CHUYỆN VỀ NGÀNH QUÂN GIỚI MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN


Những năm đánh Mỹ - Ngụy, chiến trường Tây Nguyên ở xa hậu phương nên việc sửa chữa quân khí gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng với tinh thần vượt lên mọi khó khăn để chiến thắng quân thù, các cán bộ, chiến sỹ ngành Quân giới Tây Nguyên đã say mê nghiên cứu và đã có những đóng góp quan trọng vào chiến công của quân và dân Tây Nguyên. Trang Lính Tây Nguyên trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc những mẩu chuyện về ngành Quân giới Tây Nguyên của đồng chí Đinh Đức Cường và Ngô Khắc Thường - Nguyên cán bộ Ban Quân giới Mặt trận Tây Nguyên .
1. SẢN XUẤT MÌN ĐỊNH HƯỚNG VÀ BỘC PHÁ ỐNG
Từ năm 1968 căn cứ vào tương quan lực lượng ở chiến trường Tây Nguyên - B3, là tác chiến chủ yếu đánh địch hành quân cơ động và co cụm tạm thời. Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên giao cho X53 tập trung nghiên cứu sản xuất các loại mìn định hướng: ĐH7, ĐH10, ĐH20... các loại bộc phá ống 3kg, 5kg, 7kg và các loại quân cụ hỗ trợ khác, đã giúp cho bộ đội ta đánh địch hành quân và co cụm trong công sự tạm thời rất tốt. Từ năm 1968 đến năm 1971, xưởng (X53) đã sản xuất hàng nghìn mìn định hướng, bộc phá ống và quân cụ, đồng thời sản xuất một số chi tiết, phụ tùng thay thế cho súng, pháo và khí tài quang học.
Đến năm 1971, bộ đội chủ lực của ta đã mạnh dạn lên, địch không dám hành quân đánh vào vùng giải phóng của ta mà co cụm trong các đồn bốt, cứ điểm có hàng rào dây thép gai kết hợp với công sự bê tông và bao cát bao bọc rất kiên cố. Ta đã đánh hàng rào bằng các loại bộc phá ống 5kg, 7kg, và mìn định hướng ĐH20 xong kết quả không phá được các lớp hàng rào hỗn hợp của địch, bao gồm hàng rào "cũi lợn", hàng rào chữ A, hàng rào lò xo kết hợp có bề rộng nhiều khi đến 30m. Vì sức nổ của bộc phá và mìn không đủ sức cắt đứt dây thép rất dai, chúng đàn hồi như lò xo tung lên lại bật xuống. Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên giao cho X53 nghiên cứu, sản xuất loại mìn phá rào này, do Ban Quân giới B3 trực tiếp chỉ đạo.
Các đồng chí Nhàn, Hoán được giao chịu trách nhiệm kỹ thuật; sau nhiều ngày đêm nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng dù có tăng lượng thuốc nổ lên thì chỉ có thế làm đứt một phần các sợi dây thép gai vì chúng mềm và bùng nhùng không bị căng cứng nên ít chịu tác động của sóng xung kích và chúng được kết nối với nhau liên hoàn trải trên diện rộng nên không thể thổi bay tất cả dù có cho tăng chất nổ lên nữa.
Vậy muốn cắt đứt hàng rào này, phải nhờ sóng xung kích và vật cắt kết hợp có độ cứng và sắc cao, sau khi nghiên cứu chúng tôi cho anh em đi nhặt các mảnh bom và đầu đạn pháo về cho vào lò rèn nung đỏ chặt ra để nguyên cạnh sắc sau đó tôi thật già, và xếp vào trong mìn định hướng đem thử nghiệm kết quả các mảnh bom, đạn nhờ sóng xung kích văng đi như một lưỡi dao sắc cắt đứt các dây thép ngọt lịm. Thế là đã có hướng.
Chúng tôi tiếp tục điều chỉnh lượng thuốc nổ và vị trí góc đặt của các mảnh bom trong mìn định hướng, cho phù hợp với hàng rào của địch để các mảnh cắt có tác dụng nhiều nhất. Cuối năm 1971 thí nghiệm đã thành công mỹ mãn được Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên công nhận.
Cuối năm 1972, khi ta đánh địch tại cứ điểm Plây Cần đợt 2, ta chính thức đưa loại mìn định hướng này vào sử dụng. Đơn vị sử dụng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 Sư đoàn 10 do đồng chí Tạ Oanh làm Đại đội trưởng tiến hành mở cửa mở, kết quả là toàn bộ số hàng rào dây thép gai bị thổi bay và đứt sạch với chiều rộng khoảng l0m, góp phần cho bộ đội của ta đánh địch. Trận đó Sư đoàn 10 đã tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Plây Cần của địch nhanh chóng, ta ít thương vong. Sau này một sĩ quan ngụy đã thú nhận: Chúng tôi nghĩ các ông không có thứ gì có thể thổi bay hàng rào của chúng tôi như thế, nên đã chủ quan.
Tiếp đó, chúng tôi đã sản xuất loại mìn MĐH35 có thể thổi bay bất cứ loại hàng rào nào của địch, được Bộ Tư lệnh Mặt trận khen ngợi và các đơn vị rất tin tưởng.
Một lần đi công tác gặp một đơn vị bộ đội hành quân, chúng tôi vượt lên và ngồi nghỉ, một lúc sau đơn vị đó hành quân tới, trời mưa đường trơn một anh ngồi bệt xuống thở dốc cạnh chúng tôi, làu bàu: Tay nào nghĩ ra cái loại mìn MĐH35 này đánh thì tốt nhưng nặng quá. Nó thử đến đây gùi quả mìn này xem?
Mấy anh em tôi im lặng nhìn nhau, sau đó về báo cáo lại với cấp trên và bàn cách để giảm trọng lượng quả mìn. Sau đó chúng tôi nghĩ ra làm thành hai nửa quả mìn riêng biệt khi vào trận thì ghép lại thành một để bộ binh đỡ nặng được anh em rất khen ngợi.
2. SỬA CHỮA CÁC LOẠI SÚNG, PHÁO
Trong quá trình chiến đấu cơ động liên tục trong địa hình rừng núi, vũ khí, khí tài luôn bị hư hỏng bởi nhiều nguyên nhân.
Một là: 100% các loại súng máy cao xạ 12,7mm trên xe tăng cơ động từ Bắc vào Tây Nguyên đều bị hư hỏng bởi hai nguyên nhân chính là: - địch đánh phá, và quá trình cơ động trong rừng bị các cành cây ngáng gãy và hư hỏng, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Trần Thực – Xưởng trưởng (X114), chúng tôi đã khôi phục toàn bộ số súng máy trên xe tăng đảm bảo chiến đấu tốt.
Hai là: Cũng do quá trình cơ động từ miền Bắc vào Tây Nguyên bộ phận hành quân của pháo cao xạ 37mm bị rơ mòn, sinh lắc ngang làm cho quá trình cơ động trên đường đi pháo không đi thẳng theo xe kéo mà luôn chuyển hướng lắc sang hai bên, có lúc xoay ngang làm cho xe kéo gặp rất nhiều khó khăn, có khi phải dừng để xử lý tình huống. Nguyên nhân chủ yếu là do một chi tiết mà anh em quen gọi là (bàn tay ếch) của bộ phận chuyển hướng bị rơ mòn quá lớn, trong lúc phụ tùng thay thế không có mà sản xuất mới thì các xưởng quân giới Tây Nguên chưa đủ máy móc thiết bị và trình độ để sản xuất. Qua nghiên cứu, kỹ sư Ngô Khắc Thường - Xưởng phó X114 đề xuất bằng cách tiến hành hàn đắp chi tiết cũ sau đó đưa lên máy bào thay cho máy sọc để gia công rãnh then hoa. Đề xuất này được Ban chỉ huy X114 đồng ý và cho tiến hành làm thử, kết quả là khi thay vào pháo hành quân bình thường. Sau đó chúng tôi đã xử lý hàng loạt đảm bảo cho loại pháo này hành quân cơ động, chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên từ năm 1972 đến khi giải phóng miền Nam.
Cuối năm 1972 đầu năm 1973 lần đầu tiên miền Bắc chi viện cho Mặt trận Tây Nguyên một bộ xe công trình xa 5 chiếc của Liên Xô gồm:
- Xe công trình xa kiểm tra, sửa chữa tên lửa 9K11 và 9M32, 9M32M mà ta quen gọi là A72 và B72.
- Xe công trình xa kiểm tra sửa chữa quang học.
- Xe công trình xa kiểm tra sửa chữa ra-đa.
- Xe công trình xa kiểm tra sửa của máy chỉ huy.
- Xe công trình xa kiểm tra, sửa chữa cơ khí.
Có xe hộ tống đi kèm, với một đội ngũ cán bộ kỹ thuật được đào tạo bài bản từ miền Bắc vào do Trung úy kỹ sư Chu Hiển làm Đoàn trưởng mang mật danh B3-S9 tăng cường cho B3, từ đây sẽ làm cho cục diện bảo đảm kỹ thuật Mặt trận Tây Nguyên thay đổi, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo đã xuống tận nơi kiểm tra động viên anh em.
Tôi nhớ lúc hành quân vào đến; đèo Phu La Nhích chiếc xe công trình xa quang học do tôi phụ trách, Nguyễn Văn Linh lái xe đi đầu khi vượt đèo gần đến đỉnh xe bị dệ xuống mép tà ly âm do một hố bom cũ công binh lấp bị lún. Linh lái xe ga mạnh để chiếc xe vọt lên thì nghe bụp một cái khói mù mịt ở đầu xe, chiếc xe chết máy nằm khự lại, kiểm tra thì xe bị bục đệm nắp máy đường bị tắc vô cùng nguy hiểm hàng đoàn xe nằm phơi trên đèo.
Một đại đội trưởng công binh dẫn mấy chiến sĩ đến, sau khi xem xét hạ lệnh:
- Các đồng chí rời xe để đánh chiếc xe này xuống vực thông đường cho cả đoàn xe vượt đèo ngay.
Đoàn trưởng Chu Hiển lúc đó vẫn ở cuối đoàn, không hiểu sao lúc đó tôi lại hăng đến thế. Tôi quay ra tuyên bố:
- Các đồng chí có biết cái xe này là gì không? Cả mặt trận mới có một chiếc xe duy nhất đấy, chúng tôi biết đoạn đường bị ùn tắc là rất nguy hiểm, xong chiếc xe này phải giữ bằng được, hãy điện về binh trạm đi. Đồng chí đại đội trưởng công binh thấy vậy cũng chờn, đi điện về binh trạm khi biết tầm quan trọng của chiếc xe này anh em công binh tức tốc cho bạt ta luy để cho đoàn xe cắt qua về trạm kế tiếp. Đoàn chúng tôi xuống đèo nghỉ lại phía dưới chờ xe tới sửa chữa xong, hai hôm sau xe tôi mới xuống đèo. Trong hai ngày đó các cô thanh niên xung phong thay nhau mang cơm nước cho tôi và lái xe Linh, nhưng ở trên đèo mấy ngày không tắm giặt là cực hình khó chịu nhất mà tôi trải qua khi vào chiến trường.
Khi chúng tôi vào đến vị trí tập kết mà xưởng vừa chuyển đến được mấy hôm, đồng chí Trần Thực ra đón chúng tôi thật xúc động. Ông quay sang bảo anh nuôi:
- Hôm nay có anh em ngoài Bắc vào, cậu cho thịt chú lợn để chiêu đãi anh em cho "mát" ruột nhé.
Bọn tôi mừng quá, bao ngày hành quân toàn ăn lương khô, đồ hộp háo thật. Đến bữa ăn chỉ thấy mỗi xoong sắn dính mấy hạt cơm và một xoong lõng bõng toàn nước có mấy miếng bí xanh nhạt thếch và một đĩa lá sắn ngâm chua không mắm muối. Đồng chí Uông là anh nuôi người Hà Tây bảo với chúng tôi:
Hôm nay thủ trưởng mới quyết định thịt con lợn này để dành mãi đấy các ông ạ, rồi các ông sẽ biết ngay thôi mà.
Anh em trong đoàn tôi không ngờ lại thế, mấy cậu lái xe “đầu têu” bỏ về xe thế là cả đoàn về xe lấy gạo, đồ hộp còn trên xe ra nấu ăn ngay, khi ăn xong cậu Linh rửa nồi úp cả nửa nồi cơm còn dở xuống ngay bạt lá khô bên cạnh. Đồng chí Trần Thực thấy thế đi ra, ông cúi xuông bê vầng cơm cháy lên lắc đầu nhặt sạch lá, bẻ một miếng cho vào miệng và bê tảng cơm về nhà bếp giao cho anh nuôi. Cái hình ảnh ấy cứ theo tôi cho đến hôm nay khi tôi viết những dòng này, khi ông đã về thế giới bên kia, ông đã để lại cho tôi và những chàng lính cậu một bài học sâu sắc nhất.
Tối ấy họp với đoàn, ông đã nói hết cho anh em hiểu, tiêu chuẩn ở đây mỗi ngày một người một lạng gạo, muối thì luôn thiếu, chúng tôi đã nộp hết số gạo thực phẩm còn trên xe để đơn vị dùng chung cũng tạm thêm được ít ngày và bắt tay vào chuẩn bị cho những ngày gian khổ nhất của chiến trường.
(Còn nữa)
    

NGÀNH XE MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN NHỮNG NĂM KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

