của. Người thì quá tỉnh táo để yêu, để lừa, để “chạy”, kẻ thì điên dại ngẩn ngơ đến vô cảm cả thân phận mình… Mỗi con người ấy là một phận người đại diện cho bao phận người ở mỗi tầng lớp xã hội hiện đại hôm nay. Họ bước vào thơ Lê Tiến Vượng thi vị hơn nhưng cũng đáng thương hơn bởi cái nhìn cảm thông và sự phát hiện tinh tế của anh:
Phố phường chen chúc người quê
Miếng cơm, manh áo, dãi dề tấm thân
Trẻ già, trai gái phong trần
Bán đi cái có để cần… cái không ( Phố phường)
Sửa xe nửa cúi, nửa bò
Bặm môi, vẹo má, tiếng ho rát chiều
Bạn bà hàng nước, bún riêu
Vui ông thợ khóa, lêu têu đánh giày ( Thợ sửa xe)
Vô tư cái lúm đồng tiền
Em như cô Tấm thảo hiền sang sông
Phố giờ lại lắm Lý Thông
Bao nhiêu em gái không chồng… sinh con (Lại lo)
Tinh sương gánh gánh gồng gồng
Từng đoàn thôn nữ xa chồng … bán mua
Phong phanh giữa chốn lọc lừa
Áo quần còn ngái bùn chua hôm nào ( Gánh gồng)
Phải gần gũi, quan sát họ, phải hóa thân vào thân phận họ, có khi mình cũng chính là họ, Lê Tiến Vượng mới lột tả chân thực được những con người ấy. Nhưng nỗi đáng thương phải đâu chỉ có ở người nghèo hèn? Ngay cả những vị sếp dù nhiều tiền, nhiều nhà, nhiều chức cũng đáng thương làm sao:
Về hưu giống hệt ông từ
Lại mơ “quyền trượng” ông sư thuở nào. Bao năm lốt hổ gầm gào
Lắm đêm tỉnh giấc… thì thào meo meo ( Về hưu)
Nỗi đáng thương về bao phận người nếu viết bằng ngôn ngữ nghiêm túc có khi thành phỉ báng, khinh miệt. Nhưng tài làm sao, ngôn ngữ của Lê Tiến Vượng lại hài hước hóm hỉnh. Ngôn ngữ thơ anh là ngôn ngữ tiếng cười. Người đọc cảm giác như chính anh đang “tự trào” tình cảnh của mình chứ không phải tình cảnh ai khác. Nhưng đó lại là “ai khác”. Thế mới ngậm ngùi xót xa tận thẳm sâu trong đáy ngực chúng ta. Con người đã vậy, những cảnh đời của họ mới làm nên bức tranh xã hội thời hiện đại với ba chiều không gian nhốn nháo, lộn tùng phèo mọi giá trị đích thực. Đó là “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” về một Thủ đô Hà Nội ồn ào, chen lấn, ô nhiễm, rác rưởi, tắc đường và cả lưu manh, đều giả… không còn đâu hình ảnh về một Tràng An thanh lịch đáng tự hào. Trông rộng nhìn xa hơn thì phố phường đâu cũng vậy. Nó như một cái “chợ khổng lồ”, là nơi giằng giật kiếm kế sinh nhai chứ không phải nơi an cư sinh sống. Vì thế vỉa hè tranh giành, cửa hàng tranh bán, con người tranh nhau với “Bao nhiêu cái cảnh… cò cưa… qua ngày” (Phố phường) thật xô bồ. Người quê chân chỉ hạt bột quanh năm sống với đồng ruộng mà nghe bức tranh phố phường trong thơ Lê Tiến Vượng chắc cũng hãi hùng không dám ra tỉnh như xưa. Nhưng đấy mới là bề nổi, là những gì nhìn thấy được. Còn những gì ẩn sâu trong cái xô bồ ấy phải nhờ con mắt xanh của nhà thơ phát hiện tinh tế ta mới nhận ra. Ấy là những thật giả lẫn lộn: “Cái tình tưởng ngọt lại cay/ Tưởng mê thành đắm, tưởng ngày hóa đêm” (Cái thời). Còn cái giả dối lại lên ngôi nhan nhản: “Phố phường lắm quỷ nhiều ma/ Lý Thông mặc áo cà sa sao nhiều” (Em tôi). Giả dối đi liền với cái ác mà “Cái ác dán mác, gắn sao”thì cuộc đời này sẽ thành bi kịch. Chỉ một bài “Đi chợ” là chân dung cái ác hiện ra tất cả: “Hoa quả ngâm tẩm thuốc Tàu/ con tôm thì độc, con hàu thì tanh… Người ta đầu độc khắp nơi/ Phố, quê đâu cũng đãi bôi vì tiền/ Cái thời mâm bát đảo điên/ Ăn xong chẳng biết “quy tiên” lúc nào”. Cảm ơn Lê Tiến Vượng đã cảnh tỉnh bằng thơ về sự giả dối, độc ác khắp chốn đó đây nơi phố phường nhưng cũng khiến ta hoang mang tột độ bởi nghe anh nói: “Bây giờ chẳng biết tin gì/ Lương tâm thì bé, phong bì thì to” ( Đi chợ); “Đi đâu cũng gặp con buôn/ Người chui người cúi, kẻ luồn mà đau” (Ngẫm). Ấy là đồng tiền đã lên ngôi, tha hóa người ta. Vì tiền mà đảo điên tất cả “Trên thì dối, dưới thì gian”. Vì tiền mà đầy rẫy những tệ nạn. Nào là nạn “chạy” chức chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, “chạy” trường, “chạy” án, “chạy” dự án, “chạy” về hưu, “chạy” sổ đỏ, “chạy” thuốc thang chữa bệnh… Nào là nạn tham ô tham nhũng cửa quyền của các quan chức. Nào là nạn đỏ đen trong sòng đời, nạn đua chen hình thức, lãng phí trong trường học, nạn đua nhau lấy chồng nước ngoài để đổi đời… nhưng có loại nạn buôn thần bán thánh kiếm tiền là nạn mới, dối lừa và phất lên nhất “Vào chùa đóng oản giàu kinh cả hồn/ Cái thời sư sãi đi buôn/ Bán thần, buôn thánh nỗi buồn ai thương” ( Ngẫm 2). Tất cả những cảnh đời khiến người đọc phải lắc đầu chép miệng ấy có thể quy tụ trong bài thơ “Chợ trời” của Lê Tiến Vượng. Bài thơ này, mọi cái rất cụ thể và hiện thực nhưng hình tượng lại rất khái quát. Nó là bức tranh tổng thể của phố phường, xã hội và con người thời quá độ nhốn nháo: Tiến lên hiện đại hóa nhưng ý thức con người không chịu lên theo mà lợi dụng thời thế để lưu manh kiếm lời:
Chợ trời đủ thứ… ê hề
Đồ gian, đồ dởm, đồ nghề… bán mua
Người ngay thì bán đồ thừa
Người gian bán cái lọc lừa… thế thôi (Chợ trời)
Những bài thơ lột tả hiện thực trong Lục bát Phố khá nhiều, nếu không viết khéo sẽ thành thơ châm biếm, đả kích. Nhưng Lê Tiến Vượng lại rất khéo và tài. Thơ anh viết với giọng điệu trữ tình, ngôn ngữ gần gụi, hóm hỉnh, câu lục bát như một tiếng thở dài trăn trở nên người đọc không bực tức hay phẫn nộ mà chỉ xót xa, thương cảm. Hơn thế nữa, thơ Lê Tiến Vượng còn rút ra những trải nghiệm, tổng kết về đời sống hôm nay khá thú vị. Ví như:
Tình yêu chẳng cũ em à
Vàng thì nhiều tuổi, gừng già càng cay...
Đời nay có tí tẹo thôi
Tình trong một khắc cũng hời trăm năm ( Ừ thì…)
Cái thời muốn nói lại câm
Muốn đi phải đứng, muốn cầm sợ rơi ( Nửa đời)
Em ơi sân khấu thì tròn
Cuộc đời thì méo, lại còn lắm gai ( Cái thời)
Lục bát Phố còn đề cập nhiều vấn đề phong phú khác như tình yêu, tình vợ chồng, tình ông bà, con cháu và cả chuyện mình đều được viết với giọng hóm hỉnh mà chân thực. Ai đọc cũng thấy mình trong đó. Riêng về bản thân, tác giả có những bài, những câu tự trào mà rất có duyên. Nhìn chung, Lục bát Phố đều là những bài thơ chuẩn vần, chuẩn thanh, nhuần nhị. Lời lẽ như tuột ra tự nhiên trong nỗi lòng. Ngôn từ dí dỏm, sâu sắc nhiều câu tưởng hài mà người đọc cười cay mắt. Hình ảnh thơ sống động như hiện thực vẽ ra trước mắt gây được ấn tượng. Tuy nhiên nhiều bài còn dài, nhiều câu bi quan, bế tắc. Đó phải chăng là tâm trạng riêng tác giả hay tâm trạng chung của những người đã trải nghiệm qua hai thế kỷ, giờ đang buồn, đang lo lắng, đang rất có trách nhiệm với cuộc sống hôm nay? Dù sao thì tập thơ vẫn là những nỗi niềm, nỗi đời tác giả gửi đến bạn đọc để cùng chia sẻ bằng những câu lục bát tài hoa của mình. Hãy có trên tay tập Lục bát Phố. Chắc chắn bạn sẽ thú vị và còn phát hiện ra nhiều điều tôi chưa nói hết ở đây.

