THƯỢNG TƯỚNG VŨ LĂNG - NGƯỜI TƯ LỆNH SẮC SẢO.


Chiến thắng Tây Nguyên tháng 3/1975 là một chiến thắng hết sức to lớn . Nó đã tạo nên bước ngoặt mới của cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc ta . Có được chiến công trên chúng ta không thể quên vai trò chỉ huy của cố Thượng tướng VŨ LĂNG - Nguyên Tư lệnh đầu tiên của Quân đoàn . Nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Quân đoàn 3 Anh hùng ( 26/3/1975 - 26/3/2020 ) . Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc bài : THƯỢNG TƯỚNG VŨ LĂNG - NGƯỜI TƯ LỆNH SẮC SẢO , như một lời tri ân gửi tới cố Thượng tướng VŨ LĂNG .


THƯỢNG TƯỚNG VŨ LĂNG - NGƯỜI TƯ LỆNH SẮC SẢO
Cố Thiếu tướng Huỳnh Nghĩ
                                    Nguyên Phó giám đốc Học viện Đà Lạt

Anh Vũ Lăng nguyên là một trong 4 Tư lệnh Quân đoàn chỉ huy một trong những cánh quân chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong chiến dịch này, anh là Tư lệnh Quân đoàn 3, chỉ huy quân đoàn từ Tây Nguyên tiến về Nam Bộ, tiến công vào hướng tây bắc thành phố Hồ Chí Minh, hướng chủ yếu của chiến dịch, diệt Sư đoàn 25 ngụy, đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, sân bay Tân Sơn Nhất và cùng Quân đoàn 1 chiếm Bộ Tổng tham mưu quân ngụy.
Trước khi vào chiến trường, anh là Cục trưởng Cục tác chiến thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Anh kể lại, khi được đồng chí Văn Tiến Dũng cho biết cấp trên có ý định điều động anh vào Tây Nguyên làm Tư lệnh Mặt trận thay anh Hoàng Minh Thảo, anh mừng quá, vì rất phù hợp với nguyện vọng mong muốn đi vào chiến trường đang ấp ủ bấy lâu nay. Cấp trên cho nghỉ một tháng để chuẩn bị, nhưng sợ gặp chuyện đột xuất phải thay đổi nên anh chỉ xin nghỉ có một tuần để chuẩn bị. Anh được Bộ Tổng tham mưu gợi ý sơ bộ về nhiệm vụ tác chiến năm 1975, ý đồ xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên. Anh lên đường và chính thức nhận nhiệm vụ Tư lệnh Tây Nguyên vào tháng 6 năm 1974 . Cùng thời gian này, anh Đặng Vũ Hiệp nhận nhiệm vụ Chính ủy Mặt trận.
Tháng 9 năm 1974, Bộ giao cho Tây Nguyên: Trong năm 1975, chiến trường Tây Nguyên là chiến trường chính, trong hoạt động mùa khô ở miền Nam. Mục tiêu chủ yếu là quận lỵ Đức Lập (Đắc Min).
Đến tháng 11 năm 1974, Bộ lại bổ sung nhiệm vụ: Mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Nam Tây Nguyên là thị xã Gia Nghĩa. Cụ thể là “Tiêu diệt và làm bị thương từ 4 đến năm vạn tên địch, trong đó có từ 3 đến 4 trung đoàn, liên đoàn bộ binh, thiết giáp, đánh thiệt hại từ 1 đến 2 sư đoàn chủ lực ngụy. Mở rộng hành lang chiến lược vào đến miền Đông Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng Khu 5 (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa). Giải phóng vùng đất bằng nam Plây ku, Cheo Reo và xung quanh Buôn Ma Thuột, đánh bại kế hoạch nống lấn giải tỏa của địch, giữ vững và phát huy quyền làm chủ chiến trường; thực hiện chia cắt chiến lược. Tích cực phối hợp với mặt trận đánh phá “bình định” ô đồng bằng. Cụ thể diệt từ 3 đến 4 tiểu khu, từ 1 đến 2 tỉnh lỵ (Gia Nghĩa, Cheo Reo, chủ yếu là Gia Nghĩa (Đắc Nông -TG) đánh phá giao thông và hậu cứ. Xây dựng ba thứ quân, xây dựng vùng giải phóng, mở đường chiến dịch, đường chiến lược, hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ tiếp theo”.