                                 Đại tá PHẠM CANG

Tháng 10 năm 1967, ban xăng xe Tây Nguyên ra đời. Tôi được bổ nhiệm làm phó ban, rồi trưởng ban. Nhưng lúc đó cả chiến trường Tây Nguyên chưa có một chiếc ô tô nào, chỉ toàn xe đạp thồ. Đến tháng 11 năm 1967, mới mua được hai xe Lan Rơve của tư thương Cam-pu-chia. Đây là 2 xe đầu tiên của chiến trường Tây Nguyên (anh em gọi là xe Lăng bụi tre). Lực lượng xe cơ giới của B3 phát triển khá nhanh, đến năm 1968, toàn chiến trường đã có các binh chủng kỹ thuật, pháo binh, cao xạ, đã có 84 xe gồm nhiều nhãn hiệu khác nhau. Đặc biệt có 11 xe tăng lội nước PT76, của Đại đội xe tăng 16. Nhân lực có 116 lái xe, 15 đồng chí lái ca nô và 15 đồng chí thợ sửa chữa xe do đồng chí Khánh phụ trách. Như vậy, từ năm 1965, tôi đã có mặt ở chiến trường Tây Nguyên và bền bỉ bám trụ cho đến 1975 tính ra là 10 năm. Ai đã từng ở Mặt trận B3, từng trải qua những mùa mưa mới thấy được hết sự gian khổ của người lính. Bệnh tật, sốt rét rừng và đói, là chuyện thường ngày. Đói khủng khiếp, đói vàng mắt. Vào mùa khô, xe chạy được thì cán bộ, chiến sĩ ở Tây Nguyên mới được no. Trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, mới biết tình người, tình đồng chí thật quý vô cùng. Chúng tôi chia nhau từng củ khoai, củ sắn, mẩu thuốc vụn. Thèm thuốc quá, phải hút cả râu ngô. Tôi nhớ hồi đó, tôi thường nhờ anh Chấc người ở Ninh Hòa, Khánh Hòa là Đại đội trưởng C141 (Đại đội xe đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên) mang mấy bộ đồ đi đổi thuốc. Sau này gặp, nhắc lại chuyện là nhận ra nhau ngay. Không chỉ đói, và thiếu thốn đủ thứ, B3 còn là một chiến trường không kém phần ác liệt. Địch mở nhiều chiến dịch lớn hòng tiêu diệt các đơn vị chủ lực của ta, cắt đứt hành lang chi viện theo đường mòn Hồ Chí Minh. Trong đó điển hình là chiến dịch Plei Me tháng 10 và 11 năm 1965. Nhiệm vụ vận tải hậu cần cho Mặt trận rất cấp bách, tôi và anh Tổ ở bộ phận kế hoạch phải tìm một con đường ngắn nhất và an toàn nhất. Chúng tôi rất vui mừng vì anh Kiều Tổ là cán bộ hậu cần đầu tiên, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba, vì là người đã có công soi đường, tìm ra con đường đó.
Sau Tết Mậu Thân 1968, địch đã hoàn hồn và quay sang càn quét dữ dội. Để bảo toàn lực lượng, toàn bộ xe tăng và xe pháo hạng nặng cùng các loại binh khí, khí tài không chuyển về hậu cứ được, phải đào hầm cất giấu. Các Trường Quân chính, Trường Thiếu nhi dân tộc, Trường Đào tạo y sĩ và cán bộ, chiến sĩ bệnh tật, ốm yếu đều được chuyển ra miền Bắc. Các đơn vị còn lại đều được chuyển vê khu cầu Lầy, nằm sát biên giới Cam-pu-chia, là trung độ tuyến hành lang chiến lược qua Tây Nguyên, nối liền với cửa khẩu VQ5, để học tập và tăng gia sản xuất, sắn (củ mỳ) là cây rất dễ trồng và rất thích hợp với vùng đất Tây Nguyên. Các đơn vị được giao chỉ tiêu mỗi người trồng 500 gốc. Nhưng Trung đoàn 66 đã trồng mỗi người 1.000 gốc. Các cơ quan ở Mặt trận B3 đều thành lập bộ phận chỉ huy tăng gia sản xuất. Bộ Tư lệnh B3 thành lập Ban sản xuất do đồng chí Đặng Văn Lục làm Trưởng ban. Mỗi lần xuống đơn vị kiểm tra, anh Lục không tài nào đếm được số lượng chính xác gốc sắn đã trồng. Anh liền nghĩ ra một sáng kiến, người đi kiểm tra rẫy sắn của các đơn vị phải mang theo một bó lạt (chẻ từ cây nứa) đã đếm trước, mỗi bó 500 sợi, cứ một gốc sắn lại cột một sợi giây. Cách này có vẻ hơi "thủ công", nhưng khá chính xác. Sau khi tổng hợp, đơn vị có cá nhân không đạt chỉ tiêu sẽ bị phê bình nặng, cán bộ phụ trách bị giáng chức và phải kiểm điểm trong chi bộ. Thời kỳ đó, lương thực của B3 chủ yếu là sắn, còn gọi là "cơm to". Còn "cơm nhỏ" là gạo dành cho bệnh xá, cho người ốm. Mặc dù anh em rất tự giác, nhưng vẫn phải kiểm tra chặt chẽ và kỷ luật nghiêm khắc. Nếu không, sẽ không có gì ăn để bám trụ. Ngày ấy, anh em hay nói vui "ăn để mà sống, chứ đâu phải sống để ăn".
Cuối tháng 2 năm 1971, xe ô tô không chạy được từ cánh Nam ra cánh Bắc. Để đảm bảo nhu cầu vật chất cho chiến dịch, phải vận chuyển bằng xe đạp thồ. Các đơn vị vận tải bộ được cấp khoảng 100 chiếc. Từng đoàn xe đạp thồ nối đuôi nhau đông vui như trẩy hội. Sức chở ngày càng được nâng cao, từ 100kg/xe lên 150kg/xe, vậy mà vẫn chưa bảo đảm nhu cầu cho chiến dịch. Trong cái khó ló cái khôn. Ban Xăng xe có sáng kiến, tháo rời 2 chiếc xe ô tô ra từng bộ phận, giao cho bộ đội vận tải khiêng, vác qua đèo cao, dốc đứng. Đến đoạn có đường xe thồ, thì anh em mở rộng thêm đường, lắp xe vào chạy. Xe Gaz chạy suốt đoạn đường từ trạm Q8 đến Qll dài khoảng 20km. Xăng dầu phải mua từ Cam-pu-chia, vận chuyển bằng đương bộ về cung cấp cho xe chạy. Đã có 2 đồng chí hy sinh bị xăng đốt cháy. Trong khu rừng rậm gần biên giới Cam-pu-chia, từng đoàn người xuôi ngược nối tiếp nhau đi giữa ban ngày, lại có tiếng máy nổ của xe ô tô, thấy thật khí thế. Đúng là "Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù".
Trong năm 1971, Bộ tiếp tục bổ sung cán bộ kỹ thuật và trang bị cho chiến trường Tây Nguyên. Ban Xăng xe B3 được bổ sung hai kỹ sư ô tô, là các anh Lê Hồng Thái; Nguyễn Văn Minh và một số cán bộ kỹ thuật: các anh Cương; anh Hải; anh Quân; anh Xoa... Anh Nguyễn Văn Nhã và anh Tường phụ trách xăng dầu, còn anh Hồng phụ trách xe đạp. Thêm một Tiểu đoàn vận tải ô tô 827 do anh Nàm phụ trách và một đại đội ô tô ở cánh Bắc. Thêm một trạm tiểu tu ô tô, một trạm tiểu tu xe xích và một Trạm sửa chữa xe đạp thồ. Như vậy lực lượng vận tải do hậu cần quản lý có gần 600 chiếc xe đạp thồ, 23 ca nô các loại, tập trung ở cánh Trung và trên 106 xe ô tô các loại ở cánh Bắc, kho chứa xăng dầu khoét sâu trong lòng núi, lắp đặt bế sắt to ở cánh Bắc một kho và ở cánh Nam một kho. Đến thời điểm này, đường vận chuyển ta còn mở rộng sang hướng đoàn 671 (Cam-pu-chia). Tuyến cơ giới kết hợp đường sông và đưòng bộ dài khoảng 300km.
Mùa mưa năm 1971, công tác hậu cần gặp nhiều khó khăn. Bộ Tư lệnh B3 cử tôi và anh Nguyễn Khoách mang theo máy bộ đàm 15W, cùng 5 chiến sĩ bảo vệ đi đến đồn điển cao su ở Bản Lung Cam-pu-chia bắt liên lạc Đoàn 671. Sau khi xác định tọa độ điểm đến trên bản đồ, chúng tôi xuyên rừng từ căn cứ B3 đến đồn điển cao su ỏ Bản Lung, tỉnh Monđunkiri nước Cam-pu-chia. Hơn 10 ngày đêm vất vả, khi bắt được liên lạc với người của Đoàn 671 mới cho một số anh em về hậu cứ xin lực lượng mở đường xe thồ, dài khoảng 30km. Đoàn 671 do ông Dũng (Dũng méo) Phó Tư lệnh B3 phụ trách đóng ở khu rừng ngoại ô thị xã Strung Treng, tiếp nhận hàng viện trợ của miền Bắc và mua hàng từ Phnôm Pênh, chuyển ra bằng xe máy. Tôi và anh Khoách ở lại. Anh Khoách phụ trách kế hoạch, tôi phụ trách công tác vận tải hàng. Nhờ sự giúp đỡ của một số Việt kiểu ở đó, chúng tôi đã thuê được 2 xe tải lớn chở hàng tập kết ở bờ sông Xêrêpốc. Còn bờ sông bên kia cũng có một tiểu đoàn vận tải bộ, tiếp nhận và dùng nhiều phương tiện khác nhau đưa hàng vể binh trạm Trung. Sau khi ta giúp bạn giải phóng Bản Lung, địch bỏ chạy để lại một số phương tiện. Trong đó, có cả xe khai thác gỗ của dân, chúng không dám quay lại lấy xe. Tôi tổ chức thu hồi trên 20 xe. Để đảm bảo có hai xe chạy thường xuyên, chúng tôi có phương châm hỏng đâu thay đó, râu ông nọ cắm cằm bà kia, miễn là xe chạy được. Trong hoàn cảnh khó khăn lúc ấy, nhìn xe chạy mà cười ra nước mắt. Việc làm tuy nhỏ, nhưng đã chuyển hàng về kho của Binh trạm Trung, nhanh hơn và nhất là giảm được gần một tiểu đoàn vận chuyển bộ. Đầu mùa khô năm 1972 tôi về lại đơn vị, cùng với ngành Xe B3 chuẩn bị kỹ thuật cho nhiệm vụ mới.
Mùa xuân năm 1972, với khẩu hiệu "Trường Sơn chuyển mình, Pô Cô dậy sóng", xe tăng, xe tải phủ kín lá ngụy trang, len lỏi trên những con đường mới mở vượt núi, băng đèo. Bộ đội hành quân bí mật đêm ngày, theo kế hoạch. Ngày 24 tháng 4 năm 1972, cứ điểm Đắk Tô, Tân Cảnh bị tiêu diệt. Cờ giải phóng tung bay trên các công sở và các tòa nhà chính của thị trấn, địch hoang mang. Bộ đội ta đánh đuổi địch đến chân cầu sắt cách thị xã Kon Tum không xa. Ngành xe chúng tôi phấn khởi lắm. Đường 18, rồi đường 14 được giải phóng rộng thênh thang. Phải có nhiều xe chạy, thì cả miền Nam mới mau giải phóng. Nghĩ như vậy, nên không cần ai động viên: Cán bộ, thợ, lái chúng tôi đều sục sạo, lùng tìm xe máy khắp nơi, tranh thủ lôi kéo cho bằng được về đơn vị. Thời ấy đã có xe hệ 2 do các nước tư bản sản xuất nhưng mà có được học đâu mà biết cách sử dụng, sửa chữa mò mẫm mãi rồi anh em thợ, lái cũng sử dụng được, tuy không thành thạo lắm. Cuối cùng, toàn ngành cũng thu được trên 20 xe. Trước mắt, trang bị cho mỗi Ban một xe Jeep chạy cái đã, rồi sẽ tính sau. Nhiều dụng cụ máy móc khác sửa chữa đỡ khó khăn hơn. Nghe một lái xe ở chế độ Sài Gòn nói, trong các loại xe GMC có loại rất hiện đại, có thể chạy được cả xăng và dầu. Nhưng bản thân anh này cũng không biết rõ nguyên lý cấu tạo hoạt động ra sao? Tính tò mò, tôi bảo anh em đổ xăng chạy thử xem ra sao. Xe chạy đi, chạy lại trên đường 14 chưa được 10km thì chết máy, đề không nổ, đẩy không đi, kéo cũng không chạy, nhiệt độ máy rất cao, đành phải tháo trục truyền mới kéo về được. Sau ngày giải phóng Sài Gòn, tôi mới được anh Vinh kỹ sư của Cục ô tô giải thích, loại xe này có bộ phận điều chỉnh trị số ốc tan kích nổ, không cần tia lửa điện, nhưng chỉ sử dụng cấp bách khoảng 5km thôi.
Chiến trường B3 có độ ẩm cao, thời tiết khắc nghiệt, xe để trong hầm phân tán khắp nơi. Các đơn vị đóng quân xa cách nhau từ một đến vài ngày đường đi bộ. Gian khổ cơ cực vô cùng, nhưng chúng tôi vẫn làm tốt nhiệm vụ. Vì so với các đơn vị chiến đấu ngày đêm ở phía trước có thấm thìa gì đâu. Khó đến mấy, thiếu thốn đến mấy cũng phải khắc phục bằng được. Đơn vị có 26 xe xích kéo pháo Đ74. Loại xe ATC-59 của Liên Xô thì ít bị hỏng bộ phận ly hợp. Còn xe xích của Trung Quốc K-60 thì thường hỏng bộ phận này. Anh Tuyển kỹ sư đã mày mò nghiên cứu, dùng ly hợp xe Liên Xô lắp thế vào xe Trung Quốc thành công. Mừng quá, anh em chuyển cho nhau điếu thuốc lá Điện Biên còn sót lại ỏ cốp xe. Má phanh xe URAN mòn hết đinh tán, phanh không ăn, vật tư không có để thay. Anh em lái xe đề nghị anh Tuyến chủ nhiệm xe 234, dùng gỗ Bằng Lăng thay thế, vì quá bức xúc mà nghĩ quẩn thế thôi, cuối cùng cách tốt nhất là lấy má phanh trước đổi cho phanh sau chạy tạm. Bình điện yếu khởi động xe không nổ được, thì dùng nhiều bình đấu lại hoặc lấy bình điện tốt của xe này, để nổ cho xe khác, cứ thế cho đến khi hết xe thì thôi.
    