                                                                                        Hà Nội, tháng 5/ 22019.
                                                                                      Nhà thơ Nguyễn Thị Mai


Ảnh : Hoạ sỹ Lê Tiến Vượng đến thăm , tặng quà cho các thương binh nặng ở Hà Nam
    

ĐAK RƠ CÓT - SỰ GIẰNG CO QUYẾT LIỆT

ĐĂK RƠ CÓT là một địa danh cách thị xã Kon Tum khoảng hơn chục Km về phía Tây . Đây là một địa danh mà Lính Sư 10 không thể quên. Nơi đây đã diễn ra rất nhiều những trận đánh ác liệt giữa ta và địch suốt những năm 1973 - 1974 . Lính Sư 10 còn gọi ĐẮC RƠ CÓT bằng một cái tên rất hài hước và không thể quên: ĐỨT RÂY CÓT. Trang Lính Tây Nguyên xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một bài viết của anh Nguyễn Sau (D8 - E66 )về địa danh này .( Một trong 18 chương trong cuốn hồi kí Tây Nguyên một thời để nhớ )
ĐAK RƠ CÓT - SỰ GIẰNG CO QUYẾT LIỆT
Nguyễn Sau - E66
Đắk rơ cot là một bản nằm trên một gò đất của một thung lũng gần vị trí Non Nước . Đây là một vị trí nằm ở phía Tây của thị xã Kon Tum và nằm ven quốc lộ 14 nên có một tầm quan trọng vừa là bảo vệ thị xã vừa là bàn đạp để mở rộng địa bàn hoạt động lấn chiếm đất sau khi kí kết hiệp định Pa- Ri về Việt Nam.
Ngày 27/01/1973 là một ngày vui đối với những người lính chiến trường chúng tôi. Hiệp định Pa-Ri về Việt Nam được kí kết, người Mĩ hoàn toàn rút khỏi miền Nam, như vậy hòa bình đang đến gần, từ nay trở đi, đầu sẽ ít rơi, máu sẽ ít chảy, ai cũng nghĩ như vậy. Nhưng có ngờ đâu, sự việc lại không xảy ra như ý muốn . Sáng ngày 27, C5 của chúng tôi đang làm nhiệm vụ giữ chốt 601 B như mọi ngày thì trên cao có tiếng máy bay ì ì từ xa vọng lại, linh tính chúng tôi bảo rằng thằng B52 lại định rót bom xuống đâu đây? Trong chiến trường, chúng tôi quen rồi, phân biệt được ngay đâu là tiếng máy bay B52, đâu là tiếng C130, đâu là tiếng trực thăng, tiếng OV10, L19 vv. Đang phán đoán tình hình thì một loạt bom tọa độ của B52 rải xuống một nơi xa, may thay khu vực đó chỉ là một khu rừng trống, không có bộ đội ở. Ngày 28/01/1973, một ngày sau khi hiệp định Pa Ri được kí kết, không gian xung quanh chúng tôi đang chốt giữ trở lên yên lặng khác thường. Nguyên ngày hôm qua và cho đến cả sáng sớm ngày hôm nay, pháo địch còn bắn cầm canh ùng oàng đây đó, vậy mà đúng 8 giờ sáng mọi tiếng động trở nên im bặt lạ thường. Sự im lặng hiếm có trong chiến tranh. Nếu như không phải hiệp định Pa Ri vừa được kí kết hôm qua thì chúng tôi đinh ninh rằng sự im lặng đó sẽ báo hiệu một điều gì đó sẽ rất khủng khiếp sắp xảy ra. Kinh nghiệm trong chiến trường của chúng tôi là như vậy. Nhưng đây lại là một sự kiện chính trị lớn vừa diễn ra nên điều ấy khiến những người lính chiến trường chúng tôi thấy ngỡ ngàng, phân vân. Điều gì đây? Kết thúc chiến tranh rồi ư? Hòa bình rồi hay sao? Hay chỉ là một sự im lặng tạm thời? Bao câu hỏi ấy cứ luẩn quẩn trong đầu.