Ý định của Bộ là Tây Nguyên cần xây dựng kế hoạch cơ bản và kế hoạch thời cơ. Chiến dịch này rất kiên quyết, trường hợp nào cũng phải giành thắng lợi. Nhằm thực hiện ý định trên, từ tháng 4 năm 1974, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên đã quyết định xây dựng các lực lượng vũ trang Tây Nguyên theo phương hướng thành quân đoàn cơ động tác chiến quy mô lớn. Đây là một công việc khá phức tạp. Trước nay Tây Nguyên là một Mặt trận, ngoài các đơn vị chủ lực còn có các bộ phận sản xuất, các binh trạm, kho tàng nằm trải dài khắp các tỉnh, nay phải thu cho gọn lại. Để thành binh đoàn cơ động mạnh, mỗi sư đoàn phải có đủ 3 trung đoàn bộ binh và 1 trung đoàn pháo binh, mỗi tiểu đoàn có 400 quân; tổ chức thêm các trung đoàn binh chủng trực thuộc: pháo binh, cao xạ, xe tăng, công binh, đặc công, thông tin. Tiến hành xây dựng gần 400km mạng đường sá giao thông, tổ chức các trạm tiếp nhận vật chất hậu cần, bến bãi, kho tàng dự trữ chiến dịch - chiến lược. Chỉ tính riêng việc sửa chữa và khôi phục hàng trăm chiếc xe cơ giới để có thể cơ động được đã là chuyện rất khó. Anh Đỗ Thuyên, Cục trưởng Cục kỹ thuật hứa với anh Vũ Lăng là sẽ sẽ nổ lực cao nhất bảo đảm trên 95% đầu xe cơ động tốt.
Công việc chuẩn bị cho chiến dịch Nam Tây Nguyên hết sức nặng nề đè nặng lên vai người Tư lệnh. Trong xử lý công việc, anh Vũ Lăng giải quyết khá cụ thể, đầy đủ và chính xác. Kiến thức về tổ chức và chỉ huy một binh đoàn cơ động của anh thật phong phú, sắc sảo đã giúp chúng tôi học tập được rất nhiều.
Công tác quan trọng nhất của quá trình chuẩn bị là việc đi nghiên cứu chiến trường. Anh Nguyễn Năng, phó Tư lệnh được phân công đi chuẩn bị ở Gia Nghĩa. Anh Vũ Lăng đi chuẩn bị ở đường 14. Tôi có may mắn được đi cùng anh Vũ Lăng trong lần chuẩn bị này. Đó là vào cuối năm 1974, lúc này Sở chỉ huy Mặt trận đóng ở phía tây sông Ea D'rang. Rời Sở chỉ huy vào buổi chiều khi mặt trời sắp lặn, vượt qua khu rừng le, chúng tôi chia làm 2 đoàn đi hai đường khác nhau và hẹn gặp tại đường ô tô. Mới vào mùa khô, Tây Nguyên đã hết mưa, nhưng đường sá còn lầy lội. Để giữ bí mật, chúng tôi hành quân vào ban đêm. Đường quân sự làm gấp từ Gia Lai đi vào Đắc Lắc xuyên qua các khu rừng, nhiều đoạn phải lót bằng cây mới qua được các bãi lầy. Có những đoạn xe bị sa lầy, chúng tôi phải xuống đẩy xe qua. Trên đường, những chiếc U-oát lắc lư, nghiêng ngã. Khi đến bờ sông Pô Cô, các chiến sĩ công binh bắc cầu phao qua sông vui mừng đón chúng tôi. Dưới ánh sao đêm, những chàng chiến sĩ dũng cảm đang trực chiến bên dòng Pô Cô. Bài hát “Cô lái đò trên sông Pô Cô” đêm nay như vẫn ngân vang ca ngợi anh bộ đội Cụ Hồ bám trụ kiên cường bên chiếc cầu phao 50 tấn giữa núi rừng Tây Nguyên. Các anh cho biết, máy bay địch bắn phá bến vuợt suốt ngày đêm. Xe băng qua cầu, tạm biệt các anh, tạm biệt dòng Pô Cô.