NGUYỄN TRUNG DU - CON NGƯỜI VÀ THƠ TRÊN TRANG LÍNH TÂY NGUYÊN

NGUYỄN TRUNG DU - CON NGƯỜI VÀ THƠ TRÊN TRANG LÍNH TÂY NGUYÊN


Cùng bạn đọc thân mến !
Nếu ai đã từng đọc & yêu mến trang Lính Tây Nguyên, hẳn không thể không biết về cô giáo Nguyễn Trung Du, một thành viên của ban quản lí trang, một người bạn, một người chị, một người em của bao bạn đọc nói chung & cũng là một người em gái thân thương của những người lính Tây Nguyên chúng tôi, của trang Lính Tây Nguyên.
Vâng ! Quả đúng là vậy. Chúng ta bắt gặp hình ảnh một “Em gái Trung đoàn” ( Tên biệt danh chúng tôi dành cho chị ) trên trang FB cá nhân Nguyễn Trung Du nói riêng và trang Lính Tây Nguyên nói chung, một người phụ nữ tuổi ngoài bốn mươi đôn hậu, duyên dáng với nụ cười rất tươi .
Ở bài viết này, chúng tôi không đề cập tới vẻ đẹp tươi tắn và rất có duyên của chị mà muốn nói tới tâm hồn của chị qua hai mảng đề tài: Hình ảnh người lính Tây Nguyên & tình yêu trong thơ của chị.
Trước hết là mảng đề tài hình ảnh người lính Tây Nguyên.
Cánh lính Tây Nguyên chúng tôi nói riêng và bao bạn đọc nói chung mỗi khi đọc những bài thơ của chị không thể không trầm trồ khen ngợi những bài thơ đầy ắp tình người:
“ Em chưa một lần khoác lên mình áo lính
Nhưng trong em chất lính có lâu rồi
Khi anh vào chiến trường em còn ở trong nôi
Chiến tranh đi qua em vẫn là cô bé”
Ôi ! Lời tự giới thiệu sao mà khiêm tốn, vừa nhẹ nhàng, vừa êm ái đến như vậy. Cánh lính chúng tôi không thể không ngạc nhiên và tự hỏi thầm:
“ Em chưa một lần khoác lên mình áo lính
Nhưng chất lính trong em có tự bao giờ
Có phải chăng từ những vần thơ
Trong sách giáo khoa và đi vào giáo án.”
Tháng 6/2016, chị có dịp cùng đoàn Phòng Giáo dục và Đào tạo Phù Ninh, Phú Thọ vào thăm Tây Nguyên, chị đã làm bài thơ “ Tây Nguyên một thuở” . Đọc xong bài thơ, những người Lính Tây Nguyên chúng tôi thật sự xúc động trước một tâm hồn dạt dào chất lính. Những cụm từ “ anh đưa em”, “ anh dắt em” cộng với những địa danh Đắc Tô, Tân Cảnh, Măng Bút, Măng Đen..và những hình ảnh đặc trưng của Tây Nguyên như sông Sa Thầy, Pô Kô, Sê San, hoa Pơ lang, Dã quỳ...lần lượt xuyên suốt bài thơ khiến người đọc cứ ngỡ là một CCB lâu lắm rồi chưa được trở lại chiến trường xưa, nay được trở lại nơi mình đã sống và chiến đấu mới thốt lên được những vần thơ nồng nàn và cháy bỏng như vậy.
Anh đưa em về thăm lại Tây Nguyên
Thăm chiến trường xưa một thời máu lửa
Giữa cánh rừng cao su vẫn căng tràn dòng nhựa
Đồng đội mình đã nằm lại nơi đây…
Hơn bốn mươi năm vết thương sẹo đã lấp đầy
Những con sông vẫn đầy vơi theo mùa nước
Nhưng nỗi đau chẳng thể nào nguôi được
Bao đồng đội mình chưa trở lại quê hương”
Sự thay da đổi thịt của mảnh đất Tây Nguyên bởi những con đường nhựa thẳng tắp mịn màng, bởi những cánh rừng cao su, hồ tiêu rộng lớn, hay hoa Dã quỳ vàng ươm, hoa Pơ lang đỏ thắm vẫn không làm mờ đi được những gian khổ, đau thương, mất mát năm xưa. Chỉ có những người lính thực thụ mới cảm nhận được điều này. Vậy mà cô giáo Nguyễn Trung Du của chúng tôi đã có một sự đồng cảm thật sự sâu sắc và xúc động.
Năm 2017, chị có dịp vào Buôn Ma Thuột tham dự buổi lễ cầu siêu cho các anh linh liệt sĩ do đồng dội Ngô Duy Chuyên các CCB Buôn Ma Thuột tổ chức, chị gửi đăng bài “Giỗ trận tháng Ba”
“ Tôi lại về giỗ trận tháng Ba
Đồng đội gặp nhau trong nhạt nhòa hương khói
Trời Tây Nguyên cao xanh vời vợi
Lần từng tấm bia nghèn nghẹn gọi tên người”
Hình ảnh “gặp nhau trong nhạt nhòa hương khói” khiến người đọc cảm thấy ngậm ngùi. Những lần gặp gỡ trước thì tay bắt mặt mừng, những cái bắt tay nồng thắm, những nụ cười rạng rỡ, những vòng tay ôm chặt bởi bao ngày xa cách vậy mà hôm nay...
Phải chăng những làn khói hương nhạt nhòa đang lan tỏa kia chính là những sợi dây vô hình kết nối những người còn sống và những người đã mất hay nói một cách khác đấy là những tín hiệu thông tin kết nối giữa cõi âm và cõi dương giống như mạng lưới thông tin kết nối giữa các đơn vị trên cùng mặt trận thuở nào ! Tháng Ba, tháng gợi lên trong lòng người lính Tây Nguyên biết bao kí ức. Tháng của bước ngoặt lịch sử và cũng là tháng đau thương, mất mát. Mất mát quá lớn đối với trung đoàn đặc công 198 khi đánh sân bay Hòa Bình. Mất mát quá lớn ở tiểu khu Đắc Lắc đối với tiểu đoàn 6 trung đoàn 24. Chính vì vậy chị đã phải thốt lên:
“ Anh Tám, anh My, anh Oánh, anh Khải ơi
Chúng tôi về giữa cuộc đời, các anh nằm trong đất
Hôm nay gặp nhau tay trong tay nắm chặt
Nghe tim mình quặn thắt nỗi đau xưa”
Trong bài “ Kí ức tháng Tư”, chị cũng thể hiện một nỗi lòng trăn trở:
“ Ai đã từng đi qua tháng Tư
Sẽ không quên những ngày khói lửa
Giữa thẳm sâu một vùng quên, nhớ
Luôn hiện về kí ức tháng Tư”
Cũng như tháng Ba, tháng Tư đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người lính Tây Nguyên nói chung và cô giáo Nguyễn Trung Du nói riêng. Dường như chị cũng hòa mình vào đoàn quân đang trên đà thắng lợi:
“ Giải phóng Tây Nguyên các anh lại lên đường
Đánh Lữ dù 3 trên đèo Ma Đơ Rắc
Đường 21 ghi tên đèo Phượng Hoàng lẫm liệt
Chiến thắng lẫy lừng xương máu cũng nhiều thêm”
Mạch thơ của chị dường như một sợi dây vô hình theo sát bước chân người chiến sĩ. Đoàn quân bách chiến bách thắng đi tới đâu, mạch thơ của chị cũng đi tới đó.
Khi thì:
“ Tiến về thành đô qua Đồng Xoài, Bình Phước
Dầu Tiếng, Lâm Đồng, Di Linh, Bảo Lộc
Đến Ba Ngòi rồi còn tổn thất máu xương”
Khi thì:
“ Ai đã từng qua quốc lộ 22
Không thể quên trận Đồng Dù ác liệt
Sư 320 yểm trợ cho sư 10 quyết tiến
Về Sài Gòn giải phóng thành đô”
Trang Lính Tây Nguyên mỗi khi đăng bài thơ của chị, bạn đọc mỗi khi đọc bài thơ của chị không thể không thốt lên những lời thán phục, một cô giáo, một người chiến sĩ , một hồn thơ tràn đầy cảm xúc, chứa chan tình người.
Ở mảng đề tài thứ hai, chúng ta lại bắt gặp một hồn thơ lãng mạn và bay bổng với những hình ảnh minh họa thu hút người đọc. Cũng như đề tài về người lính, mỗi khi làm về thơ tình, chị lại dành hết tâm huyết vào hình ảnh trong tự nhiên để nắm bắt cái hồn, cái sắc của thế giới tự nhiên để đưa vào trong thơ.
“Bài thơ "Vô tình" chị của khiến người đọc đặt câu hỏi: Vô tình” hay “ hữu ý “ đây ? Một hồn thơ lai láng, một hồn thơ dạt dào như vậy mà “lơ đãng” đến vô tình được sao? Không đâu, đấy là cái cớ, cái duyên, cái khéo để dẫn dắt người đọc đi từ những sự vật, hiện tượng tưởng nhu vô tri nhưng lại được thổi hồn vào một cách rât hữu tình.
"Vô tình cơn gió lướt qua
Để cho tiếng sao ngân nga lưng trời
Vô tình giọt nước đánh rơi
Để cho hạt ngọc rạng ngời mắt ai
Vô tình tia nắng sớm mai
Nhòm qua khe cửa để ai thẫn thờ"
Những hình ảnh trong thơ chị nhẹ nhàng, lãng mạn, thanh thoát biết nhường nào. Tứ thơ, hình ảnh thơ, cảm xúc
cứ hòa quện vào nhau thành một vòng tròn quấn quýt, vương vấn người đọc. Vô tình ư ? Lẽ thường vô tình là người ta không để ý tới một sự việc nào đó mà không nhận biết được, đằng này, vô tình gì mà lại nắm bắt được cơn gió ven hồ, tiếng sáo lưng trời hay giọt nước, tia nắng, câu nói ỡm ờ...À thì ra đấy là cái cớ, cái tâm hồn rất thơ, rất lãng mạn mà chị muốn thể hiện.
Trong bài “ Gửi nắng cho anh” chị cũng dãi bày một tâm trạng, một hồn thơ rất lãng mạn. Hai mươi bốn câu thơ với đủ các loại nắng: nắng vàng, nắng heo may, nắng tháng năm, nắng hường...nắng nào người đọc cũng thấy nhẹ nhàng, bình dị rất thật,rất chân tình như chính con người chị.Mỗi một cái nắng chứa đựng một tâm trạng, một trạng thái mà chỉ riêng chị mới có. Trong cái nắng vàng có sự bẽ bàng của ngày xưa, có đường đi muôn nẻo, có đục trong của mỗi con người. Nắng heo may có bóng chim câu vụt thoáng trên cao. Nắng tháng năm thiêu cháy cả đêm rằm. Trong số những cái nắng mà chị thể hiện, có một cái nắng rất đặc biêt, cái nắng ấy có hình, có khối, rất nhẹ nhàng, rất dài và nhỏ mà ta có cảm tưởng giơ tay đón lấy được ấy là sợi nắng dây:
“ Gửi anh một sợi nắng dây
Em đem buộc chặt tháng ngày thênh thang”
Hình tượng đến thế là cùng! Bao nhiêu cái nắng chị gửi vào đó tất cả những tâm tư, tình cảm của mình để rồi chia sẻ cho mọi người. Thi vị đến nhường nào. Riêng chỉ có một cái nắng chị xin được giữ lại ấy là cái nắng của chiều hôm qua:
“ Gửi anh chút nắng hôm qua
Em đem gói lại để mà nâng niu
Còn đây chút nắng cuối chiều
Phần em giữ lại bấy nhiêu cho mình”
Có thể nói đoạn thơ cuối bài toát lên tình cảm thắm thiết nhất, chân thành nhất. Hai câu cuối bài khép lại bài thơ sao mà hay đến thế, hay đến mức không tưởng:
“ Còn đây chút nắng cuối chiều
Phần em giữ lại bấy nhiêu cho mình”
Khi bình bài thơ "Gửi nắng cho anh", Bạn FB Nhà thơ lão nông đã viết: "Nắng của Nguyễn Trung Du mùa nào cũng đẹp. Cái đẹp còn tỏa sáng trong con người em - một cô giáo duyên dáng, dịu hiền. Cái ắng trong tay em thật ấm áp, dễ chịu, kế cả cái ắng tháng năm". Quả đúng như vậy! Đọc thơ Nguyễn Trung Du, ta nhận thấy một sự khiêm nhường bình dị nhưng tràn ngập tình yêu thương, lòng vị tha đáng quý trọng biết nhường nào.
Bao nhiêu bài thơ được đăng tải, bấy nhiêu tình cảm của chị dành cho những người lính Tây Nguyên chúng tôi, dành cho bao bạn bè gần xa trên cả nước. Cảm ơn cô giáo Nguyễn Trung Du, cảm ơn người em gái đã góp phần chắp cánh cho trang Lính Tây Nguyên của chúng tôi thêm bay bổng và đầy thi vị.
Nhân dịp kỷ niệm 36 năm ngày Nhà giáo Việt nam, trang Lính Tây Nguyên xin đăng bài bình thwo của anh Nguyễn Sau - Thành viên BQL trang như một bó hoa tươi thắm, một lời chúc tốt đẹp nhất gửi tới cô giáo Nguyễn Trung Du - "Em gái Trung đoàn"
                                                                                       Nguyễn Sau - E66 - F10

Nguyễn Trung Du vinh dự được diện kiến Trung tướng Nguyễn Quốc Thước

Nguyễn Trung Du thăm Trung tướng Ma Thanh Toàn tại tư gia

Nguyễn Trung Du được Tiến sĩ Luật tặng cuốn sách: tạ Đình Đề - Hững góc khuất cuộc đời
Nguyễn Trung Du nơi ngôi trường cô đang công tác

    