Khoảng hơn 10 giờ, chúng tôi đang chuẩn bị giở cơm nắm ra ăn trưa thì ngoài trạm gác, trinh sát báo về có khoảng hơn 10 tên địch đang chạy về hướng cầu sập, cách chúng tôi đang chốt giữ khoảng 200m. Lệnh của tiểu đoàn cho C8 kích cối vào đội hình địch và C5 có nhiệm vụ xung phong ra bắt sống. Chúng tôi đành bỏ kế hoạch ăn cơm để làm nhiệm vụ. Tôi khoác vội khẩu AK báng gập chạy ra cùng với anh em trong đơn vị. Việc bắt sống nhóm địch này không có gì là khó so với cả một đại đội. Kết quả chúng tôi tóm được 11 tên trong đó có 2 tên là thiếu úy trung đội trưởng . Trong số lính bị bắt, có một tên quê gốc ở Bắc Ninh quê tôi. Trước khi giao về tiểu đoàn, đại trưởng C5 anh Hanh hỏi tên thiếu úy:
- Chúng mày ở đơn vị nào? Tại sao lại chạy qua đây?
- Dạ, thưa các ổng – một tên thiếu úy vội trả lời – chúng con ở tiểu đoàn 3 trung đoàn 45 biết là hiệp định Ba Lê vừa được kí kết, hòa bình sắp đến nơi, chúng con tìm cách bỏ chạy về hướng thị xã để hi vọng một cuộc sống hòa bình sau này, không ngờ bị các ổng bắt, chúng con có tội ạ.
Tên nào tên nấy sợ nen nét. Ánh mắt lo sợ hiện lên từng khuôn mặt. Hai tay bị trói run lên bần bật, chân để trần bị bắt tháo giầy trở nên lóng ngóng , mắt hết nhìn hướng nọ sang hướng kia. Có lẽ trong suy nghĩ của chúng cánh cửa hòa bình đang rộng mở thì không may bị bắt nên chúng mới có tâm trạng thế chăng? Sau một vài câu khai thác ban đầu để nắm tình hình, đơn vị liền cho giải tù binh về tiểu đoàn.
Sau ngày hiệp định Pa Ri được kí kết , lúc đầu hai bên giữa ta và địch có vẻ chấp hành nghiêm chỉnh. Những vùng giáp ranh giữa ta và địch thường xây dựng một căn nhà “hòa hợp dân tộc” để hai bên sẽ cử đại diện ra nói chuyện về lập trường quan điểm chính trị, về đất nước ,về dân tộc của mình. Cái tên gọi “nhà hòa hợp dân tộc” khiến cho chúng tôi và chắc là cả bên đối phương cũng vợi đi phần nào sự gian khổ, đau thương, hi sinh, mất mát. Chúng tôi thầm nghĩ là vậy. Mỗi bên cử một cấp cấp chỉ huy cao nhất, có trình độ, ăn nói giỏi và hai người phụ tá ra gặp nhau nói chuyện. Ta thường mang bánh kẹo, chè gói Tân Cương, thuốc lá Điện Biên bao bạc, bật lửa con bướm Trung Quốc ra tiếp đãi, còn đối phương thì mời ta bánh kẹo, cà phê Buôn Ma Thuột, thuốc lá Rubi Quien, bật lửa Rippo Mĩ để tiếp lại. Quả thật những đồ của đối phương đem ra tiếp đón chất lượng hơn hẳn của ta nhiều. Ta chê đối phương cầm súng Mĩ, đánh thuê cho Mĩ thì chúng đấu lại là ta cầm súng Nga, Tầu đánh lại đồng bào mình. Ta chê lá cờ ba sọc thì chúng chê ta lá cờ sao vàng, bênh vực và ngụy biện cho rằng ba sọc tượng trưng cho ba miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam. Cứ thế, qua các lần gặp để đấu tranh chính trị, bên nào cũng giữ vững lập trường quan điểm của mình, không bên nào chịu nhường bên nào. Sự việc đó chỉ diễn ra quãng hơn tháng gì đó còn thì từ tháng 3, tháng 4 năm 1973 trở đi thì hai bên choang nhau thực sự, không còn hòa hợp hay đấu tranh chính trị gì nữa

Một lần, quãng giữa tháng 4 năm 1973, tôi cùng đoàn cán bộ đi chuẩn bị địa hình phía đông nam Đắk Rơ Cot để nắm lại tình hình địch cho chắc chắn, lúc này tôi đang làm liên lạc của C5-D8 Đoàn phân công anh Hanh đại đội trưởng cùng với hai liên lạc tôi và Bình cùng đồng hương trong huyện đi nắm tình hình địch ở bên kia đường xe, đường ô tô bỏ lâu ngày trong rừng. Rừng le rậm rạp cỏ tranh tốt ngập ngang người . Những lá cỏ tranh vừa cao, vừa sắc, vừa cứng va quyệt vào cổ, vào trán nghe đến rợn người. Ba người chúng tôi luồn lách,dò dẫm từng tí một. Người khom khom, tay lăm lăm khẩu súng, chân bước đi thật nhẹ, thật êm, cố không để gây tiếng động, mắt lia ngang, lia dọc. Vì rừng le lẫn cỏ tranh quá rậm rạp, hơn nữa lại là mùa khô nên các cành cây khô, những ngọn tranh khô rất hay dễ gẫy và phát ra tiếng động, anh Hanh hội ý ba người và bảo:
- Bây giờ Bình sẽ ngồi lại tại đây, Sau hãy bỏ gùi lại để Bình trông, anh và chú sẽ bò vào sâu hơn nữa. Nếu có súng nổ, Bình sẽ chạy về phía sau.
Để gùi lại chỗ Bình, tôi và anh Hanh bò vào sâu hơn nữa. Trời không nắng lắm, lúc này khoảng hơn chín giờ sáng, rừng cây rậm rạp, không gian yên tĩnh lạ thường, càng yên tĩnh đòi hỏi càng phải thận trọng, nhất là âm thanh. Âm thanh của bước đi, âm thanh của tiếng nói sao cho ở độ nhỏ nhất. Khi hai người đã bò vào khá sâu, thì bỗng nghe có một tiếng động nhỏ, lúc đầu chưa rõ là tiếng động gì. Một phút…hai phút…bốn, năm, sáu phút bỗng có tiếng ho rất sẽ, hai phút sau đó thấy có tiếng nói chuyện rất nhỏ. Biết chắc chắn là địch, anh Hanh và tôi nín thở đợi chờ, mắt chăm chăm nhìn về phía những bụi le trước mặt.