Đi suốt đêm, sáng hôm sau đoàn xe chúng tôi dừng lại giữa một khu rừng khá kín đáo. Các đồng chí trinh sát đón anh Vũ Lăng và trình bày kế hoạch đi trinh sát đường 14, trên đoạn từ cầu Srêpok (cầu 14) đi Đắc Min. Ý định của chiến dịch là sau khi ta đánh chiếm thị xã Gia Nghĩa, Sư đoàn 23 quân ngụy sẽ lên tiếp viện và ta sẽ sử dụng 1 sư đoàn chặn đánh lực lượng ứng viện của Sư đoàn 23 trên đoạn đường này. Địa điểm quan sát là đỉnh một quả đồi le dốc đứng thuộc vùng Cư Jút hiện nay. Thời đó rừng ở đây còn kín đáo, hoang sơ. Để đưa anh Vũ Lăng lên được đỉnh, các đồng chí trinh sát phải đẩy anh lên. Sau khi quan sát mặt đường xong, đoàn tiếp tục đi nghiên cứu phía sau.
Vừa rời khỏi đường số 14, thì phát hiện phía trước có xe kéo gỗ, đoàn tạm dừng và tạt vào rừng để nắm tình hình. Sau một lúc, đoàn lại tiếp tục lên đường. Khi đi được một quãng khá xa, mới phát hiện thiếu một bác sĩ của đoàn. Thế là anh Vũ Lăng cho đoàn tạm dừng và tung các toán trinh sát đi tìm bác sĩ suốt cả chiều và đêm hôm đó, mà vẫn không tìm thấy. Đúng là một mất, mười ngờ, suốt đêm cả đoàn lo lắng bác sĩ bị địch bắt , mọi người thao thức không ai ngủ được. Mãi đến 8 giờ sáng hôm sau, trinh sát mới tìm thấy bác sĩ đang đi thất thểu trong rừng. Hóa ra, lúc đoàn tạm dừng, bác sĩ xuống suối rửa chân, khi trở lên thì đoàn đã đi rồi, nên lạc trong rừng suốt đêm.
Tinh hình chiến trường cuối năm phát triển rất nhanh. Thắng lợi toàn Miền, nhất là chiến thắng giải phóng toàn tỉnh Phước Long của Nam Bộ, càng cho thấy quân ngụy Sài Gòn đã suy yếu rõ rệt, còn Mỹ khó quay trở lại. Điều đó càng củng cố quyết tâm giải phóng miền Marn. Ngày 8 tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị đã có quyết định quan trọng cho Tây Nguyên: “ Chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Nam Tây Nguyên”. Sau đó, Bộ đã điện cho Bộ tư lệnh chiến dịch: “Chuyển mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Nam Tây Nguyên về Buôn Ma Thuật”.
Việc quyết định chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Nam Tây Nguyên phản ánh sự nắm bắt nhạy bén tình hình chiến lược và sự quyết đoán đúng đắn của cơ quan lãnh đạo cấp cao.Tuy nhiên, việc chuyển mục tiêu chủ yếu về Buôn Ma Thuột đã làm thay đổi cơ bản mọi kế hoạch chuẩn bị của chiến dịch. Có thể nói, công tác chuẩn bị hầu như phải làm lại từ đầu. Từ việc chuẩn bị kế hoạch tiến công, đi nghiên cứu chiến trường đến việc xây dựng lại hệ thống đường giao thông, vận chuyển hậu cần, nhưng khó khăn nhất là việc đưa xe tăng và pháo xe kéo vào thị xã. Một khó khăn khác là cách đánh thị xã. Thị xã Buôn Ma Thuột rộng 25 km vuông, trong thị xã có đến 8.000 tên dịch phòng thủ. Sau nhiều lần tranh luận dân chủ, cuối cùng anh Vũ Lăng kết luận và được Thường vụ chuẩn y cách đánh thị xã là dùng sức mạnh đột phá binh chủng hợp thành là chính, kết hợp với lực lượng đặc công luồn sâu, lót sẵn bất ngờ đánh chiếm trước một số mục tiêu bên trong, kết hợp trong ngoài cùng đánh.