THƯƠNG NHỚ ĐỒNG ĐỘI NGUYỄN XUÂN KHANG

THƯƠNG NHỚ ĐỒNG ĐỘI NGUYỄN XUÂN KHANG
Liệt sỹ Nguyễn Xuân Khang
Sau 43 năm yên nghỉ tại nghĩa trang Buôn Ma Thuột , Nguyễn Xuân Khang quê ở Minh Bảo - Trấn Yên - Yên Bái, thuộc Đại đội 1 - Tiểu đoàn 4 - Trung đoàn 24, người đã hy sinh trong trận đánh vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy ở thị xã Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975 đã được gia đình và đồng đội đưa về quê yên nghỉ. Trưa 12/11 /2018, khi nghe tin gia đình Khang vào Buôn Ma Thuột đưa Khang về quê, anh em đồng đội E24 ở Buôn Ma Thuột đã vội vã đến ngay nghĩa trang BMT để tiễn đưa Khang. Khi đến nghĩa trang thì được tin gia đình Khang vừa đưa Khang đi rồi. Tưởng nhớ người đồng đội năm xưa, trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu 2 bài viết về Nguyễn Xuân Khang - một bài của bạn học với Khang và một bài của đồng đội cùng chiến đấu với Khang hôm 10/3/1975 ở thị xã BMT, như một nén tâm nhang để tưởng nhớ người đồng đội yêu quý Nguyễn Xuân Khang.
Bài 1. Người viết: CP Giang
Tôi vừa nhận được tin từ vợ chồng người em trai của Liệt sĩ Nguyễn Xuân Khang cho biết: gia đình đang trên đường vào Buôn Ma Thuột để cất bốc hài cốt liệt sĩ. Dự kiến ngày 14/11/2018 sẽ viếng LS tại gia đình. Đến 13 giờ ngày 15/11/2018, Đảng ủy và chính quyền địa phương sẽ tổ chúc truy điệu và an táng hài cốt LS tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnhYên Bái.
Với Nguyễn Xuân Khang, tôi vừa là bạn đồng hương, bạn đồng học (từ lớp 4 đến hết lớp 10), đồng thời là bạn đồng ngũ. Khi vào đến Tây Nguyên tôi được bổ sung về Sư đoàn 320, còn Khang được bổ sung về Sư đoàn 10. Lần gặp nhau cuối cùng của chúng tôi là tại Tân Kim, Phú Bình, Bắc Thái, đã hơn 45 năm rồi.
Nhớ bạn trong nhạt nhòa nước mắt. Tôi treo lại bài viết về LS Nguyễn Xuân Khang coi như một nén tâm hương, tưởng nhớ về người bạn học thông minh, tài hoa, người đồng đội dũng cảm nhưng bạc mệnh. Bài viết này đã được đăng trang trọng trong cuốn “Ký ức tuổi học trò”, cuốn hồi kí của cựu HS khóa 1969-1972 trường phổ thông cấp 3A Yên Bái.
Bài viết này cũng thay cho lời mời các bạn đồng ngũ, các cựu chiến binh, các bạn đồng học về quê hương để chúng ta cùng tri ơn liệt sĩ, đón liệt mẹ
* * * *
Câu chuyện về Liệt sĩ NGUYỄN XUÂN KHANG (1955-1975)
Nguyễn Xuân Khang là học sinh lớp B, khóa học 69-72 Trường Phổ thông cấp 3A Yên Bái. Hồi đi học, bạn bè thường gọi là “Khang con”, để phân biệt với Trần Mạnh Khang (Khang lớn). Nguyễn Xuân Khang là học sinh giỏi các môn xã hội, đặc biệt là có năng khiếu về văn học, thơ ca. Những năm cấp 1, cấp 2, Khang học tại trường phổ thông cấp 1, 2 xã Minh Bảo, Huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Tốt nghiệp phổ thông, Khang nhập ngũ, huấn luyện tân binh ở đại đội 2, Tiểu đoàn 90, Sư đoàn 304B, Quân khu Việt Bắc. Sau thời gian huấn luyện, Khang đi B trong Đoàn 3016 vào B3 Tây Nguyên. Vào đến mặt trận, Khang được bổ sung về Đại đội 1, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, trực tiếp tham gia chiến đấu, bảo vệ vùng giải phóng Bắc Tây Nguyên.
Suốt năm 1974, Nguyễn Xuân Khang đã tham gia chiến đấu, bảo vệ vùng giải phóng ở Đắc Tô – Tân Cảnh, tỉnh Công Tum (Bắc Tây Nguyên).
Đầu năm 1975, Sư đoàn 10 lật cánh hành quân về hướng nam mặt trận, bố trí ở phía nam thị xã Buôn mê Thuột, chuẩn bị tham gia chiến dịch Tây Nguyên.
Trong trận then chốt mở đầu chiến dịch Tây Nguyên, Tiểu đoàn 4 (d4/e24/fBB10), đơn vị của Khang được BCH mặt trận Tây Nguyên lựa chọn là đơn vị phối thuộc cho Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 có nhiệm vụ thọc sâu, tiến công thị xã Ban Mê Thuột từ hướng tây tây nam...Tiểu đoàn 4 được phối thuộc 1 Đại đội xe tăng T-54, 1 đại đội xe bọc thép K-63 của Lữ đoàn xe tăng 273, thực hành tiến công chọc thủng phòng tuyến mạnh nhất của địch ở BMT, dùng sức mạnh hợp đồng binh chủng (bộ binh, xe tăng, pháo binh…) thọc sâu qua khu vực trung tâm thị xã, khu vực Ngã 6, tiến công khu truyền tin và khu vận tải, áp sát căn cứ SCH Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 ngụy.
Sáng ngày 10/3/1975, Nguyễn Xuân Khang là tiểu đội phó Tiểu đội chủ công, đã chiến đấu dũng cảm, vượt qua tuyến phòng ngự của lực lượng biệt động quân VNCH ở vòng ngoài thị xã, nhanh chóng giải phóng trung tâm thị xã - khu vực Ngã 6. Đến khoảng trưa 10/3, khi Tiểu đoàn 4 đột kích xung phong đánh chiếm Trung tâm Truyền tin của SCH Sư 23 ngụy, địch kháng cự điên cuồng. Tổ xung kích của Khang có 3 người, sau khi 2 đồng đội trong tổ hi sinh, Khang đã cầm cờ xung phong lên cắm cờ, đánh chiếm mục tiêu. Vào thời khắc đơn vị hoàn thành nhiệm vụ thì bạn Khang của chúng ta bị trúng đạn thẳng và hi sinh ngay trên nóc hầm Trung tâm truyền tin SCH Sư 23 ngụy vào buổi trưa ngày 10/3/1975. Tấm gương hi sinh anh dũng của Nguyễn Xuân Khang được phổ biến đến các đơn vị tham gia trận Ban Mê Thuột, động viên tinh thần chiến đấu của bộ đội.
Nguyễn Xuân Khang được truy phong quân hàm trung sĩ ngay trên trận địa, được Nhà nước công nhận là LIỆT SĨ, được truy tặng Huân chương chiến Công giải phóng hạng 3.
Bài 2. Người viết: Duy Chuyên Ngô
Thôi không đủ duyên tiễn bạn: Liệt sỹ Nguyễn Xuân Khang hành hương về quê mẹ Yên bái .
Tôi treo mấy tấm hình chụp chiều nay thay cho nén nhang thơm cầu Trời Phật gia hộ cho hương linh Nguyễn Xuân Khang siêu thoát .
Nhớ lại , đêm 10/3 năm ấy Đại đội 3 chúng tôi chiếm giữ khu truyền tin và lập chốt chặn địch ngang đường Mai Hắc Đế .
“ ...Khói súng , khói bom đạn khét lẹt , sặc sụa quyện với máu đồng đội , tôi không thể nào khóc được nữa .
Xác bạn đồng đội C3, C1 ... Nguyễn danh Tám chết quỳ gục đầu vào cột cổng , Phan quý Dương trúng đạn cuộn người giữa đường Mai hắc Đế , Lê Văn Giao chết rồi mà thân xác vẫn dính chặt vào rào kẽm gai bùng nhùng , Bùi đức Chín , Võ Văn Lai , Hà Văn Nghĩa , Nguyễn Văn Khang , Trịnh Sơn Then , Phạm văn Thành , Nguyễn phong Phú ... nằm xếp lớp lên nhau từ cổng vào đến cột cờ khu truyền tin của địch . ..
Gần sáng , anh em C3 chúng tôi bắt sống được tên tù binh cùng chiếc xe dép . Xe thì vẫn nổ máy , bốn bánh trúng đạn xẹp lép . anh em vận tải chưa vào đưa tử sỹ ra . Tôi Lo địch trong trung tâm thị xã phản kích ra bạn tôi trúng đạn lần nữa . Thương các bạn , tôi bắt tên tù binh lái xe chở xác bộ đội khỏi khu truyền tin , nó từ chối với lí do xe bể bốn bánh không chạy được . Căm phẫn trào lên tôi dí súng vào đầu hắn gào lên với nó : mày có lái xe hay ăn đạn ? nó quỳ xuống chân tôi van lạy , xin tha tội , xin chạy .
Thế là , Tôi và Toản ( Nguyễn văn Toản - liên lạc C3) cùng anh em c3 lần lượt kéo rồi khênh xác bạn lên xe Zép . Tôi nhớ Toản ngồi dí súng vào lưng tù binh bắt nó lái xe bể cả bốn bánh chở đầy xác người và chở năm sáu chuyến thì trời sáng .
( Ngô Duy Chuyên - nguyên Chính trị viên phó Đại đội 3 hôm đánh Sư đoàn 23 Ngụy ở thị xã BMT )
Đồng đội Ngô Duy Chuyên bên phần mộ Nguyễn Xuân Khang tại nghĩa trang BMT trưa 12/11/2018
    

CHUYỆN VỀ NGƯỜI LÍNH MỘT MÌNH GIỮ CHỐT

CHUYỆN VỀ NGƯỜI LÍNH MỘT MÌNH GIỮ CHỐT
Võ Duy Khoái - Trung đoàn 24

Sau bữa cơm tối nhìn lên tivi thấy Ca sỹ Trang Nhung đang hát bài “Trái tim người chiến Sỹ” nhạc của Trần Viết Được : Cuộc đời người chiến sỹ giản dị thật đáng yêu, một túi lương khô, một tấm vải dù, một đôi dép cao su……” bỗng nhiên tôi nhớ lại câu chuyện 46 năm về trước tại Dốc Nứa bên suối Gia Nhiên , dưới chân núi Chư Pa có độ cao 1.127m so với mặt nước biển thuộc tỉnh Gia Lai . Nơi đây là Phẫu tiền phương của Trung đoàn 24 . Gặp nhau tôi không nhận ra Thuấn , trừ hàm răng trắng , còn toàn thân nhuộm màu đất đỏ . Ôm lấy Thuấn tôi bảo :
- Sao bảo Đại đội 9 của mày hy sinh hết rồi !
Thuấn cười nói : Em chết sao được, khi đi chiến đấu em đã hứa với Mẹ : Giải phóng xong con sẽ về , đi mạnh, về lành .(nghĩa là khi đi thì mạnh khỏe, khi về thì lành lặn) . Khi nào về con mua một chiếc xe xích lô , hàng ngày ra bến xe Niệm Nghĩa chở khách lấy tiền nuôi mẹ …”. Điều mong ước của người lính chiến ở nơi bom rơi đạn nổ là như vậy đấy. Nguyễn Văn Thuấn - Tiểu đội trưởng đại đội 9 , Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên. Người một mình một chốt , 7 lần chặn đứng các đợt tấn công của địch lên chiếm chốt của ta trong ngày 5/6/1972 .
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Thuấn sinh ngày 25 tháng 6 năm 1953 , tại Dư Hàng - Lê chân - Hải Phòng , ngày 08 tháng 1 năm 1971 , Thuấn nhập ngũ khi chưa đủ 18 tuổi , ở D7, F350, sau một thời gian bổ xung về C9/D3 /E42 - Quân khu Tả ngạn .Ngày 03/11/1971 , cả đơn vị E42 từ Tràng An - Đông Triều hành quân tới Ga Tiền Trung (Hải Dương), đêm đó lên tàu vào Nam chiến đấu . Từ Quảng Bình, đơn vị hành quân qua SePon ( Lào), qua Ngã ba Đông Dương thì dừng lại ăn Tết nguyên đán Nhâm Tý (1972). Tết trên đường đi chiến dịch không vui, nhưng khá đầm ấm, mỗi người được nửa điếu thuốc lá của Bác Tôn gửi tặng , một chiếc kẹo Hải Hà . Tới Tây Nguyên đơn vị vào vị trí chiến đấu ngay . Ngày 01 tháng 6 năm 1972 , Trung đoàn 24 nhận nhiệm vụ cắt đường 14 , không cho địch chi viện bằng đường bộ từ Gia Lai lên Kon Tum để tạo thuận lợi cho các đơn vị của ta đánh chiếm thị xã KonTum . Đại đội 9 - tiểu đoàn 3 được giao nhiệm vụ chốt cắt giao thông tại Km 28 .Cách đó không xa có trận địa pháo của địch liên tục bắn vào chốt của ta . Máy bay L19, U ti ti, OV10 lượn suốt ngày để phát hiện trận địa của ta. Cùng với đó là liên tục các đợt ném bom rải thảm của máy bay B52 xuống khu vực trận địa chốt của tiểu đoàn 3 . Trước quá nhiều bom , pháo của địch , thương vong của bộ đội ta khá lớn . Nhiều trận địa chốt của ta không còn một ai . Ngày 05/6/1972 , chốt đại đội 9 của Thuấn chỉ còn 6 người trong đó có anh Hiệp là Đại đội phó . Với quyết tâm mở thông đường chi viện cho lực lượng của chúng ở Kon Tum . Suốt từ sáng tới chiều , địch dùng xe bọc thép M113 cùng bộ binh liên tục tấn công vào chốt của đại đội 9 . Cứ sau mỗi lần ném bom , bắn pháo , bộ binh chúng lại hò hét xông lên , nhưng chúng đều bị đánh bật trở lại . Lần thứ 7 , chúng lại tiếp tục dùng xe thiết giáp M113 cùng bộ binh tấn công vào trận địa . Không sợ nguy hiểm , Thuấn nhô lên khỏi giao thông hào dùng B40 của đồng đội đã hy sinh bắn thẳng vào chiếc xe M113 của địch . Chiếc M113 trúng đạn bốc cháy làm bộ binh địch không dám xông lên . Đánh vỗ mặt ở phía trước không được , chúng tổ chức một lực lượng vòng về phía sau chốt của đại đội 9 hình thành 2 mũi tấn công . Do ít người , không phát hiện được mũi vòng phía sau của địch nên đại đội phó Hiệp và các đồng đội đều dính đạn M72 của địch hy sinh . Lúc này Thuấn phát hiện được lực lượng địch ở phía sau chốt của Thuấn nấp sau một bụi le đang nã đạn về phía Thuấn . Bấp chấp nguy hiểm , Thuấn dùng B40 bắn thẳng về toán địch này . Tiêu diệt toàn bộ bọn địch ở đây . Giằng co với địch , đến 15 giờ chiều trên chốt của đại đội 9 lúc này chỉ còn một mình Thuấn . Mặc dù lúc này đã bị thương ở mặt và ở chân , tuy không nặng nhưng lúc này Thuấn gần như kiệt sức . Tuy vậy Thuấn vẫn không nản chí , lo sợ . Anh bám theo giao thông hào của trận địa , bắn bên Đông một loạt, chạy sang Nam ném lựu đạn, chạy sang Bắc bắn B41, chạy sang Tây bắn đại liên . Cứ như vậy một mình Thuấn tiếp tục chiến đấu . Thấy tiếng súng từ trận địa của ta vẫn liên tục nổ quân địch tưởng trên chốt của ta còn nhiều người , chúng không dám xông lên . Khoảng 5 giờ chiều thì địch rút quân . Do suốt cả ngày quần nhau với địch . Vừa căng thẳng , vừa mệt mỏi phần vì mất máu do viết thương , Thuấn nằm thiếp đi trên trận địa . Buổi tối , trinh sát cùng anh em vận tải bò lên chốt chuyển thương binh , Liệt sỹ về phía sau , phát hiện Thuấn còn sống đang nằm cùng các Liệt sỹ . Thuấn được cáng về phẫu tiền Phương. Cảm động trước tấm gương chiến đấu kiên cường của Nguyễn Văn Thuấn , ngay buổi tối hôm đó Trung đoàn phó Đinh Xuân La đã xuống tận phẫu thăm và động viên Thuấn . Trung đoàn cũng đã phát động phong trào thi đua học tập gương chiến đấu của Nguyễn Văn Thuấn . Sau trận đánh này Nguyễn Văn Thuấn được tặng Huân chương chiến công Hạng Nhất và bằng Dũng sỹ diệt xe cơ . Anh vinh dự được đi dự Đại hội thi đua xuất sắc của Mặt trận Tây Nguyên năm 1972 . Ngày 08 tháng 11 năm 1972 , Nguyễn Văn Thuấn vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam .
Cuộc chiến cứ cuốn hút những người con của Đất Cảng Anh hùng . Trưa ngày 11/3/1975 , tôi và Thuấn lại gặp nhau tại Sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy ở thị xã Buôn Ma Thuột , lúc đó tôi là B trưởng C2 / D4 /E24 , đơn vị đánh chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy , còn Thuấn là Chính trị viên Đại đội 3 /D4 , cùng đánh vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 . Với quân hàm Trung tá , công tác tại phòng Tuyên huấn Quân Đoàn 3 , Thuấn được cấp trên cho nghỉ hưu năm 1991. Ngày 04/11/2018 , Ban Liên Lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 24 tại Hải Phòng tổ chức Gặp mặt truyền thống kỷ niệm 47 năm ngày lên tầu vào Nam chiến đấu ( 03/11/1971-03/11/2018) tại Cát Bà . Gặp Thuấn tôi vẫn đùa hỏi : - Xích Lô của mày còn mới hay đã hỏng rồi ? ( ở cái tuổi 70 nhưng cứ gặp nhau là chúng tôi xưng hô mày tao chi tớ). Đùa thế rồi chúng tôi lại ôm nhau thân thiết như ngày nào sống chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên .
….”Tây nguyên ơi ! ai một lần tới đó
Suốt cuộc đời nhớ lại vẫn thương nhau…”


Ảnh: Nguyễn Văn Thuấn người đứng thứ 3 từ trái sang chụp cùng đồng chí Võ Đông Giang - phó đoàn quân sự 4 bên của ta ở sân bay Tân Sơn Nhất trưa 30/4/75 . Đ/c Võ Đông Giang đứng cạnh Thuấn ( người thứ 4 từ trái sang )
    

CHUYỆN CẮM CỜ Ở BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN ĐỘI SÀI GÒN SÁNG 30/4/1975 .