Quả nhiên chỉ một lát sau, sáu, bảy tên địch thuộc lực lượng cộng hòa quần áo màu xám bước ra ngoài bãi cỏ tranh, có lẽ chúng đi tuần tra xung quanh vị trí thì phải. Cỏ tranh cao, chúng chỉ hở từ ngực trở lên. Đây là lần đầu tiên tôi trực tiếp nhìn thấy địch từ ngày vào chiến trường, tâm trạng rất hồi hộp và cũng rất sợ bởi vì tên nào tên ấy tùm hụp trong chiếc mũ sắt nên trông càng sợ. Anh Hanh nói nhỏ nhưng vẫn đủ nghe rõ:
- Mở chốt an toàn, cả hai cùng bắn nhé!
- Rõ, tôi khẽ trả lời.
Hai người cùng mở chốt an toàn. Một giây…hai giây…ba giây, chưa thấy anh Hanh nổ súng, tôi càng hồi hộp, tôi đợi anh Hanh nổ súng thì tôi cũng nổ. Cả sáu, bảy tên đang lặng lẽ tiến về phía chúng tôi cách nhau chỉ chừng ba mươi mét. Gần lắm rồi,anh Hanh nổ súng, tôi cũng nổ súng theo. Mỗi người nện hai loạt đạn rồi chạy, thế là hai bên cùng chạy. Vì địch ở gần vị trí nên chúng quạt đại liên về phía chúng tôi liên hồi. Đạn chiu chíu trên đầu, đạn phầm phập cắm vào mặt đất, găm vào gốc cây xung quanh. Tôi và anh Hanh chạy thục mạng về phía sau và trở về đơn vị.Về tới nhà, Bình liên lạc cùng đi với tôi đã về tới nhà từ bao giờ. Nghe tiếng súng bất thình lình, Bình bỏ luôn cả gùi của tôi để chạy thoát thân. Sau khi anh Hanh báo cáo tình hình địch xong xuôi, lúc này tiểu đoàn trưởng Nhân mới hỏi tôi:
- Thế nào, thằng em hôm nay gặp địch có sợ không?
Tôi lúc này đã bình tĩnh trở lại, nhẹ nhàng trả lời:
- Dạ, em rất sợ nhưng bây giờ thì hết sợ rồi.
Tất cả cùng cười rộ lên. Thủ trưởng Nhân lại hỏi tiếp:
- Thế trong gùi của em có những gì?
Tôi nhẹ nhàng trả lời:
- Dạ, trong gùi của em chỉ có mỗi một cái bọc võng, một tấm dù ca rô và bốn nắm cơm.
- Thế thì tốt rồi, thủ trưởng nói tiếp – Anh chỉ sợ trong gùi có tài liệu gì liên quan đến đơn vị hoặc cá nhân thì nguy hiểm quá!
Tất cả cùng cười vui vẻ.....
(Còn nữa ...)
    

BAN LIÊN LẠC MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN - B3 - QUÂN ĐOÀN 3 TỔ CHỨC SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019

BAN LIÊN LẠC MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN - B3 - QUÂN ĐOÀN 3 TỔ CHỨC SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019

Chiều nay 14/8/2019 , tại đoàn An dưỡng 296 - Sầm Sơn - Thanh Hoá , Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên - B3 - Quân đoàn 3 tổ chức sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2019 . 6 tháng đầu năm 2019 , Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên cũng như Ban liên lạc các Quận , huyện đã tổ chức nhiều hoạt động rất phong phú . Một trong những hoạt động nổi bật của Ban liên lạc Mặt trận và Ban liên lạc các Quận , huyện là hoạt động tình nghĩa . Đây là một hoạt động được duy trì thường xuyên , đều đặn để gắn kết Hội với các hội viên . Ngoài ra trong 6 tháng đầu năm Ban liên lạc Mặt trận đã làm được khá nhiều việc như : Cung cấp nhiều thông tin cho các gia đình Liệt sỹ trong việc tìm kiếm liệt sỹ , tổ chức tốt buổi gặp mặt nhân kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Mặt trận Tây Nguyên ( 1/5/1964 - 1/5/2019 ) , tham gia khảo sát địa điểm khu di tích lịch sử Quân đoàn 3 , tham gia vào việc quy hoạch khu di tích lịch sử IA HLEO và tổ chức hội thảo việc xây dựng khu di tích lịch sử này . Ban liên lạc cũng đã tổ chức một đoàn cán bộ đi làm việc với 5 tỉnh Tây Nguyên để vận động các tỉnh tham gia xây dựng khu di tích . Nhân dịp 27/7 , Ban liên lạc đã tổ chức đi thăm hỏi và tặng quà cho 15 thương binh nặng của Quân đoàn đang điều trị tại Trung tâm điều dưỡng thương binh nặng Thuận Thành . Ban liên lạc cũng đã tích cực làm công tác chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Quân đoàn 3 vào ngày 26/3/2020 . Đồng thời để ghi lại dấu ấn của cán bộ , chiến sỹ Mặt trận Tây Nguyên , Ban liên lạc đang tiến hành các bước để chuẩn bị ra tập 2 cuốn sách TÂY NGUYÊN MỘT THƯỞ và đã ra kỷ niệm chương Tây Nguyên mới . Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên - B3 - Quân đoàn 3 rất mong các hội viên tiếp tục viết bài gửi về Ban liên lạc để cuốn sách càng thêm phong phú các bài viết .
Phát biểu với Hội nghị , Trung tướng Nguyễn Quốc Thước đề nghị Ban liên lạc phải là đại diện cho anh em Tây Nguyên trong cả nước . Do vậy thành phần Ban liên lạc phải bao quát , có đại diện của các đơn vị , trước hết là các Sư đoàn 10 , 320 , 31 . Về tổ chức gặp mặt kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Mặt trận Tây Nguyên - B3 - Quân đoàn 3 , Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nhất trí với kế hoạch của Ban liên lạc . Về di tích lịch sử tại IA - HLEO , Trung tướng Nguyễn Quốc Thước đề nghị Ban liên lạc cần quán triệt cho Hội viên nhận thức rõ đây là khu di tích lịch sử không phải chỉ của bộ đội chủ lực Tây Nguyên mà là của cả các tỉnh Tây Nguyên , cần huy động sự đóng góp của mọi người vào công trình lịch sử này để công trình càng có ý nghĩa hơn . Cũng nhân dịp đến đoàn an dưỡng 296 sơ kết công tác 6 tháng đầu năm , Ban liên lạc đã tặng đoàn 296 bức hình chiếc trống đồng có hình nước Việt Nam và chụp hình lưu niệm với Lãnh đạo đoàn 296