Để giữ bí mật ý định đánh thị xã, vấn đề nghi binh thu hút , kìm chân đại bộ phận chủ lực ở lại Bắc Tây Nguyên là rất quan trọng. Tuy Bộ tư lệnh chiến dịch đã thực hiện khá nhiều biện pháp nghi binh đánh lừa địch, nhưng do địch phát hiện một số triệu chứng hoài nghi, nên ngày 19 tháng 2 năm 1975, tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy quyết định đưa trung đoàn 45 thuộc Sư đoàn 23 từ Piây ku đổ bộ xuống Eạ H' Leo lùng sục vào khu vực mà chúng nghi ngờ có Sư đoàn 320 của ta đang tập kết ở đó. Để xử trí tình huống khó khăn này, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định cho Sư đoàn 320 lùi về phía sau, tránh đụng độ với địch, đồng thời ra lệnh cho các đơn vị ở phía Bắc tích cực nghi binh kéo trung đoàn 45 ngụy trở lại Plây ku. Đồng thời, anh Vũ Lăng chỉ thị cho cơ quan tham mưu phát đi bức điện giả gửi cho các đơn vị với nội dung: “Địch đã bị ta nghi binh, cho rằng ta sẽ đánh, Buôn Ma Thuột, nến đã đưa trung đoàn 45 xuống Ea H'Leo”. Địch đã nhận được bức điện giả đó. Trong cuốn “Cuộc, tháo chạy tán loạn, Frank Snepp đã viết: “Mưu này đã đánh lừa tất cả chúng tôi, với hậu quả tai hại cho chính phủ”.
Để tăng cường lực lượng cho chiến dịch, Bộ đã điều động sư đoàn 316, lực lượng dự bị của Bộ vào tăng cường cho Tây Nguyên. Một buổi tối, anh Vũ Lăng cho gọi tôi lên. Anh giao cho tôi nhiệm vụ làm phái viên đến giúp Sư đoàn 316 đi nghiên cứu thị xã Buôn Ma Thuột và xây dựng kế hoạch tiến công thị xã. Anh dặn dò tôi rất kỹ về chuyện tuyệt đối giữ bí mật, vì hiện nay địch chưa biết gì về việc Sư đoàn 316 đã đến Tây Nguyên.
Do tầm quan trọng của chiến dịch, ngày 7 tháng 2 năm 1975, anh Hoàng Minh Thảo được quyết định của cấp trên về làm Tư lệnh chiến dịch. Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã cử anh Văn Tiến Dũng làm đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh vào Tây Nguyên tổ chức Sở chỉ huy tiền phương của Bộ chỉ đạo trực tiếp chiến dịch.
Khi vào chiến trường, anh Văn Tiến Dũng triệu tập Bộ tư lệnh chiến dịch đến báo cáo tình hình. Anh Dũng đặt vấn đề: Vì sao Sư đoàn 10, một đơn vị có kinh nghiệm đánh công sự vững chắc lại sử dụng để đánh Đức Lập mà không sử dụng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột?
Anh Vũ Lăng kể lại: Buổi sáng hôm đó anh bị sốt rét rất nặng, người run lẩy bẩy, mặt tím bầm nên không dự buổi báo cáo được. Anh Thảo mới về còn đang nắm tình hình. Trong lúc đó, anh Văn Tiến Dũng cứ xoay về chuyện sử dụng Sư đoàn 10. Trưa hôm đó, anh Đặng Vũ Hiệp đề nghị anh Vũ Lăng cố gắng chiều đến báo cáo cho anh Dũng. Anh Đặng Vũ Hiệp nói bác sĩ tiêm cho anh Vũ Lăng liều thuốc chống sốt rét cao, hạ bớt cơn sốt để anh có thể đi dự họp được. Mặc dù trong người còn rất mệt, nhưng chiều hôm đó anh đã cố gắng đến dự họp và báo cáo cho anh Dũng ý định của Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch về việc sử dụng Sư đoàn 10. Đức Lập là một cụm cứ điểm phòng ngự vững chắc, án ngữ sát biên giới Việt Nam- Campuchia, án ngữ con đường chiến lược vào Nam Bộ, nên việc đánh Đức Lập cần giao cho Sư đoàn 10, hơn nữa Sư đoàn 10 đã chuẩn bị từ lâu theo nhiệm vụ được giao ban đầu (Đức Lập là mục tiêu chủ yếu); Sư đoàn 10 chỉ đánh Đức Lập trong ngày 9 tháng 3, rồi nhanh chóng quay về Buôn Ma Thuột sẵn sàng đánh phản kích; trong tình hình hiện nay địch đang theo dõi ta ráo riết, nếu cơ động Sư 10 sẽ dễ lộ bí mật. Báo cáo của anh khá thuyết phục nên cuối cùng đã được anh Dũng nhất trí phê chuẩn kế hoạch đó. Anh Dũng nhắc nhở cần chuẩn bị thật đầy đủ phương tiện để đưa nhanh Sư đoàn 10 về Buôn Ma Thuột. Cả Bộ tư lệnh chiến dịch thở phào nhẹ nhỏm. Trong tiến trình diễn biến chiến dịch Tây Nguyên, anh Vũ Lăng đã góp sức xứng đáng cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh chiến dịch chỉ huy đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột, nhất là trong việc sử dụng trung đoàn 66 Sư đoàn 10 vào tăng cường cho Sư đọàn 316 đánh chiếm căn cứ 53.