CHUYỆN CẮM CỜ Ở BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN ĐỘI SÀI GÒN SÁNG 30/4/1975
(Nguyễn Đình Thi - Ghi theo lời kể của Đại tá Võ Hồng Kháng - nguyên Tham mưu phó Trung đoàn 28 - Sư đoàn 10)

Tầm gần 10 giờ, vừa tổ chức cắm cờ ở cổng chính số 1 Bộ Tổng tham mưu xong , mấy anh em chúng tôi còn đang đứng quan sát , xác định đâu là toà nhà chỉ huy của Bộ Tổng tham mưu Ngụy thì chiếc xe thiết giáp chở đồng chí Vũ Đình Thước - Tham mưu phó Sư đoàn cùng đồng chí Đỗ Công Mùi - Trung đoàn phó lao đến . Thấy tôi , anh Đỗ Công Mùi nói ngay :
- Anh Kháng ! Cờ đâu ? Cho tổ chức cắm cờ ngay !
Tôi quay sang anh Lê Công Vững - Chính trị viên Đại đội 10 hỏi cờ . Anh Vững cho biết Đại đội chỉ có một chiếc cờ . Chiếc cờ này vừa cắm ở ngoài cổng rồi . Hiện không còn chiếc cờ nào cả . May quá lúc đó Tham mưu phó Sư đoàn Vũ Đình Thước có mang theo một chiếc cờ , đang để ở xe bọc thép K63 . Ông lấy vội ra đưa cho tôi . Đúng lúc đó thì hỏa lực 12ly8 của địch từ trên nóc toà nhà Bộ Tổng tham bắn xuống . Tôi lệnh cho xe bọc thép dùng 12ly7 bắn về phía khẩu 12ly 8 của địch . Tiếng súng im . Tôi , anh Vững cùng 2 đồng chí chiến sỹ của C10 cầm cờ chạy ngay về phía toà nhà chính Bộ Tổng tham mưu Nguỵ . Tới toà nhà , nhìn các phòng làm việc đều thấy đóng cửa , không gặp một ai . Toà nhà khá rộng nên loay hoay mãi mới tìm được cầu thang bộ . Tìm được cầu thang ,4 anh em chúng tôi chạy gấp lên trên . Khi tới vị trí cột cờ của địch trên nóc toà nhà , tôi nói với anh Vững cho hạ cờ ngay . Lá cờ ba sọc của địch được kéo xuống và tháo ra nhưng khổ nỗi lại không treo được cờ của ta . Vì cờ của địch to , cờ của ta nhỏ nên không luồn cán vào được để treo cờ . Loay hoay chưa biết lấy gì làm cán . Nhìn quanh . Tôi phát hiện gần chỗ tôi đứng có một cây ăng ten có thể làm cán cờ được . Tôi vội chạy đến , dùng dao găm chặt đứt ăng ten này . Rồi chọn một đoạn chặt làm cán . Có cán cờ , tôi cùng anh Vững làm động tác luồn cán , buộc dây và treo cờ . 2 chiến sỹ có súng AK làm nhiệm vụ bảo vệ . Tầm 10 giờ 20 phút , lá cờ giải phóng của ta đã được 4 anh em chúng tôi treo lên đúng vị trí cột cờ của địch tại nóc toà nhà Tổng hành dinh Bộ Tổng tham mưu Ngụy . Treo cờ xong , tôi giao nhiệm vụ cho 2 đồng chí chiến sỹ ở lại đó làm nhiệm vụ bảo vệ cờ . Đứng trên nóc toà nhà Bộ Tổng tham mưu nhìn Sài Gòn mênh mông , rộng lớn , nhìn xuống dưới , bộ đội và xe tăng ta lúc này đã vào đầy cả sân phía trước toà nhà . Một niềm vui thật không sao kể xiết đối với tôi . Tôi không thể ngờ mình lại có được vinh dự đặc biệt này . Đây thực sự là những giây phút hạnh phúc nhất trong cuộc đời chiến binh của tôi.
 Lá cờ của Trung đoàn 28 được đồng chí Võ Hồng Kháng - Tham mưu phó Trung đoàn , đồng chí Lê Công Vững - Chính trị viên C10/D3/E28 cùng 2 chiến sỹ cắm ở cột cờ chính giữa toà nhà BTTN Ngụy lúc 10 giờ 20 phút ngày 30/4/75


 Đại tá Võ Hồng Kháng và Nguyễn Trung Du

    

CHUYỆN VỀ CHIẾC XE TĂNG 377 ANH HÙNG

CHUYỆN VỀ CHIẾC XE TĂNG 377 ANH HÙNG
                                        Nguyễn Đình Thi - Sư đoàn 10

Những năm còn chiến tranh , nếu bạn đi trên đường 18 thuộc vùng giải phóng tỉnh Kon Tum , cách thị trấn Tân Cảnh chừng 8 km về phía Tây , ở phía bên phải sân bay Phượng Hoàng bạn sẽ thấy một hình ảnh vô cùng xúc động - một chiếc xe tăng của ta mang số hiệu 377 của đại đội xe tăng 7 - Tiểu đoàn xe tăng 297 - Mặt trận Tây Nguyên ( lúc này Trung đoàn xe tăng 273 chưa thành lập ) bị địch bắn cháy . Phần đuôi xe tăng chờm khoảng 1m lên miệng một hố bom to . Khẩu súng máy 12ly7 nòng vẫn nghếch lên trời . Xung quanh chiếc xe tăng 377 là 7 xe tăng M41 của địch cũng bị cháy rụi . Chiếc gần nhất cách xe tăng 377 khoảng 100m , chiếc xa nhất cách xe 377 chừng hơn 200m . Có điều lạ là 3 xe tăng M41 của địch bị xe tăng 377 bắn cháy đều nằm khá gần nhau , nòng pháo của cả 3 xe tăng này vẫn hướng về chiếc xe tăng 377 . Hình ảnh này cho ta thấy sự mưu trí và quả cảm như thế nào của xe tăng 377 trước bầy xe tăng địch . Trong lịch sử chiến đấu của bộ đội tăng , thiết giáp Việt Nam chưa có một trận đấu tăng nào giữa ta và địch lại lập được kỷ lục cao như vậy . 1 chọi 10 và bắn cháy 7 . Đây thật sự là một huyền thoại . Theo cuốn Lịch sử Lữ đoàn xe tăng 273 - Quân đoàn 3 , diễn biến trận đánh như sau : Tầm hơn 11 giờ ngày 24/4/1972 , sau khi Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 37 đặc công chiếm được căn cứ Sư đoàn 22 địch ở thị trấn Tân Cảnh thì cánh quân của Trung đoàn 1 - Sư đoàn 2 đánh chiếm căn cứ Đắc Tô 2 ( căn cứ của Trung đoàn 47 - Sư đoàn 22 ) , cách Tân Cảnh chừng hơn 8km lại gặp nhiều khó khăn . Trung đoàn 1 không phát triển lên được mà còn đang bị bộ binh và xe tăng địch phản kích , bao vây có nguy cơ bị tiêu diệt . Trước tình hình trên , Tư lệnh Mặt trận Cánh Đông - Nguyễn Mạnh Quân lệnh cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 - Phùng Bá Thường và Tiểu đoàn Trưởng tiểu đoàn xe tăng 297 khẩn trương điều ngay 3 xe tăng vừa cùng Trung đoàn 66 - Sư đoàn 10 đánh chiếm căn cứ Sư đoàn 22 , lên Đắc Tô 2 chi viện gấp cho cánh quân của Trung đoàn 1 . Mặc dù vừa làm chủ căn cứ 42 , chưa kịp nghỉ ngơi , chuẩn bị . 3 xe tăng của Đại đội 7 gồm xe 377 , 354 , 369 và 1 xe pháo cao xạ tự hành ZSu57 - 2 số 022 của Đại đội 53 đã gấp rút lên đường . Xe tăng 377 do Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển chỉ huy lúc này ở phía ngoài cửa mở căn cứ 42 , sau khi nhận lệnh , Nguyễn Nhân Triển lập tức cho xe nổ máy nhằm hướng Đắc Tô 2 tiến , không kịp chờ 2 xe 354 và 369 . Trên đoạn đường dài chừng hơn 8km từ căn cứ 42 tới Đắc Tô 2 , xe 377 vừa đi vừa chiến đấu . Dùng 12ly7 bắn trả máy bay địch và tiêu diệt nhiều toán lính địch ở 2 bên đường . Chừng hơn 12giờ , xe 377 tới Đắc Tô 2 , phát hiện bộ binh và xe tăng địch đang tấn công dữ dội vào cánh quân Trung đoàn 1 . Không chờ 2 xe sau . Nguyễn Nhân Triển lập tức cho xe lao vào tấn công . Thấy xe tăng ta xuất hiện , bộ binh địch hoảng sợ bỏ chạy nhưng máy bay địch lại bu vào ném bom xe 377 . 10 xe tăng M41 của địch đang cùng bộ binh của chúng dồn ép Trung đoàn 1 , giờ quay sang bao vây tấn công xe tăng 377 . Tình thế lúc này cực kỳ nguy hiểm , xe 377 đã nằm gọn trong vòng vây của 10 xe tăng địch . Nguyễn Nhân Triển bình tĩnh thông báo tình hình với 2 xe tăng đi sau , đồng thời cho xe 377 lao thẳng vào cả bầy xe tăng địch . Vừa bắn , vừa tránh . Ngay phút xung trận đầu tiên xe 377 đã bắn cháy 3 xe tăng địch . Sau khi đơn độc tả xung , hữu đột bắn cháy tới chiếc xe tăng thứ 6 thì xe 377 cũng bị trúng đạn . Anh em bộ binh kể lại : sau khi xe tăng 377 bị trúng đạn , mọi người vẫn thấy một quả đạn nữa được bắn ra từ xe tăng này , diệt thêm một xe tăng địch . Cả kíp xe 4 người của xe tăng 377 , gồm trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển , lái xe Cao Trần Vịnh , pháo thủ Nguyễn Đắc Lượng , nạp đạn Hoàng Văn Ái đều đã hy sinh . Khi làm công tác tử sỹ , các chiến sỹ Tiểu đoàn xe tăng 297 thấy mấy nắm cơm mà anh nuôi phát cho các anh từ tối hôm trước vẫn còn nguyên , nhưng đã bị cháy đen . Hoá ra cả đêm trước đưa xe tăng vào vị trí chiến đấu , sáng ra lại nổ súng tấn công ngay cho tới tận lúc hy sinh tất cả 4 người vẫn chưa ai kịp ăn . 2 xe tăng 354 và 369 đi sau khi nhận được thông tin từ xe tăng 377 đã nhấn ga , tăng hết tốc lực để kịp chi viện cho xe tăng 377 , nhưng khi tới đầu căn cứ Đắc Tô 2 thì phát hiện xe tăng 377 đã bị địch bắn cháy . Ngay lập tức 2 xe 354 và 369 đã lao chiến đấu . Bắn cháy thêm 2 xe tăng M41 . Sau một giờ chiến đấu , xe 354 và 369 cũng bị máy bay địch bắn hỏng . Được sự chi viện của xe tăng . Bộ binh Trung đoàn 1 tiếp tục phản kích đánh chiếm các mục tiêu còn lại tại căn cứ Đắc Tô2 . Tầm 15 giờ , ngày 24/4/1972 , Trung đoàn 1 đã làm chủ căn cứ Đắc Tô 2 . Nắm cơm cháy của 4 chiến sỹ xe tăng 377 hiện giờ được trưng bày tại bảo tàng binh chủng tăng - thiết giáp . Ghi nhận chiến công đặc biệt xuất sắc của tập thể xe tăng 377 , ngày 9 tháng 2 năm 2009 , Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký quyết định truy tặng danh hiệu cao quý ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN cho tập thể xe tăng 377 . Giờ đây xe tăng 377 được đưa về trưng bày tại Khu di tích lịch sử chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh ở ngay ngã 3 Thị trấn Tân Cảnh thuộc huyện Đắc Tô - Kon Tum . Chỉ tiếc là những chiến sỹ trên chiếc xe tăng này mới thật sự là những người ANH HÙNG nhưng đến nay vẫn chưa được truy tặng danh hiệu ANH HÙNG.


Xe tăng 377 của ta bị địch bắn cháy
Xe tăng 377 hiện trưng bày tại Khu di tích lịch sử Đắc Tô - Tân Cảnh



    