Tin và ảnh Nguyễn Đình Thi








    

TRÒ CHUYỆN VỚI PHU NHÂN THƯỢNG TƯỚNG VŨ LĂNG

TRÒ CHUYỆN VỚI PHU NHÂN THƯỢNG TƯỚNG VŨ LĂNG

Buổi tối đang ngồi xem Ti Vi thì tôi nhận được điện thoại của Vũ Thị Phương Mai - con gái Thượng Tướng Vũ Lăng từ Sài Gòn điện ra . Mai bảo :
Mẹ em ở Sài Gòn ra . Mẹ em mời anh tối 9/8 đến nhà hàng ở Giảng Võ dùng cơm .
Nghe Mai nói vậy tôi rất vui . Tôi ngưỡng mộ phu nhân Thượng tướng Vũ Lăng từ lâu qua các câu chuyện mà chưa một lần gặp nên rất muốn được gặp Cụ .
Do tắc đường nên tôi đến trễ tới chục phút . Đến nơi đã thấy Trung tướng Khuất Duy Tiến , Trung tướng Mai Hồng Bỉnh , Đại tá nguyên Phó Tư lệnh Quân đoàn 3 - Khuất Duy Hoan , nhà văn Nguyễn Trọng Luân và những người thân thiết với gia đình Thượng Tướng Vũ Lăng như Minh Cầm , Nhân , anh Khuất Việt Hồng . Phu nhân Thượng tướng Vũ Lăng đi taxi bị tắc đường thành ra phải mang xe máy ra đón . Vừa bước vào phòng Cô đã niềm nở chào hỏi mọi người . Ở cái tuổi 87 , Cô đi lại hơi chậm nhưng giọng nói vẫn còn rất khỏe . Cô kể : Năm 2018 khi vào Quân đoàn 3 tặng các kỷ vật của Thượng tướng Vũ Lăng cho bảo tàng của Quân đoàn . Quân đoàn có mời Cô phát biểu . Sợ Cô không đứng được để phát biểu , các cháu ở Quân đoàn chuẩn bị sẵn một chiếc ghế sa lông để tôi ngồi phát biểu . Tôi nói vui với mọi người : nếu để tôi ngồi phát biểu thì tôi là bà cụ 86 tuổi , còn để tôi đứng phát biểu thì tôi là người chỉ có 68 tuổi thôi làm mọi người cười rộ lên vui vẻ . Và tôi đã đứng phát biểu cả tiếng đồng hồ với mọi người . Ở cái tuổi 87 như Cô tôi thấy Cô có một trí nhớ rất tốt . Cô vẫn nhớ được bức thư tình đầu tiên Thượng tướng Vũ Lăng viết cho Cô cách đây 70 năm vào ngày tháng nào , rồi Thượng tướng Vũ Lăng viết tất cả bao nhiêu bức thư cho Cô . Có lẽ ngoài trí nhớ Cô phải có một tình yêu sâu sắc như thế nào với Thượng tướng Vũ Lăng mới có thể nhớ được chi tiết đến vậy . Thật cảm phục . Rồi Cô kể chuyện đám cưới của Cô với Tướng Vũ Lăng . Cô bảo một hôm đang làm việc ở cơ quan ( cơ quan Cô lúc đó ở Việt Bắc ) thì anh Lê Thản đến gặp Cô nói :
Em về nhà ngay để tổ chức đám cưới với Vũ Lăng . Nghe anh Thản nói vậy tôi thật bất ngờ . Tôi nghĩ sao lại lạ thế nhỉ ? Chả ai trao đổi trước gì với tôi cả mà lại tổ chức cưới . Khi tôi về đến nhà ở Đại Từ thì chẳng thấy anh Vũ Lăng đâu , chỉ thấy mỗi chú công vụ của anh . Hoá ra anh Lê Thản - phụ trách chính trị - hậu cần cơ quan tôi và anh Hải Trung - Thủ trưởng cơ quan anh Vũ Lăng biết chúng tôi yêu nhau và rất yêu quý cả 2 chúng tôi nên đã bàn đứng ra tổ chức đám cưới cho chúng tôi . Bàn là vậy nhưng anh Hải Trung lại quên chưa báo cho anh Vũ Lăng biết nên mới xảy ra chuyện như vậy . Sau 2 năm yêu nhau , năm 1951 chúng tôi chính thức tổ chức cưới . Kể chuyện về Tướng Vũ Lăng với tôi Cô bảo : ông Vũ Lăng nhà tôi nóng tính và rất nghiêm . Lính ăn một trái cây của nhà dân cũng bị phê bình . Một hôm tôi và ông đến một cơ quan . Người ta mời ăn sầu riêng . Ăn một múi thấy ngon quá định hỏi mua mấy quả đem về ăn nhưng biết làm vậy ở đây anh Vũ Lăng sẽ không đồng ý . Tôi nháy chú công vụ , rồi đưa tiền bảo chú ra chợ mua . Lúc về , chú công vụ đi trước chúng tôi , 2 tay sách 2 quả sầu riêng . Thấy vậy anh Vũ Lăng hỏi ngay sầu riêng này ở đâu . Khi chú công vụ nói tôi đưa tiền ra chợ mua lúc đó nhà tôi mới thôi . Khi tôi hỏi cảm tưởng của Cô khi nghe quân ta giải phóng Buôn Ma Thuột thế nào . Cô bảo đến bây giờ Cô vẫn nhớ rất rõ ấn tượng khi nghe tin chiến thắng Buôn Ma Thuột . Sáng hôm đó vẫn còn sớm anh Phan Bình lúc đó phụ trách công tác tình báo của Quân đội cùng ở trong khu tập thể Lý Nam Đế , gần nhà tôi , chạy sang kêu lên :
Chị Hoa ơi ! Buôn Ma Thuột giải phóng rồi ! Vũ Lăng lần này nhất định là Anh hùng !
Nghe anh Phan Bình nói vậy cả nhà tôi đều rất vui mừng vì biết nhà tôi anh Vũ Lăng là người chỉ huy trận đánh này . Rồi Cô kể : Sở dĩ trận Buôn Ma Thuột thành công nhanh chóng có một phần là nhà tôi trước đây khi là Cục trưởng Cục tác chiến đã ở trong tổ đặc biệt gồm 3 người ( Lê Trọng Tấn , Vũ Lăng , Lê Hữu Đức do anh Lê Trọng Tấn lúc đó là Tổng tham mưu trưởng là tổ trưởng ) soạn thảo kế hoạch giải phóng Miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976 trong đó có kế hoạch tác chiến ở Tây Nguyên , nên khi vào làm chỉ huy ở Tây Nguyên anh đã nắm khá chắc được ý đồ của cấp trên nên thuận lợi cho công tác chỉ huy . Trong lúc mấy anh em chúng tôi trò chuyện về chuyện đánh Bộ Tổng tham mưu Ngụy và cắm cờ ở đây sáng 30/4/75 . Cô lắng nghe rồi kể : Cô có được nghe anh phụ trách công tác tình báo ở Sài Gòn năm 1975 , sau này ở cùng Quận 3 với Cô kể : Trong hội nghị Tổng kết Chiến dịch Hồ Chí Minh ở Đà Lạt năm 1975 , khi anh Vũ Lăng báo cáo diễn biến việc Quân đoàn 3 đánh chiếm và cắm cờ ở Bộ Tổng tham mưu Ngụy . Khi Quân đoàn 1 lên báo cáo cũng nói Quân đoàn 1 đánh chiếm và cắm cờ ở Bộ Tổng tham mưu Ngụy . Như vậy chỉ có một mục tiêu mà 2 đơn vị đều nói đánh chiếm và cắm cờ . Tôi đứng lên phát biểu bảo :
Tôi không biết đơn vị nào đánh chiếm và cắm cờ ở Bộ Tổng tham mưu nhưng tôi khảng định đó là đơn vị đánh từ sân bay Tân Sơn Nhất đánh sang .
Mà đánh từ Tân Sơn Nhất đánh sang thì chắc chắn là Quân đoàn 3. Như vậy việc đánh vào Bộ tổng tham mưu Ngụy chắc chắn là Quân đoàn 3. Rồi Cô bảo : ông nhà tôi kể ( Tướng Vũ Lăng ): Đêm 30/4/1975 , ông đang ở trong toà nhà Tổng hành dinh Bộ Tổng tham mưu Ngụy thì nhận được điện thoại từ Tư lệnh Quân đoàn 1 gọi đến nói là lệnh của trên Quân đoàn 1 sẽ vào canh giữ toà nhà Tổng hành dinh Bộ tổng tham mưu Ngụy thay Quân đoàn 3 . Tôi hỏi Cô khi nhận điện thoại từ Tư lệnh Quân đoàn 1 thì Tướng Vũ Lăng trả lời sao . Cô bảo Ông không trả lời gì . Sự kiện trên càng chứng minh Quân đoàn 3 mới là đơn vị đánh chiếm trước và cắm cờ trước ở Bộ Tổng tham mưu Ngụy .
Cuộc trò chuyện với Cô kéo dài tới gần 2 tiếng đồng hồ . Sợ Cô mệt chúng tôi xin phép ra về . Cô bắt tay từng người rất thân thiết rồi nói : Được gặp các anh hôm nay tôi có cảm giác như được gặp nhà tôi . Rồi Cô hẹn chúng tôi 2 tháng sau Cô lại ra Hà Nôi để về quê dự gắn biển con đường dài 2 km ở quê Thanh Trì - Hà Nội mang tên ông .