Ngày 21 tháng 3 năm 1975, anh Văn Tiến Dũng chuyền đạt cho Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên lệnh bổ sung nhiệm vụ của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh: “ Tiếp tục phát triển chiến đấu trên 3 trục đường 19, 7 và 21 giải phóng Phú Yên, Khánh Hòa, phối hợp với Sư đoàn 3 Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Mục tiêu chủ yếu là diệt lữ đoàn dù 3 ở đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc và tiến xuống giải phóng Nha Trang, Cam Ranh”.
Thực hiện nhiệm vụ trên, Sư đoàn 10, trung đoàn 25, trung đoàn pháo binh 40, sau khi diệt xong Sư đoàn 23 ngụy đã tiến theo đường 21 (nay là đương 26) từ Buôn Ma Thuột xuống Khánh Hòa, anh Vũ Lăng và anh Đặng Vũ Hiệp được phân công trực tiếp đi đốc chiến cánh quân này. Lúc này, lữ đoàn dù 3 quân ngụy đã lên chốt ở đèo Phượng Hoàng hòng ngăn chặn Sư đoàn 10. Đèo Phượng Hoàng là một ngọn đèo quanh co, hiểm trở, dài ngót 10 km. Lữ đoàn 3 tổ chức thành nhiều cụm phòng ngự dã chiến mà địch gọi là phòng ngự di tản, được 24 khẩu pháo và rất nhiều máy bay chi viện, hình thành cánh cửa thép Phượng Hoàng (như chúng nói) quyết chặn đứng Sư đoàn 10.
Sau khi nghiên, cứu tình hình, anh Vũ Lăng chỉ đạo cho Sư đoàn 10, trung đoàn pháo binh 40 tập trung pháo binh diệt từng trận địa pháo địch, hạn chế thấp nhất hỏa lực chi viện cho địch. Một số pháo, đạn thu được của địch ở Buôn Ma Thuột đã được sử dụng trong trận này. Sau hai ngày pháo binh ta đánh quyết liệt, 12 khẩu pháo của địch đã bị phá hủy, địch phải co lại và cuối cùng lữ đoàn 3 đã bị Sư đoàn 10 đánh cho tan tác sau 2 giờ tiến công. Địch phải bỏ đèo Phượng Hoàng tháo chạy. Từ trên đỉnh đèo, đã nhìn thấy biển xanh lấp lánh phía đằng đông như vẫy gọi quân ta tiếp tục tiến xuống đồng bằng. Thừa thắng Sư đoàn 10 tiến xuống giải phóng thị xã Nha Trang và tiến vào chiếm bán đảo Cam Ranh. Qua trận này, càng thấy tài chỉ huy sắc sảo của anh Vũ Lăng trong việc diệt lữ dù 3, đặc biệt là cách sử dụng pháo binh.
Sau khi Tây Nguyên được hoàn toàn giải phóng, ngày 26 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân đoàn 3. Anh Vũ Lăng làm Tư lệnh, anh Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy Quân đoàn. Các anh Nguyễn Năng và Kim Tuấn làm phó Tư lệnh, anh Phí Triệu Hàm làm phó Chính ủy.