CÁC TƯỚNG LĨNH MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN TRUNG TƯỚNG - NGUYỄN QUỐC THƯỚC

CÁC TƯỚNG LĨNH MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN
TRUNG TƯỚNG - NGUYỄN QUỐC THƯỚC

Tướng Nguyễn Quốc Thước là một vị tướng trận mạc . Ông sinh ngày 3/2/1926 , tại Nghi Diên - Nghi Lộc - Nghệ An . Năm 1965 ông vào chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên . Tháng 4 năm 1970 , chiến trường Lào ở A Tô Pơ gặp khó khăn , ông dẫn Trung đoàn 24 thiếu được tăng cường Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 28 sang chiến đấu ở đây . Chỉ trong vòng 2 ngày , Trung đoàn 24A do ông chỉ huy đã quyét sạch quân địch ở đây , giải phóng thị xã A Tô Pơ . Sau đó phát triển tấn công , giải phóng tiếp cao nguyên Pô Lô Ven . Tiếp đó ông lại nhận lệnh đưa Trung đoàn từ A Tô Pơ - Lào sang CPC chiến đấu . Đường từ A Tô Pơ ( Lào ) đến vùng đông Bắc CPC khá xa , lại chưa biết đường , gạo thì vẻn vẹn có 7 ngày . Biết bao khó khăn chồng chất . Ấy vậy mà Trung đoàn 24 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ . Đã giải phóng Stung Cheng , rồi giải phóng toàn bộ tỉnh Prei Vi Hia CPC , tạo điều kiện rất thuận lợi cho cách mạng CPC lúc đó . Chiến dịch Đắc Tô - Tân Cảnh năm 1972 , Trung đoàn 28 do ông chỉ huy có nhiệm vụ cắt đường 14 ở đoạn Võ Định , không cho địch ở thị xã Kon Tum đến chi viện cho căn cứ 42 ở Tân Cảnh . Hầm của ông bị bom B52 đánh sập , mọi người moi mãi mới tìm thấy ông . Khi tỉnh lại , ông quyết không nhập viện . Ông nghĩ nhiệm vụ cắt đường lúc này rất quan trọng , mình đi viện lúc này sẽ gây tâm lý hoang mang cho bộ đội , mặc dù rất mệt ông vẫn ở lại chỉ huy chiến đấu . Trong trận đánh này Trung đoàn 28 do ông chỉ huy đã bẻ gẫy nhiều đợt tấn công của địch , cắt đứt đường 14 . Góp phần quan trọng cho chiến dịch Đắc Tô - Tân Cảnh thắng lợi . Nhắc tới ông người ta nhắc tới một vị Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên , một chiến dịch đã tạo nên bước ngoặt lớn trong lịch sử giải phóng đất nước mùa xuân năm 1975 của dân tộc . Trong Chiến dịch này ông có một vinh dự đặc biệt được thay mặt Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên ra Hà Nội báo cáo trực tiếp với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhận những chỉ thị từ Đại tướng Tổng Tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu . Khi về Tây Nguyên , ông cùng Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên xây dựng phương án tác chiến , bày binh bố trận một chiến dịch thật tuyệt vời . Giành thắng lợi vang dội làm nức lòng cả nước . Ông có rất nhiều những chức danh lớn như Uỷ viên Trung ương Đảng , Tư lệnh Quân khu 4 , Tư lệnh Quân đoàn 3 , Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên , Đại biểu Quốc hội 3 khoá liền ( khoá 8 , 9 , 10 ) , ấy vậy mà mỗi lần gặp mặt đơn vị hoặc ông đi gặp anh em đồng đội ở các đơn vị , các địa phương , anh em chẳng ai đọc chức danh ông mà chỉ gọi ông bằng một cái tên rất thân tình " Cụ Thước " , giống như gọi Cha , Chú trong gia đình . Chắc rất ít những vị Tướng lĩnh của ta hiện nay được lính gọi như vậy . Tại sao những người lính Tây Nguyên và những người lính dưới quyền chỉ huy của Ông lại yêu quý Ông , kính trọng Ông và ngưỡng mộ Ông như vậy , trước hết ông là người chỉ huy có tâm và có tài , hết lòng vì Lính , yêu thương Lính như con em ruột thịt trong nhà . Những ngày chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên , dù ở cương vị chỉ huy cấp đại đội , tiểu đoàn , trung đoàn hay Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên rồi Tham mưu trưởng Quân đoàn 3 , ông luôn luôn suy nghĩ , tìm tòi các biện pháp , các cách đánh để sao Lính ít thương vong nhất . Ông nghĩ : những người lính cũng như ông , họ đều có cha , có mẹ , có vợ , có con . Họ ngã xuống cũng như mình ngã xuống , cha mẹ , vợ con , anh em họ sẽ đau khổ biết bao . Là chỉ huy ông luôn đồng cam cộng khổ cùng lính ra tận chiến hào nằm với lính , cùng bò vào tận hàng rào địch với lính , cùng ăn những ngày 1 , 2 lạng gạo với lính , có thời kỳ chiến trường Tây Nguyên quá khó khăn , không có gạo phải chuyển cánh sang Lào , dọc đường hành quân không gạo , ông cũng cùng lính ăn rau rừng để sống . Sau này trở thành vị Tướng trong quân đội , có chức tước cao nhưng không bao giờ Ông không nghĩ tới người Lính . Mỗi lần gặp mặt đơn vị , có các vị Tướng lúc ông là Tướng vẫn còn là lính , Ông luôn căn dặn anh em Tướng lĩnh trẻ phải luôn cảm ơn anh em đồng đội , không có những người lính chiến đấu dũng cảm , những người lính đã hy sinh chắc gì mình còn sống và trở thành Tướng . Vì có cách nhìn đúng về lính nên lúc nào nhà ông cũng luôn có đồng đội bạn bè đến chơi , thăm hỏi ông . Có những người lính ở những vùng rất xa , nhà cũng nghèo chẳng có gì nhưng có dịp vẫn gửi quà biếu Ông , mặc dù món quà chẳng đáng giá là bao , khi thì cân cam , khi thì ít đặc sản vùng miền , cái chính là tấm lòng của những người lính với Ông chứ nhiều ông Tướng lúc còn chức , quyền thì hét ra lửa , khi về nghỉ hưu thì chả còn ai đến chơi , đến thăm . Cũng như bất kỳ người lính nào Ông luôn là người trung thành tuyệt đối với Đảng , với Tổ Quốc , với nhân dân . Ông luôn đặt lợi ích của Đảng , của Dân tộc , của Đất nước lên trên hết . Thời chiến , lúc còn ở chiến trường Tây Nguyên , Ông luôn trăn trở làm sao nhanh chóng giải phóng Tây Nguyên để đồng bào đỡ khổ , đất nước mau chóng thống nhất . Khi hoà bình , mặc dù đã về hưu nhưng Ông vẫn tích cực đóng góp những ý kiến tâm huyết để xây dựng và bảo vệ chủ quyền đất nước . Là vị Tướng sống đức độ , thanh liêm ,ông luôn phê phán thói hư , tật xấu của một số cán bộ có chức , quyền thoái hoá , biến chất ,nói những vấn đề bức xúc của nhân dân , những vấn đề nóng hổi của đất nước , chính vì vậy Ông được nhân dân cả nước biết tên và quý mến , ông là số ít những đại biểu Quốc hội được dân bầu 3 nhiệm kỳ liên tiếp ( khoá 8 , 9 , 10 ) , đến nhà ông chắc mọi người sẽ hết sức ngạc nhiên vì nghĩ một vị Tướng như Ông sẽ ở nhà to , đẹp , ở những vị trí đắc địa , trung tâm . Nhưng không , ông vẫn sống ở mảnh đất và dãy nhà mà quân đội phân cho từ thời bao cấp ở một làng mà ngày trước gọi là làng ven đô , với những đồ dụng vẫn của thời bao cấp . Là Tướng chiến trường , khi là đại biểu Quốc hội mọi người còn gọi ông là " Tướng tên nghị trường " . Bởi vậy mới có một câu được lan truyền trong cả nước : nhất Thước , nhì Trân , tam Lân , tứ Quốc ( Nguyễn Quốc Thước , Nguyễn Văn Trân , Nguyễn Lân Dũng , Dương Trung Quốc ) . Đây là những vị đại biểu Quốc hội phát biểu nhiều nhất và nói được nhiều tâm tư , nguyện vọng của cử tri với Quốc hội . Về chuyện vợ chồng Ông , hiếm có một người chồng nào , một vị Tướng nào lại yêu thương vợ , chăm sóc vợ được như ông . Suốt 13 năm vợ ông bị tai biến nằm một chỗ , ông tự chăm sóc vợ , từ cho ăn , thay đồ , cho uống thuốc .. . Ông đúng là hình mẫu một người chồng hết lòng vì vợ . Năm nay Ông đã 93 tuổi nhưng nhà ông chẳng mấy khi không có cánh báo chí khi thì ghi hình , khi thì phỏng vấn những vấn đề thời sự nóng hổi của đất nước nhưng ông vẫn rất minh mẫn , trả lời rất khúc triết , rất sâu sắc đâu ra đấy , nhiều lần ngồi chứng kiến việc Ông trả lời báo chí tôi thấy thật thán phục và kính nể ông về trí tuệ và trí nhớ . Đất nước mình giờ có quá nhiều Tướng , nhưng những vị Tướng chiến trận như ông , các vị tướng thời chống Pháp , chống Mỹ thì ai cũng biết , họ luôn là những tấm gương mẫu mực để nhân dân tôn kính và học tập , dù nhiều người đã mất nhưng họ vẫn sống mãi với non song đất nước Việt Nam này . Họ là những vị Tướng của Nước , của Dân .
                                                                    NGUYỄN ĐÌNH THI - TRUNG ĐOÀN 24


Ảnh: Trung tướng Nguyễn Quốc Thước và tác giả bài viết
    

ĐẢNG UỶ - BỘ TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN 3 TỔ CHỨC ĐÓN NHẬN DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN CHO TRUNG TƯỚNG TIÊU VĂN MẪN

ĐẢNG UỶ - BỘ TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN 3 TỔ CHỨC ĐÓN NHẬN DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN CHO TRUNG TƯỚNG TIÊU VĂN MẪN

Sáng 10/10/2018 , tại Quân đoàn 3 - thành phố Gia Lai . Đảng ủy ,Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đã tổ chức đón nhận danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN cho Trung tướng Tiêu Văn Mẫn - nguyên Chính ủy Quân đoàn 3 , nguyên Chính ủy Quân khu 5 . Đây là vinh dự đặc biệt đối với Trung tướng Tiêu Văn Mẫn và Quân đoàn 3 . Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc , Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch , Trưởng Ban dân vận Trung ương Trương Thị Mai , đồng chí Nguyễn Hoà Bình - Chánh án tòa án ND Tối cao đã gửi hoa và quà tới chúc mừng Trung tướng Tiêu Văn Mẫn . Về dự buổi lễ trọng thể này có đại diện 4 tỉnh Tây Nguyên nơi đồng chí Tiêu Văn Mẫn đã sống và chiến đấu ( Gia Lại , Kon Tum , Đắc Lắc , Đắc Nông ) , đại diện tỉnh ủy , ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi , đại diện chính quyền huyện Nghĩa Hành và xã Hành Minh quê hương của Trung tướng Tiêu Văn Mẫn . Đại diện chính quyền phường Nam Đồng - thành phố Hà Nội nơi cư trú hiện nay của Trung tướng Mẫn cũng có mặt trong buổi lễ . Đại diện các đơn vị trong Quân đoàn , binh đoàn 15 , đại biểu Sư đoàn 2 - Quân khu 5 , Đại diện Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 , Đại diện Ban liên lạc Sư đoàn 10 tại Hà Nội . Báo Quân đội nhân dân , Truyền hình Quân đội , báo Gia Lai , truyền hình Gia Lai cũng đã đến ghi hình và đưa tin . Phát biểu tại buổi lễ , Tư lệnh Quân đoàn 3 -Thái Văn Minh đã nêu bật những thành tích đặc biệt xuất sắc mà Trung tướng Tiêu Văn Mẫn đã đạt được trong cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập , tự do của Tổ quốc . Đặc biệt là trong trận đánh ở Ngọc Bờ Biêng trong chiến dịch Đắc Tô 1 năm 1967 , Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24A do đồng chí chỉ huy đã xây dựng trận địa chốt ở Ngọc Bờ Biêng , nhử quân Mỹ đến rồi đánh . Trong suốt 3 ngày đêm liên tục chiến đấu ( từ 3 đến hết 5/11/1967 ) . Tiểu đoàn của đồng chí đã tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 Tiểu đoàn quân Mỹ đến cứu viện . Diệt 500 lính Mỹ , thu 100 súng các loại . Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Độc lập hạng2 , 1 Huân chương Quân công hạng 3 , 3 Huân chương chiến công , 1 bằng Dũng sỹ diệt Mỹ . Với những thành tích đặc biệt xuất sắc đã đạt được , ngày 30/8/2018 , Chủ tịch nước đã ký quyết định tuyên dương ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN cho Trung tướng Tiêu Văn Mẫn . Buổi lễ diễn ra rất trang trọng . Dưới đây là một số hình ảnh tại buổi lễ .
Tin và ảnh Nguyễn Đình Thi .










    

ĐÁNH BẠI CUỘC PHẢN KÍCH TÁI CHIẾM BUÔN MA THUỘT CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH SỐ 23 QUÂN L ỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ

ĐÁNH BẠI CUỘC PHẢN KÍCH TÁI CHIẾM BUÔN MA THUỘT 
CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH SỐ 23 QUÂN L ỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ 