                                                                                                                    Nguyễn Đình Thi



    

TRẬN ĐẮK PEK

TRẬN ĐẮK PEK                                                                Nguyễn Đức Vinh C19 đặc công - E66


Căn cứ Đăk Pek ( phía VNCH còn gọi là tiền đồn Đức Phong) nằm sâu trong vùng giải phóng KonTum, trong một thung lũng rộng, cạnh Sông Dak PoCo vùng thượng nguồn với đồi nương xanh mướt, hoa trái xum xuê như tranh thủy mạc và quốc lộ 14B. Nét đặc biệt không nơi nào có được đó là vùng này bạt ngàn xanh: rừng XàNu. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông ở đất Bắc khi học bài trích giảng văn học có bài Rừng Xà Nu của Nguyễn Trung Thành mới miêu tả một phần nhỏ, thì nay tới mục kích mới thấy hết cái nghút ngàn, hùng vĩ của Xà Nu. Căn cứ Đăk Pek được xây dựng từ 1954 và được củng cố đến nay thành một cụm cứ điểm phòng ngự có công sự vững chắc vào loại kiên cố với sự chiếm đóng của tiểu đoàn 88 Biệt động Biên phòng ác ôn khét tiếng cùng với 1 tiểu đoàn lực lượng bảo an, thổ dân người thượng nổi tiếng là gan lỳ, thiện chiến, hận thù giai cấp và cuồng tín mê muội. Trong chiến dịch Tây Nguyên 1972 ta đã bao vây đánh gần 1 tháng nhưng không được. Mặc dù DakTo, Tân Cảnh, Diên Bình.. giải phóng liền một dải vào đến Võ Định. Nhưng Dak Pek vẫn vững chắc nằm giữa vùng giải phóng của ta, án ngữ phía Bắc Kon Tum với Quảng Tín. Sau một thời gian khá dài E66 - F10 và các đơn vị tham gia, chuẩn bị chu đáo, đi chuẩn bị chiến trường, lên sa bàn chiến thuật, bao vây Cứ điểm Dakpek (mật danh của phía QGP B3 gọi là X74). Đúng 15.00h ngày 15/5/1974 các cụm pháo của ta bắt đầu nhả đạn tới tấp vào Dakpek. Đúng 18.30, C19 Đặc công E66 được lệnh vác gỗ và vào đào hầm chiếm lĩnh trận địa, trong khi các loại pháo ta vẫn tiếp tục bắn phá hoại và kiềm pháo của địch. Một cuộc xuất kích vác gỗ quá nặng, vất vả chưa từng có, hoàn toàn đi theo suối lầy, bãi sậy, sườn đồi vừa tối vừa trơn, cả gỗ cả 3 cơ số đạn, thủ pháo nặng gần 40 kg. Địch có tiền đồn Đồi đá, án ngữ khống chế nên đi lại tiền nhập rất khó khăn. C130 thả pháo sáng liên tục, bầu trời sáng rực . Pháo sáng trong trong đồn bắn treo lơ lửng trong không trung. Cả đội hình hai trung đoàn bộ binh từ các hướng đang rầm rập kéo vào chiếm lĩnh trận địa trước con mắt mù dại của C130 và bọn địch trong đồn. Quãng 2.30h bộ đội mới vào tới bãi chuối ven sông để đào hầm. Côí 81ly, M79 trong điểm N và B bắn ra liên tục . Khoảng 4.30h công sự đã đào xong và ngụy trang kín đáo (do đất bồi phù sa và cát sát ngay mép sông nên đào khá nhanh). Đăkpek vẫn phủ một lớp sương mù dày đặc của cao nguyên trung phần. Địch vẫn không hề biết hàng trăm khẩu AK. B40 chỉ còn cách chúng trên thước ngắm 150-200m. Đúng 8h kém 5 phút sáng 16/5/1974 pháo binh ta bắt đầu cấp tập bắn phá hoại các khu A.B.C.N.E.I.K...và cả Quận lỵ Đăkpek nữa. Các cỗ pháo chúc nòng bắn thẳng, đạn đi căng một cách kinh khủng: 105, 85 nòng dài, DK, 12,7 ly, 37 ly, 23mm , 122 nòng dài, cối 120 ly, cối 160 ly, 82 ly ...nhả đạn mãnh liệt vào các điểm quy định. Tăng của ta từ hướng Bắc đi dọc ven sông đang tiến vào đường 14b. Đạn rít lên nghe ghê sợ. Công sự, nhà tôn cộtcờ của địch tung lên từng cụm, lửa cháy rần rật, kho đạn nổ tung, đạn nổ liên hồi, pháo ta vẫn tiếp tục bắn. Lên cửa hầm quan sát tận mắt: nhà tôn, lô côt tung lên rồi rơi lả rơi xuống. ĐK khói vàng, pháo khói đen, pháo khoan công sự rung lên bần bật, còn loại vũ khí đạn gì không rõ bay réo ào ào như trận bão lớn tất cả lao vào các chốt đỏ loét và công sự của địch. Khoảng 10.30h pháo hiệu xanh lên 2 quả, báo hiệu bộ binh bắt đầu lao lên mở cửa. Thật là đẹp tuyệt vời các chiến sỹ Đặc công C19 ôm giá mìn lao lên cửa mở, giá mìn