Quân đoàn 3 sau khi đánh chiếm Phụ Yên, Khánh Hòa đã được lệnh tiến vào Nam Bộ tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Tin vui trên đã làm nức lòng cán bộ và chiến sĩ trong Quân đoàn. Hàng chục năm sống và chiến đấu với các dân tộc Tây Nguyên, được nhân dân nuôi dưỡng đùm bọc, nay sắp phải đi đến một chiến trường mới, cán bộ và chiến sĩ Quân đoàn bùi ngùi xúc động, lưu luyến chia tay nhân dân và hẹn ngày trở lại.
Cơ quan quân đoàn rời Buôn Ma Thuột vào một buổi chiều. Khi ánh nắng vàng vừa tắt trên những rặng cây cao su, thì đoàn xe lên đường. Chúng tôi vẫy tay, chào Tây Nguyên, chào dòng sông Srêpok.
Ngày 12 tháng 4 năm 1975, anh Vũ Lăng và anh Đặng Vũ Hiệp nhận nhiệm vụ ở sở chỉ huy Bộ Tư lệnh chiến dịch. Theo anh Vũ Lăng kể lại: Anh có kiến nghị nên đặt tên cho chiến dịch lịch sử giải phóng Sài Gòn là chiến dịch Hồ Chí Minh, nhằm tôn vinh vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Bộ Chính trị đã đồng ý kiến nghị này.
Sau khi nhận nhiệm vụ ở Bộ tư lệnh chiến dịch, ngày 14 và 15 tháng 4 năm 197.5, Bộ Tư lệnh Quân đoàn giao nhiệm vụ cho các Sư đoàn 316, 320 và các trung đoàn binh chủng. Riêng sư đoàn 10 còn đang hành quận dọc đường Bộ Tư lệnh Quân đoàn rất lo lắng và đang tìm cách để đưa sư đoàn 10 về nhanh cho kịp thời gian.
Theo kế hoạch của Quân đoàn, Sư đoàn 316 cắt đường và diệt địch trên đoạn từ Củ Chi đi Trảng Bàng, sư đoàn 320 đánh chiếm căn cứ Đồng Dừ diệt sở chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy, Sư đoàn 10 làm nhiệm vụ thọc sâu đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất.
Anh Vũ Lăng kể lại: Trong khi thấy Sư đoàn 10 về muộn, có người đã nói với anh, hay là thay đổi nhiệm vụ giao cho Sư đoàn 10 đánh một mục tiêu khác, giao cho một sư đoàn khác đánh chiếm Tân Sơn Nhất? Anh Vũ Lăng không đồng ý. Anh nói cứ để Sư đoàn 10 đánh Tân Sơn Nhất, nếu rủi ro không thắng thì chỉ có Sư đoàn 10 thua, nhưng bây giờ thay đổi thì sẽ có 2 Sư đoàn thua, vì cả 2 đều chưa được chuẩn bị chu đáo từ trước. Và anh quyết định giữ nguyên ý định của Thường vụ và Bộ Tư lệnh Quân đoàn.
Trong tình hình khẩn trương đó, anh Vũ Lăng gọi tôi đến và giao cho tôi xây dựng kế hoạch thọc sâu giúp Sư đoán 10. Tôi cùng anh em trong phòng quân huấn suốt mấy ngày đêm tập trung xây dựng kế hoạch Sư đoàn 10 thọc sâu vào Tân Sơn Nhất thật cụ thể. Kế hoạch trên đã được Bộ Tư lệnh quân đoàn phê chuẩn.
Ngày 25 tháng 4, Sư đoàn 10 mới về đến khu tập kết Dầu Tiếng. Anh Vũ Lăng lại giao cho tôi xuống phổ biến cho hội nghị quân chính của Sư đoàn 10 về kế hoạch tiến công Tân Sơn Nhất mà Bộ tư lệnh Quân đoàn đã phê chuẩn. Anh Nguyễn Văn Kiệp, tham mưu phó Sư đoàn 10 ra đón tôi tận ngoài ngõ rẽ. Sau khi nghe phổ biến kế hoạch, anh Hồng Sơn Sư đoàn trưởng và anh Lã Ngọc Châu Chính ủy sư đoàn rất vui mừng và cám ơn. Tôi được giao tiếp nhiệm vụ đi cùng Sư đoàn 10 vào đánh chiếm sân bay.