Buôn Ma Thuột thất thủ là một đòn choáng váng với quân Nguỵ ,nhưng lúc này lực lượng địch ở Tây Nguyên vẫn còn mạnh , ngoài Sư đoàn 23 chúng còn 7 liên đoàn biệt động quân cùng lực lượng pháo binh , xe tăng và không quân khá lớn . Chính vì vậy mà ngay sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ trưa 11/3 , thì ngay chiều ngày 11/3 Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã chỉ thị cho Phạm Văn Phú - Thiếu tướng - Tư lệnh quân đoàn 2 là phải giữ bằng được các vị trí còn lại ở phía Đông Buôn Ma Thuột để làm bàn đạp tái chiếm Buôn Ma Thuột . Kế hoạch tái chiếm Buôn Ma Thuột của chúng được đích danh Nguyễn Văn Thiệu phê duyệt như sau :
1: Sử dụng lực lượng của Liên đoàn 21 biệt động quân đang ở phía đông Buôn Ma Thuột phối hợp với số quân còn lại của Trung đoàn 53 tại căn cứ 53 hình thành một cánh quân tại chỗ để phản kích .( Riêng căn cứ 53 lúc này địch có khoảng gần 3000 tên , gồm tiểu đoàn 3 / E53 cùng số tàn quân thua trận ở Buôn Ma Thuộc rút chạy về đây tương đương một Trung đoàn )
2: Dùng trực thăng khẩn cấp đưa Trung đoàn 45 và Trung đoàn 44 của Sư đoàn 23 từ PLay cu về phía đông Buôn Ma Thuột hình thành mũi tấn công chủ yếu đánh thẳng vào Buôn Ma Thuột .
3: Huy động tối đa lực lương không quân còn lại ở PLay cu , Đà Nẵng , Cần thơ để phục vụ cho cuộc chuyển quân .
Thực hiện kế hoạch trên , ngay từ ngày 12/3/75 địch đã cho không quân ồ ạt ném bom , bắn phá dọn bãi ở phía đông Buôn Ma Thuột để phục vụ cho việc đổ quân . Chiều ngày 12/3 hơn 100 lượt chiếc trực thăng các loại của địch đã đổ 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 45 và một đại đội thám kích của Sư đoàn 23 xuống khu vực điểm cao 581 , cách Buôn Ma Thuột 10km về phía đông . Ngày 13/3 , chúng đổ tiếp Trung đoàn 44 , pháo đội 232 và tiểu đoàn 3 Trung đoàn 45 xuống khu vực điểm cao 581 , Nông Trại , Phước An . Đây là cuộc đổ quân lớn nhất của địch từ sau hiệp định Pa Ri năm 1973 . Đích danh Phạm Văn Phú - Tư lệnh Quân Đoàn 2 bay trên một chiếc trực thăng đến vùng trời Buôn Ma Thuột để chỉ huy cuộc đổ quân . Phú gọi điện động viên chỉ huy các lực lượng còn lại quanh Buôn Ma Thuột cố gắng giữ các vị trí còn lại , quân tiếp viện đang được đổ xuống để tái chiếm Buôn Ma Thuột . Với lực lượng còn lại quanh Buôn Ma Thuột và lực lượng được đổ xuống chúng hy vọng chỉ trong vòng một vài ngày sẽ đánh bật lực lượng ta ra khỏi Buôn Ma Thuột , giống như năm 1972 chúng chiếm lại thị xã Kon Tum .
Về phía ta , ngay từ khi trận Buôn Ma Thuột chưa nổ súng , Bộ Tư Lệnh Chiến dịch đã dự kiến tình huống : Buôn Ma Thuột được giải phóng thế nào địch cũng sẽ đưa quân đến tái chiếm . Do vậy một kế hoạch đánh địch đến tái chiếm Buôn Ma Thuột cũng đã được chuẩn bị . Phó Tư lệnh Chiến dịch Nguyễn Năng đã trực tiếp xuống Sở chỉ huy Sư đoàn 10 tại phía đông Buôn Ma Thuột cùng chỉ đạo trận đánh . Sư đoàn 10 ngay sau khi dứt điểm Quận lỵ Đức Lập trưa ngày 10/3 , ngay chiều 10/3 toàn bộ lực lượng Sư đoàn cùng xe tăng , pháo cao xạ đã được Bộ Tư lệnh chiến dịch dùng xe ô tô chở gấp về phía đông Buôn Ma Thuột .Ta đã gạn lọc tình huống địch đến tái chiếm Buôn Ma Thuột chỉ có 2 đường : đường bộ và đường không . Đường bộ ta đã khoá chặt . Sư đoàn 320 đã cắt đứt đường 14 từ PLay Cu đi Buôn Ma Thuột ở đoạn Thuần Mẫn . Trung đoàn 25 đã cắt đứt đường 21 từ Khánh Hoà đi Buôn Ma Thuột ở Khánh Dương . Do vậy chỉ còn đường không . Đường hàng không thì Sân bay Hoà Bình tuy ta chưa làm chủ hoàn toàn nhưng máy bay địch không thể đổ bộ xuống đây được vì hỏa lực của ta ở đây đã khống chế được sân bay . Chúng chỉ còn cách là đổ bộ xuống các khu vực khác như căn cứ Chư Nga, căn cứ 45 , Nông Trại hoặc Phước An .
Kiên quyết không cho địch đổ bộ xuống các vị trí có sẵn xung quanh Buôn Ma Thuộc để làm bàn đạp tấn công . Lúc này vấn đề tranh thủ thời gian với ta là rất quan trọng . Thời gian lúc này là lực lượng , thời gian lúc này là cơ hội để tạo ra lợi thế . Bộ Tư Lệnh Chiến dịch chỉ đạo Sư đoàn 10 phải nhanh chóng tổ chức lực lượng tiêu diệt các vị trí xung quanh Buôn Ma Thuộc trước lúc địch đổ quân . Ngày 11/3 trong lúc trận Buôn Ma Thuột vẫn còn đang diễn ra thì tiểu đoàn 5 -Trung đoàn 24 đã được lệnh nổ súng tấn công cứ điểm Chư Nga . Tiểu đoàn bảo an của địch đóng quân ở đây đã nhanh chóng bị tiêu diệt .Ngày 12/3 , tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 24 được tăng cường tiểu đoàn 5 của Trung đoàn 95B cùng 7 xe tăng tiếp tục tổ chức tấn công căn cứ 45 . Căn cứ 45 là hậu cứ của Trung đoàn 45 Nguỵ , cách Buôn Ma Thuột 3 km về hướng đông . Lực lượng địch ở đây khá lớn , kể cả tàn quân thua trận ở Buôn Ma Thuột chạy về đã lên tới hàng ngàn tên . Chỉ trong vòng chưa đầy 4 giờ đồng hồ chiến đấu ta đã làm chủ căn cứ 45 . Bắt 152 tên địch , thu 12 pháo 105 và 155 ly , 2 xe M113 và rất nhiều vũ khí , phương tiện chiến tranh khác của địch ở căn cứ này . Như vậy đến hết ngày 12/3 các vị trí xung quanh Buôn Ma Thuột mà địch dự kiến đổ quân ta đã chiếm xong , duy nhất chỉ còn căn cứ 53 cách Buôn Ma Thuột 7 km về phía Đông là ta chưa chiếm được , nhưng ta đã bao vây , khống chế căn cứ này .
Sau khi phát hiện lực lượng Trung đoàn 45 đổ quân xuống khu vực điểm cao 581 . Tận dụng thời cơ địch vừa đổ quân xuống công sự , hầm hào còn sơ sài , chưa liên kết được với nhau , lại không có xe tăng , xe thiết giáp hỗ trợ . Ngay sáng 14/3 ,Sư trưởng Sư đoàn 10- Hồ Đệ lệnh cho cụm pháo binh của Sư đoàn bắn cấp tập vào khu vực điểm cao 581 nơi quân địch vừa đổ quân , đồng thời lệnh cho Trung đoàn 24 tổ chức tấn công ngay . Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 cùng xe tăng , xe thiết giáp hình thành 2 mũi đánh thẳng lên điểm cao 581 , tiểu đoàn 4 chặn ở phía sau . Vừa chân ướt , chân ráo đổ xuống lại chưa có công sự hầm hào , khi thấy xe tăng và bộ binh ta xuất hiện , địch chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy . Lực lượng Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 cùng xe tăng , xe thiết giáp được lệnh tiếp tục truy kích đánh thẳng ra trục đường 21 . Xe tăng cùng bộ binh lao thẳng vào đội hình phòng ngự dày đặc của địch trên trục đường 21 làm quân địch náo loạn bỏ chạy . Đến chiều 14/3 toàn bộ lực lượng tiểu đoàn 1 và 2 Trung đoàn 45 vừa đổ xuống trong ngày 12 và 13/3 đã cơ bản bị quân ta tiêu diệt và làm tan dã . Số sống sót chạy về Nông Trại .
Ngày 15/3 , Sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23 do Chuẩn tướng Lê Trung Tường - Tư Lệnh Sư đoàn 23 cùng lực lượng còn lại của Trung đoàn 44 cũng được địch đổ bộ tiếp xuống Phước An . Âm mưu biến Phước An thành một căn cứ mới của cuộc phản kích .
Không cho địch co cụm , hồi sức . Sáng ngày 16/3 , Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 cùng tiểu đoàn 1 xe tăng - Trung đoàn 273 được lệnh tấn công vào cụm quân địch ở khu vực Nông Trại , nơi có Sở chỉ huy Trung đoàn 45 . Trước sức mạnh tấn công của bộ binh và xe tăng ta , địch không chống đỡ nổi đã bỏ chạy . Sở chỉ huy Trung đoàn 45 địch đóng ở đây không kịp chạy bằng đường bộ phải vội vã dùng trực thăng tháo chạy nhưng không kịp .Ta thu một chiếc trực thăng còn nguyên vẹn đang nổ máy , bắt sống toàn bộ Ban chỉ huy Trung đoàn 45 , thu rất nhiều vũ khí đạn dược khác , trong đó có 12 khẩu pháo 105 ly , 2xe thiết giáp M113 . Phát huy thắng lợi , bộ binh cùng xe tăng Trung đoàn 24 tiếp tục truy kích địch về hướng Phước An . Tại Phước An , lúc 10 giờ 40 ngày 16/3 , Phạm Văn Phú - Tư lệnh Quân đoàn 2 đã đáp trực thăng xuống đây để xem xét tình hình cuộc phản kích, nhưng khi nhận được tin Trung đoàn 45 bại trận , Nông Trại và các vị trí xung quanh Buôn Ma Thuột đã bị quân ta chiếm , đại quân ta sắp tràn về Phước An và biết khả năng không chống đỡ nổi , Phạm Văn Phú đã ra lệnh cho Lê Trung Tường rút quân khỏi Phước An , chạy về Chư Cúc lập tuyến phòng thủ mới .
17 giờ ngày 16/3 , đại đội 11 - tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 đơn vị đi đầu của Trung đoàn 24 do chính trị viên Lương Văn Nhân chỉ huy đã chiếm được một phần Quận lỵ Phước An . Do nắm địch không chắc , đêm 16/3 ta tổ chức 2 Trung đoàn : 24 và 28 bao vây Phước An để sáng 17/3 nổ súng tấn công Phước An , nhưng trong đêm phát hiện địch ở đây đã bỏ chạy . Tình hình lúc này với ta đang rất thuận lợi , cần nhanh chóng tổ chức tấn công ngay . Tư lệnh Sư đoàn - Hồ Đệ chỉ đạo Trung đoàn 28 dùng tiểu đoàn 3 có xe tăng , pháo binh , pháo cao xạ đi cùng truy kích , hành tiến đánh địch theo trục đường 21 tiến về Chư Cúc . Chư Cúc lúc này như một cái thùng chứa gồm : Lực lượng của Trung đoàn 44 , tàn quân Trung đoàn 45 , Liên đoàn 21 biệt động quân . Lợi dụng công sự , hầm hào có sẵn ở đây kết hợp được sự hỗ trợ đắc lực của không quân địch tổ chức chống trả quyết liệt . 18 giờ ngày 18/3 , tiểu đoàn 3 nổ súng tấn công vào tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 44 của địch ở phía Nam Chư Cúc nhưng chưa dứt điểm được . Sáng 19/3 ,được hỏa lực pháo binh chi viện đắc lực , tiểu đoàn 3 cùng tiểu đoàn 1 tiếp tục tấn công . Đến 12 giờ ngày 18/3 Trung đoàn 28 đã làm chủ được Chư Cúc . Tiêu diệt và làm tan dã toàn bộ lực lượng của Trung đoàn 44 , Liên đoàn 21 Biệt động quân , 2 tiểu đoàn bảo an , bắt và phóng thích tại chỗ gần 800 tên , thu 6 pháo 105 ly .
Bằng nhiều cách đánh khác nhau từ đón lõng , bao vây , tập kích rồi truy kích chỉ trong vòng 5 ngày toàn bộ lực lượng phản kích mạnh nhất của địch ở Tây Nguyên là Sư đoàn 23 đã bị ta tiêu diệt và làm tan dã . Kế hoạch tái chiếm Buôn Ma Thuột của địch đến đây đã thất bại hoàn toàn .
Trận Buôn Ma Thuột là một đòn điểm huyệt hết sức quan trọng , là trận then chốt thứ nhất giáng một đòn mạnh vào quân địch ở Nam Tây Nguyên . Trận tiêu diệt Sư đoàn 23 địch là trận then chốt thứ 2 cũng rất quan trọng vì nếu ta không tiêu diệt được lực lượng chủ chốt của Quân đoàn 2 Nguỵ trong trận phản kích này , nếu địch tái chiếm lại được Buôn Ma Thuột thì chưa chắc đã có việc địch rút chạy khỏi Tây Nguyên và nếu địch không rút khỏi Tây Nguyên thì chưa chắc đã có chiến thắng mùa xuân 1975 . Vì vậy trận tiêu diệt Sư đoàn 23 địch đến tái chiếm Buôn Ma Thuột có một ý nghĩa rất quan trọng . Nó đẩy địch vào tình thế đã khó khăn giờ lại khó khăn hơn , góp phần buộc địch phải rút chạy khỏi Tây Nguyên và tạo ra thời cơ cho cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

NGUYỄN ĐÌNH THI
Nguyên Cán bộ Sư đoàn 10
    

CỜ NHỎ, CỜ TO! ĐƠN VỊ NÀO ĐÁNH CHIẾM TRƯỚC VÀ CẮM CỜ TRƯỚC Ở BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN ĐỘI SÀI GÒN SÁNG 30/4/75 ?

CỜ NHỎ, CỜ TO! ĐƠN VỊ NÀO ĐÁNH CHIẾM TRƯỚC VÀ CẮM CỜ TRƯỚC Ở BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN ĐỘI SÀI GÒN SÁNG 30/4/75 ?
                                                           Nguyễn Đình Thi - Nguyên cán bộ Tuyên huấn Sư đoàn 10