xong, điểm hỏa lao xuống, một cum khói đen trùm lên hàng rào địch bay đi. Trong đám khói ấy lại có người lao lên và lại một hàng rào nữa bay đi. Hai hàng rào đầu đã bay đi, Anh bắt đầu dẫn A3 lao lên đánh hàng rào thứ 3 bằng một giá ĐH 10, hàng rào bùng nhùng rộng và dày, mìn quét không sạch , phaỉ tiếp tục dùng bộc phá ống dài 10Kg đánh tiếp mới bay hết hàng rào này. Chỉ huy hai A3. A1đánh tiếp 02 giá ĐH 10 cho hai hàng rào còn lại, chạy lên chạy xuống ra lệnh, dẫn từng chiến sỹ đánh nốt 03 hàng rào. Lúc này mệt thở đứt hơi không thở được nhưng đã đến sát lô cốt đầu cầu, thế là lại lao lên đánh 01 quả 04 lạng thủ pháo TNT vào lỗ châu mai. Khói vừa tan bắn ghăm gần hết băng AK rồi mới chạy xuống chuẩn bị dẫn trung đội thọc sâu vượt cửa mở. Đúng theo hợp đồng pháo ta lại cấp tập thêm 15 phút vào các khu vực quy định. Với điểm N do C19 đảm nhiệm cửa mở đã thông, Tôi báo cáo C trưởng Quang cho bộ đội xung phong đánh vào trung tâm. Tôi lại lao lên dẫn A1 đánh tiêp lô cốt đầu cầu 01 quả 02 lạng vào vị trí 23. Các Trung đội bạn khác đánh chiếm các mục tiêu ở hướng bên cạnh là các mục tiêu được đánh số C6, C7,C3, cũng đang ào ạt tấn công. Tăng của ta rú ga lao lên trận địa ở khu B. Lúc này lô cốt số 2 ở sát khu 20 có hai quả US ném lên. Chiến sỹ Kha người Hà Tĩnh mới ở Vệ binh E được bổ sung xung gọi anh Vinh ơi, địch.. . Tôi vừa kịp nằm xuống lấy chân đẩy quả US rơi xuống chiến hào thì 2 giây sau quả US nổ, mảnh đạn , đất đá bay mù mit. Ta bắt đầu gọi hàng, có 03 tên mặc rằn ri biệt động quân từ hầm ngầm giơ tay hàng, thật là nhục nhã cho QLVNCH với những bộ rằn ri loang lổ thêu những phiên hiệu kì quái đang run rẩy “ em xin hàng, xin cho được sống, bằng giọng miền Nam”. Lúc này Trung đội 2 cũng đang ào ào lao lên. Tôi lao sang cánh phải chỉ huy anh em đánh địch ở hầm ngầm vừa ném lựu đạn lên. Tôi nhảy xuống hào men theo tường, nói với Kha cảnh giới phía trên. Tôi đến cửa hầm tung liền 02 quả thủ pháo 04 lạng và điểm xạ bắn một băng Ak vào hầm 23. Vào tảo trừ, anh em thấy xác địch chồng lên nhau, chết đen thui mềm nhũn, khét lẹt. Say chiến trận, say khói súng, bắt một tù binh chỉ hầm ngầm trung tâm, thu giữ luôn một đại liên tại vị trí trung tâm. Khắp trận địa tiếng pháo tay tảo trừ vang lên. Nằm sâu dưới lòng đất chừng 03 m là hầm ngầm chỉ huy có 3 tầng. Tôi bắt tên tù binh vào gọi hàng. Sau lần gọi hàng đầu tiên, 02 quả US được ném ra không phát hiện được hướng ném. Tôi cho gọi A1 mang 01 bộc phá khối 10kg áp sát vào bờ hào và đẩy sâu vào cửa tầng 01 của hầm ngầm rồi điểm hỏa. Chạy chưa được 10 m thì cả khối bộc phá nổ, đất dưới chân cũng sụt luôn, khói đen ngột ngạt và tức thở. Hầm ngầm sâu thiết kế chống phá hủy nên địch không hề hấn gì. Từ dưới cửa sâu chừng 03 m, cách chỗ bộc phá nổ 10m, tiếng phụ nữ tiếng trẻ con kêu khóc, tiếng xin hàng nhốn nháo vang lên. Bộ đội bực quá đề nghị không cho hàng. Tôi bình tĩnh, đề nghị anh em sẵn sàng một quả 10 kg nữa, nếu nó vờ hàng thì cho bay luôn và đề nghị cho tên tù binh gọi vào: Giải phóng chấp nhận cho hàng:đàn bà con gái, trẻ con lên trước, lính lên sau, không mang súng đạn, giơ hai tay lên đầu, cách nhau 2m một người. Lũ lượt khoảng hơn 30 người dân là vợ con, người nhà, trẻ con từ ẵm ngửa, đến con gái, bà già lên trước, 13 tên lính đi sau không hề bị thương lên hàng sau. Bố trí cho A1 trông tù binh xong, A2 vào thu vũ khí. Sau chừng 01 giờ tác chiến ở điểm N. đại đội 19 hoàn toàn làm chủ trận địa một cứ điểm của địch cố thủ, có công sự vững chắc có hầm ngầm, có 06 hàng rào bao bọc. Diệt gọn địch thuộc đại đội 1, Biệt động quân tiểu đoàn 88, bắt sống 13 tên, thu nhiều vũ khí AR 15, 04 đại liên, 1 cối 61 01 máy PRC25 nhiều M79, 03 maý đàm thoại và nhiều loại trang bị khác, giải phóng nhiều người dân, người nhà và nhiều người do địch bắt vào để phục vụ hậu cần . Lúc này Tôi mới phóng tầm mắt phóng tầm mắt sang các điểm C và B cờ giải phóng phấp phới bay, tù binh ngụy run rẩy ra hàng lũ lượt dưới mũi súng của các chiến sỹ đoàn Pleime anh hùng. Dân kéo nhau ra theo cách mạng hàng hàng, lớp lớp. Trên trời mấy chiếc AD6, F5 E vọt lên cao bất lực vì hỏa lực phòng không 37, 57 ly, 23 ly bắn mãnh liệt, bay một lúc ném bom vu vơ rồi cút mất. Bầu trời Dakpek mờ mờ khói bay, còn thưa thớt tiếng súng của ta tảo trừ. DakPek trên 09 mỏm chiến đấu sa bàn, quân ta đã hoàn toàn làm chủ. Thiếu tá Nguyễn Ngọc Dy - Tiểu Đoàn Trưởng tiểu đoàn 88 Biệt Động Biên phòng, đại úy tiểu đoàn phó cùng toàn bộ Ban tham mưu bị bắt sống cùng hơn 200 tù binh được đối xử tử tế và được dẫn giải ra vùng giải phóng. Dân được đưa đi sơ tán. C19 nhận nhiệm vụ giải tù binh và đưa dân đi sơ tán. Đây là trận đánh vào công sự vững chắc bài bản đầu tiên của Tôi, thấy công tác chỉ huy thật bài bản và thực sự thấy khả năng tác chiến họp đồng binh chủng cấp sư đoàn của QGP có thể thực hiiện đánh thắng ở cấp độ lớn.
Nhưng không ai học được chữ ngờ, đau xót vô cùng.
Khi đến vị trí bàn giao tù binh cho đơn vị bạn. Tôi được nhiệm vụ cùng 02 đồng chí dẫn dân vào vị trí tạm giao cho huyện đội ở một khu khác cách vị trí giao tù binh chừng 1 giờ đi bộ. Chia tay nhau hẹn mai nghỉ ngơi, hút thuốc. Còn lại toàn bộ C19 giải tù binh đến vị trí giao tù binh xong, cũng đã muộn, anh em vừa tranh thủ ăn cơm thì 06 chiếc F5E lao đến ném bom tọa độ trúng đội hình C19. Bốn đồng đội của Tôi: Cư ( Hà Bắc), Đang (Hà Tây), Lành (Thanh Hóa), Lịch ( Vĩnh Phú) hy sinh tại chỗ, 06 người bị thương ( hôm sau một đồng đội bị thương Anh Lê (Vĩnh Phú) cũng hy sinh). Đau thương tổn thất thật nặng nề, xảy ra vào lúc tưởng rằng hoàn ca trọn vẹn. Bốn đồng đội hy sinh cùng trung đội, hôm qua còn cùng chung mâm cơm, trưa nay còn cùng lao lên đánh thủ pháo, diệt thù. Cùng buồn vui qua các chiến dịch, kể cho nhau những chuyện riêng tư của từng người. Đ/c Đang quê Thường Tín Hà Tây, sinh viên năm thứ 2 ngoại thương, có răng khểnh cười duyên dễ thương vô cùng. Đ/c Cư người cao to dân Bắc Giang, tóc rễ tre, khỏe mạnh là A phó, bất cứ ai có gì khó khăn là giúp đỡ không cần hỏi. Đ/c Lành, Thanh hóa rau má phá đường tàu, da min màng như con gái, cái tên đã nói lên tính cách đáng yêu rồi. Lịch thì khác B nhưng sống với nhau chan hòa. Anh Lê, Trung đội phó cùng A Duyện B phó B2 đều quê Vĩnh Phú, xin xà phòng, đều to khỏe, xốc vác. Vậy mà về nơi tập kết, trống vắng quá, nghe tiếng động nhìn ra cứ tưởng các Anh về. Sau mấy tháng đánh lấn chiếm cuối năm 73, đầu 74 , C19 bị tổn thất nặng nề chỉ còn lại một số lính cũ như các Anh, nay các Anh lại ra đi. Về đơn vị, dù thắng trận nhưng buồn vô kể, thu dọn quân tư trang gói gém cho các Anh, Tôi khóc ròng nức nở, đau thương quá. Cư và Đang rất hay tâm sự với Tôi và cả hai sống chân thành tình cảm như anh em ruột, chia nhau từng củ sắn, hơi thuốc cuốn đồng bào. Gia tài để lại chiếc ba lô, chỉ có của riêng là mấy tờ giấy báo cũ vài tờ giấy vở mới, xin khi qua đường dây để cuốn thuốc đồng bào hút cho đỡ nóng, chứ giấy mỏng polye cháy nhanh nóng cổ lắm. Vĩnh biệt các Anh, Tôi lại nhìn lên đỉnh núi vùng Ngọc Linh, những ngọn XàNu nhọn hoắt lúc này lại rực nắng chiều như những ngọn nến đỏ oan ức thắp lên nền trời xanh. Tôi lại chợt nhớ những hoàng hôn đỏ ối màu máu bên dòng DakBla hôm nào. Đồng đội của Tôi nằm rải rác, canh giữ trên khắp các ngả chiến trường Tây Nguyên đất đỏ trở nên: Đất Thiêng này. Các Anh đã trọn vẹn làm nên chiến thắng, các Anh đã đi vào Lịch sử, chúng Tôi sẽ mãi gọi tên các Anh hôm nay ở Cao Nguyên DakPek đầy nắng, gió, đẫm máu và nước mắt này.