Chuyện đánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn và cắm cờ ở đây đã 42 năm nhưng đến nay anh em Sư đoàn 10 vẫn còn rất bức xúc. Chuyện Sư đoàn 10 chiếm Bộ Tổng Tham Mưu quân đội Sài Gòn trước và cắm cờ ở đây trước là sự thật lịch sử rất rõ ràng không có gì phải bàn cãi, thế nhưng Sư đoàn 320B - Quân đoàn 1 lại cho rằng họ là đơn vị đánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn và cắm cờ ở đây sáng 30/4/75. Sư đoàn 320B - Quân đoàn 1 cũng đã cấp giấy chứng nhận cắm cờ trên nóc nhà Bộ Tổng Tham Mưu quân đội Sài Gòn cho đồng chí Nguyễn Duy Đông - quê thôn An Định - xã Thuỵ Văn - Thái Thuỵ - Thái Bình và 2 đồng chí trong tổ cắm cờ của Trung đoàn 48 - Sư đoàn 320B. Ngày 15/4/2016, Báo Quân đội Nhân dân mục SỰ KIỆN VÀ NHÂN CHỨNG không tìm hiểu kỹ lưỡng cũng đăng bài viết của tác giả Việt Hà viết về tổ cắm cờ của Sư đoàn 320B ở Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn sáng 30/4/75 mà hoàn toàn không đả động gì tới việc Sư đoàn 10 đã vào chiếm trước và cắm cờ trước ở đây. Với bài viết trên báo Quân đội Nhân dân đã vô tình CHO BẠN ĐỌC VÀ THẾ HỆ SAU HIỂU LẦM MỘT SỰ KIỆN LỊCH SỬ QUAN TRỌNG là: Sư đoàn 320B là đơn vị đầu tiên vào chiếm Bộ Tổng Tham Mưu Nguỵ và chỉ có Sư đoàn 320 cắm cờ ở đây. Đây là một điều đáng tiếc với một tờ báo như Báo Quân đội Nhân dân. Sự thật có phải Trung đoàn 48 - Sư đoàn 320B là đơn vị đầu tiên vào chiếm toà nhà chính của Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn không? và có phải 3 đồng chí Nguyễn Duy Đông, Đỗ Xuân Hương và Trịnh Bá Uẩn là những người đầu tiên vào cắm cờ lên nóc nhà Bộ Tổng Tham Mưu sáng ngày 30/4/75 không thì hoàn toàn không phải. Mà sự thật là Trung đoàn 48 - Sư đoàn 320B vào toà nhà Tổng hành dinh Quân đội Sài Gòn sau Sư đoàn 10 và cắm cờ ở đây cũng sau Sư đoàn 10. Sử sách của Sư đoàn 320B - Quân đoàn 1 viết gì thì viết, Sư đoàn 10 chúng tôi vẫn khẳng định là Sư đoàn 320B vào toà nhà Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn sau Sư đoàn 10 và cắm cờ ở đây cũng sau Sư đoàn 10. ĐÂY LÀ MỘT SỰ THẬT LỊCH SỬ KHÔNG THỂ KHÁC. Chúng tôi xin cung cấp các thông tin để bạn đọc có thể đánh giá đơn vị nào vào Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn trước và đơn vị nào cắm cờ ở đây trước.
Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn là 1 trong 5 mục tiêu quan trọng trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Đây là mục tiêu địch phòng thủ mạnh nhất trong 5 mục tiêu ta tấn công Sài Gòn. Tại đây địch bố trí các loại hỏa lực rất mạnh để phòng thủ như xe tăng M48, xe bọc thép M113, hỏa tiễn chống tăng các loại cùng một lực lượng tinh nhuệ là Liên đoàn 81 biệt kích Dù với quân số khoảng gần 2000 tên. Khu vực phòng thủ chính của địch ở Bộ Tổng Tham Mưu lại tập trung ở phía trước cổng chính số 1. Đơn cử để các bạn biết là lúc hơn 9 giờ 30 sáng ngày 30/4/75, khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố ngừng bắn. Thiếu tá Phạm Châu Tài chỉ huy lực lượng quân Dù phòng thủ tại Bộ Tổng Tham Mưu còn khuyên Dương Văn Minh không ngừng bắn và nói sẵn sàng đưa quân và xe tăng từ Bộ Tổng Tham Mưu về bảo vệ Phủ Tổng Thống. Điều này để các bạn thấy lực lượng địch phòng thủ ở đây là rất mạnh và rất ngoan cố.
Nhiệm vụ đánh chiếm mục tiêu Bộ Tổng Tham Mưu địch được giao cho Quân đoàn 1, đối với Quân đoàn 3 mục tiêu này là mục tiêu phát triển tiếp sau mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn Dù, Bộ Tư Lệnh không quân, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 không quân. Nhưng lúc 3 giờ sáng ngày 30/4/1975, sau khi thấy hướng tấn công của Quân đoàn 3 trong ngày 29/4/75 phát triển khá thuận lợi, Sư đoàn 320 đã làm chủ căn cứ Đồng Dù, Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10 đã vào sát Sân bay Tân Sơn Nhất, hiện đang ở ngã 3 Bà Quẹo. Trong khi đó lực lượng chính đánh Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn là Quân đoàn 1 vẫn còn ở dưới Thủ Dầu Một. Lực lượng của Sư đoàn 10 lúc này vẫn còn rất sung sức nên Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 quyết định không dùng Trung đoàn 28 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất từ hướng Bắc như kế hoạch ban đầu mà chuyển sang nhiệm vụ đánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu, vì Trung đoàn 24 đã vào sát sân bay Tân Sơn Nhất mà từ sân bay Tân Sơn Nhất vào Bộ Tổng Tham Mưu rất gần . Kế hoạch ban đầu của Trung đoàn 28 là sử dụng Tiểu đoàn 2 là đơn vị đột phá đầu tiên đánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu song trên đường tấn công Tiểu đoàn 2 bị thương vong khá lớn. Ban chỉ huy Trung đoàn 28 quyết định sử dụng Tiểu đoàn 3 thay Tiểu đoàn 2, đồng thời tăng cường thêm 5 xe tăng T54, 6 xe bọc thép K63 cho Tiểu đoàn 3 làm mũi đột kích mạnh đánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu. 9 giờ sáng 30/4/75 mũi đột kích của tiểu đoàn 3 đã tới Lăng Cha Cả. Khi đến đây, thấy phía trên Lăng Cha Cả xe tăng ta cháy trên đường Võ Tánh chặn mất lối, Trung đoàn phó Đỗ Công Mùi quyết định cho Tiểu đoàn 3 rẽ phải đánh theo đường Trương Minh Ký qua nhà thờ Tân Châu Sa sang đường Thái Ngọc Hậu rồi đánh vào Bộ Tổng Tham Mưu. Địch ở 2 bên đường và phía trước cổng số 1 của Bộ Tổng Tham Mưu chống trả quyết liệt nhưng vẫn không cản được mũi tiến công của Trung đoàn, 1 xe tăng M41 và 1 xe gắn súng máy 4 nòng của địch đã bị bắn cháy, số còn lại bỏ chạy vào Bộ Tổng Tham Mưu. Khoảng 10 giờ lá cờ đầu tiên của ta đã được tổ cắm cờ của Đại đội 10 -Tiểu đoàn 3 cắm ở cổng chính số 1 Bộ Tổng Tham Mưu địch. Thừa thắng, 5 xe tăng, 6 xe bọc thép K63 cùng bộ binh Tiểu đoàn 3 bắt đầu đột phá sâu vào trong cổng chính số 1. Mũi thứ nhất do Chính trị viên C10 Lê Quang Vững chỉ huy cùng 2 xe tăng , 1 xe bọc thép K63 đánh vào phía Đông Nam Bộ Tổng Tham Mưu. Mũi thứ 2 cùng 3 xe tăng, 5 xe bọc thép K63 đánh thẳng vào toà nhà chính của Bộ Tổng Tham Mưu. Địch từ nóc toà nhà chính Bộ Tổng Tham Mưu dùng súng 12ly8 bắn trả quyết liệt vào đội hình Đại đội 10, lập tức bị xe tăng ta nổ súng tiêu diệt. Xe tăng và bộ binh Tiểu đoàn 3 đã nhanh chóng tiêu diệt các mục tiêu còn lại, một đại đội địch bảo vệ toà nhà đã đầu hàng. Xe tăng 982 do Chính trị viên đại đội tăng 5 Nguyễn Văn Thìn chỉ huy cùng bộ binh C10 lao thẳng vào bậc thềm toà nhà chính Bộ Tổng Tham Mưu. 10 giờ 20 phút,Tiểu đoàn 3 -Trung đoàn 28 - Sư đoàn 10 cùng xe tăng Trung đoàn 273 đã hoàn toàn làm chủ toà nhà này và cắm cờ lên chính giữa toà nhà. Sau đó Trung đoàn tổ chức lực lượng chốt chặn bảo vệ toà nhà và thu đầy một xe zép hiện vật và tài liệu quan trọng của địch ở đây. Có những hiện vật rất quan trọng như cờ Bộ Tổng Tham Mưu, con dấu của Bộ Tổng Tham Mưu Nguỵ, thanh kiếm của đại tướng Cao Văn Viên, con dấu của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ...
Đại tá Lê Ngọc Tùng - Nguyên Chỉ huy trưởng Quận đội Đống Đa, hiện sống tại Hà Nội lúc đó là Tham Mưu phó Trung đoàn 28 người trực tiếp cùng Tiểu đoàn 3 đánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu kể về việc gặp lực lượng Trung đoàn 48 ở cổng số 1 như sau: ( Trung đoàn 28 lúc đó có 2 Tham mưu phó )
- Khoảng 10 giờ 45 , sau khi chiếm xong toàn bộ toà nhà Tổng hành dinh Bộ Tổng Tham Mưu và tổ chức canh giữ bảo vệ. Lúc đó tại cổng chính số 1 thấy một lực lượng của Trung đoàn 48 -Sư đoàn 320B đi cùng 1 chiếc xe bọc thép đến. Tôi lệnh cho lực lượng chốt giữ cổng chính đóng cổng sắt không cho vào vì mục tiêu này chúng tôi đã chiếm xong và đang bảo vệ. Do không được vào số anh em này rất bực tức đã dùng súng AK bắn vỡ cả cửa kính phòng bảo vệ, rất may không ai làm sao, họ còn bắn lên trời nhằm đe dọa chúng tôi. Sau khi không vào cổng chính số 1 được lực lượng này cùng chiếc xe bọc thép đã quay sang cổng số 2 ở phía sau để tiến vào Bộ Tổng Tham Mưu.
Đại tá Võ Hùng Kháng hiện đang sống tại thôn Thanh Phong, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, Tỉnh Bình Thuận, lúc đó cũng là Tham mưu phó Trung đoàn 28 người trực tiếp cùng Tiểu đoàn 3 đánh chiếm Tổng hành dinh Quân đội Việt Nam Cộng hoà kể như sau:
" Sau khi trực tiếp cùng anh em C10 cắm cờ ở nóc toà nhà Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn xong đi xuống, khi xuống đến tầng 2 thì gặp mấy đồng chí của Trung đoàn 48 - Sư đoàn 320B vác cờ đi lên. Lý do tôi biết người của Trung đoàn 48 là vì thấy ký hiệu ở trên áo không phải người của đơn vị (Trong chiến dịch Hồ Chí Minh tất cả mọi người tham gia Chiến dịch đều ghi ký hiệu đơn vị mình trên áo). Tôi chặn lại. Thấy tôi căng, một đồng chí đi cùng nhóm người này giới thiệu là Trung đoàn phó Trung đoàn 48 -Sư đoàn 320B - Quân đoàn 1 ( không giới thiệu tên ). Giới thiệu xong đồng chí nói với tôi :
- Chúng tôi đến sau nhưng cờ của các đồng chí nhỏ, cờ của chúng tôi to. Đề nghị đồng chí cho chúng tôi thay cờ này vào vị trí cờ của các đồng chí để quay phim chụp ảnh cho đẹp !
Đúng là cờ của chúng tôi nhỏ thật, nhưng tôi vẫn kiên quyết không cho họ lên cắm cờ. Tôi nói với đồng chí Trung đoàn phó Trung đoàn 48 :
-Tôi biết nhiệm vụ của Quân đoàn 1 các anh là đánh Bộ Tổng Tham Mưu nhưng các anh đến sau các anh phải chấp nhận. Các anh có biết bao bộ đội của tôi ngã xuống trên đường vào đây không ? Ai diệt xe tăng địch ở đây để các anh cắm cờ ? Tôi dứt khoát không cho lên, thậm chí tôi còn dọa :
- Các anh không nghe, lơ mơ là tôi đạp xuống chân tường đó !
Sau một hồi cãi nhau căng thẳng, sau tôi nghĩ: Cờ của mình đã cắm ở vị trí chính giữa toà nhà rồi cho họ cắm vào góc cũng không sao, giả sử sau này có tranh chấp thì chẳng ai công nhận lá cờ cắm ở góc toà nhà nên tôi đã nhân nhượng - đồng ý cho họ lên cắm cờ và yêu cầu :
1 : Cờ của Quân đoàn 1 cắm vào góc bên phải toà nhà nhìn từ trên xuống .
2 : Không được thay thế cờ chúng tôi đã cắm ở giữa toà nhà .
Tôi và anh em C10 còn đứng tại nóc toà nhà giám sát sự việc trên và họ đã làm đúng như tôi yêu cầu
Tầm 12 giờ 30 phút, cũng có một nhóm người nữa của Sư đoàn 320B đến cổng số 1 tôi cũng không cho vào, 1 đồng chí đi cùng nhóm người này chỉ vào một người và giới thiệu với tôi đây là đồng chí Lưu Bá Sảo - Sư trưởng Sư đoàn 320B, khi biết đồng chí này là Sư trưởng tôi cũng không cho vào. Tôi nói:
- Hiện nay chúng tôi đang quản lý và bảo vệ mục tiêu này. Tất cả nội bất xuất, ngoại bất nhập, kể cả đồng chí là Sư trưởng nhưng lính của các đồng chí không có ở đây thì đồng chí vào đây làm gì? Tôi kiên quyết không cho đồng chí Lưu Bá Sảo vào. Thấy tôi căng đồng chí Lưu Bá Sảo dọa tôi:
- Đồng chí không cho tôi vào tôi sẽ bắn đồng chí ( lúc đó đồng chí Lưu Bá Sảo có khẩu cácbin ).
Tôi nói :
- Đồng chí là cán bộ đồng chí không nên nói vậy. Đồng chí có giỏi đồng chí cứ bắn, nhưng đồng chí bắn một viên thí sẽ có một ngàn viên AK bắn vào đồng chí ! ( Đồng chí Lưu Bá Sảo nếu còn sống chắc không quên câu chuyện này )
Cuối cùng tôi vẫn không cho vào. Đến chiều do đồng chí Lưu Bá Sảo là người họ hàng với đồng chí Lưu Quý Ngữ - Chính ủy Sư đoàn 10. Sau khi có ý kiến đồng chí Lưu Quý Ngữ chúng tôi mới giải quyết cho đồng chí Sảo vào. Chúng tôi còn ở lại bảo vệ mục tiêu này tới sáng ngày 1/5/1975 mới bàn giao lại cho đơn vị bạn quản lý toà nhà. Đêm 30/4/1975, tại toà nhà này đồng chí Vũ Lăng - Tư Lệnh Quân đoàn 3 và đồng chí Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy Quân đoàn cũng đã ngủ lại tại đây cùng cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 28.
Thiếu tá Nguyễn Trần Vân Quý - Nguyên cán bộ Cục Tuyên huấn - Tổng cục chính trị , Nguyên Vụ trưởng Vụ pháp chế Tổng cục Hải quan lúc đó là Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn trực tiếp đánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn hiện sống tại Hà Nội kể :
Sau khi đánh tan lực lượng địch ở phía trước cổng chính số 1, đội hình Tiểu đoàn chia thành 2 mũi đánh vào Bộ Tổng Tham Mưu. Lá cờ đầu tiên của Tiểu đoàn được 2 đảng viên trẻ Nguyễn Xuân Tân và Lê Xuân Lựu cắm ngay tại cổng số 1. Sau khi chiếm và bố trí canh giữ toàn bộ toà nhà Bộ Tổng Tham Mưu, khoảng gần 1 giờ sau một lực lượng của Trung đoàn 48 - Sư đoàn 320B tới cổng số 1 nhưng cổng chính số 1 do Trung đoàn 28 canh giữ đã đóng. Khi thấy lực lượng Sư đoàn 10 đã chiếm được Bộ Tổng Tham Mưu và không vào được, đồng chí đại đội trưởng đại đội cắm cờ của Trung đoàn 48 đã đứng ngoài khóc .
Bằng chứng cứ những hình ảnh sau đây thì Sư đoàn 320B - Quân đoàn 1 muốn nói gì thì nói, muốn viết gì thì viết cũng không thể chứng minh được họ vào toà nhà Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn trước Sư đoàn 10 và cắm cờ ở đây trước Sư đoàn 10.
1.Trong bức hình 1 lá cờ nhỏ của Sư đoàn 10 cắm tại vị trí chính giữa toà nhà , nơi trước đó có cờ của Ngụy quyền Sài Gòn. Trong nghề Luật của tôi gọi đây là chứng cứ biết nói , chứng cứ không thể thay thế . Nếu Sư đoàn 320B vào trước Sư đoàn 10 thì chả có lý do gì cờ của Sư đoàn 320B rất to lại không cắm vào vị trí chính giữa toà nhà , nơi đang treo cờ Nguỵ quyền Sài Gòn mà lại đi cắm vào góc toà nhà ? Qua hình ảnh này càng cho thấy lời Tham mưu phó Trung đoàn 28 - Võ Hồng Kháng nói là chính xác.
2. Cũng trong bức hình này ta thấy cờ nhỏ của Sư đoàn 10 ở giữa toà nhà đã cắm xong , chưa cần nói xong trước đó bao nhiêu thời gian, còn lá cờ to của Sư đoàn 320 vẫn còn 2 người loay hoay buộc dây. Từ đó một người bình thường nhất cũng có thể suy đoán ra đơn vị nào vào cắm cờ trước ở đây. Chỉ với bức ảnh trên chúng ta đã thấy được tất cả sự thật.
3. Hình ảnh đội hình xe tăng Trung đoàn 28 sau khi chiếm mục tiêu Bộ Tổng Tham Mưu Nguỵ và chốt giữ tại đây không có bất kỳ một xe tăng xe bọc thép nào của Sư đoàn 320B . Thử hỏi với một chiếc xe bọc thép và một trung đội bộ binh Trung đoàn 48 - Sư đoàn 320B có thể đánh chiếm được mục tiêu này không ? ( Theo Sử của Sư đoàn 320B tổ cắm cờ của Nguyễn Duy Đông cùng một Trung đội đi trên một chiếc xe bọc thép đến cổng số 1 bị địch chặn không tiến lên được đành quay lại cổng sau số 2 để tiến vào Bộ Tổng Tham Mưu )
Sự việc đánh chiếm và cắm cờ ở toà nhà chính của Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn sáng 30/4/75 là vậy. Rất may sau 42 năm đánh chiếm toà nhà chính Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn ngày hôm đó rất nhiều cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 3 và Trung đoàn 28 vẫn còn sống. Chúng tôi rất muốn đồng chí Trung đoàn phó Trung đoàn 48 hôm đó, các đồng chí Sư đoàn 320B và tổ cắm cờ của Trung đoàn 48 gồm 3 đồng chí: Nguyễn Duy Đông - quê An Định - xã Thuỵ Văn - Thái Thuỵ -Thái Bình cùng đồng chí Đỗ Xuân Hương, quê Thuỵ Văn - Thái Thuỵ - Thái Bình và đồng chí Trịnh Bá Uẩn và tất cả các đồng chí cùng tham gia tranh luận để làm sáng tỏ sự thật này. Chúng tôi cũng mời tác giả Việt Hà người viết bài báo số ra ngày 15 tháng 4 năm 2016 trên mục Sự kiện và Nhân chứng của báo Quân đội Nhân dân cùng tham gia tranh luận để trả lại SỰ THẬT LỊCH SỬ CHO TRẬN ĐÁNH NÀY .
Chúng tôi xin cung cấp tư liệu một số hình ảnh để các đồng chí tham khảo.
Hình 1. Cờ nhỏ của Sư 10 cắm ở chính giữa toà nhà Bộ Tổng Tham Mưu Nguỵ sáng 30/4/75 , nơi trước đó có treo cờ của Nguỵ quyền Sài Gòn . Lá cờ to ở góc phải toà nhà ( từ trên nhìn xuống ) là cờ do Sư đoàn 320B - Quân đoàn 1 cắm.
Hình 2. Nguyễn Duy Đông - Trung đoàn 48 - Sư đoàn 320B - Quân đoàn 1 đang chỉ cho phóng viên xem hình ảnh lá cờ mà mình đã cắm ở góc toà nhà Bộ Tổng Tham Mưu quân đội Sài Gòn .
Hình 3. Xe thiết giáp của Trung đoàn 28 chốt giữ cổng chính số 1 - Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn.
Hình 4. Lá cờ đầu tiên được Trung đoàn 28 cắm ở cổng chính Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn sáng 30/4/75 .