Từ ngày 25 tháng 4, Bộ tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho các trận địa pháo của ta (27 khẩu đánh vào hàng loạt các trận địa pháo địch ở tây sông Sài Gòn- Suốt 4 ngày ròng rã, các trận địa pháo của ta đã đánh quyết liệt, 11 trên 18 trận địa pháo địch đã bị tê liệt, tạo điều kiện thuận lợi cho Quân đoàn 3 vào triển khai tiến công ở tây sông Sài Gòn. Một lần nữa, tài năng sử dụng pháo binh của anh Vũ Lăng đã phát huy hiệu quả.
Khoảng 2, giờ sáng ngày 30 tháng 4, trong khi Sư đoàn 10 đã đến nga ba Bà Quẹo, anh Vũ Lăng nhận được điện: Quân đoàn 3 có thêm nhiệm vụ đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy, coi nhiệm vụ đánh chiếm Bộ Tông tham mưu ngụy là nhiệm vụ chính thức như nhiệm vụ đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhật.
Một nhiệm vụ mới nảy sinh trong quá trình tiến công; Anh giao cho Sư đoàn 10 phái trung đoàn 28 đảm nhiệm tiến công vào Bộ Tổng tham mưu ngụy. Sau này trung đoàn 28 đã đánh chiếm cơ quan Bộ Tổng tham mưu ngụy cùng lúc Sư đoàn 320 tiến vào đánh chiếm sở chỉ huy hành quân.
Hồi 9 giờ sáng 30 tháng 4, trung đoàn 24 Sư đoàn 10 hình thành 2 mũi tấn công đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất . Tuy bị địch ngăn chặn quyết liệt ở khu vực Lăng Cha Cả đến 11 giờ 30 , Trung đoàn đã làm chủ hoàn toàn sân bay . Anh Vũ Lăng mất năm 1989 vì một căn bệnh quái ác. Những ngày anh lâm bệnh, thường vào ban đêm tôi lên ngồi nói chuyện cũ với anh. Có những buổi anh giữ tôi ngồi lại rất khuya. Anh nói đùa: Cúc cụ Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn đã đi trước, ở dưới đó đã đủ cả bộ sâu, chỉ còn thiếu anh tác chiến, nên tớ xuống là đủ bộ. Vậy mà anh đi thật. Hôm đón quan tài anh từ Nga chở về, chúng tôi không ai cầm được nước mắt tiếc thương người. Tư lệnh tài năng, sắc sảo, người Viện trưởng Học viện uyên thâm.
TP HCM, tháng 12 năm 2003


    

KÝ ỨC TÂY NGUYÊN


KÝ ỨC TÂY NGUYÊN

              Hồ Bá Vinh



21 năm – Một nửa thời gian trong cuộc đời quân ngũ, tôi gắn bó với Quân đoàn 3 – Binh đoàn Tây Nguyên. Năm 1997, trước khi rời Tây Nguyên ra Hà Nội nhận công tác, tôi đã có Ghi chép: “Sống ở Tây Nguyên”; bài viết, sau đó được đăng trên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần, ngày 29/3/1998. Nhân Kỷ niệm 45 năm Chiến dịch Tây Nguyên (04-24/3/1975 - 3/2020) và Ngày thành lập Quân đoàn 3 (26/3), đọc lại để nhớ về các đồng đội một thời gian khó ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên:
Cho đến bây giờ (1997), đôi lúc cánh lính trẻ Binh đoàn Tây Nguyên vẫn nhắc đến chuyện thầy Phương, giáo viên Trường Quân sự binh đoàn, bị lạc trong rừng như chuyện cổ tích, mặc dù chuyện đó chỉ mới xảy ra cách đây ít năm. Đó là thời kỳ một số cán bộ trong binh đoàn di chuyển gia đình từ miền Bắc vào. Bên cạnh cái được là sự bù đắp về tình cảm sau những tháng năm xa nhà đằng đẵng, thì buổi đầu, trong cuộc sống gia đình có bao điều phải trăn trở lo toan. Vợ con các anh ở quê vào, tài sản, vốn liếng hầu như không có gì. Công ăn, việc làm cũng là vấn đề nan giải. Chuyện ăn, ở, học hành của con cái… tất tật nhìn vào đồng lương của người chồng vốn còn eo hẹp. Thầy Phương và một số anh em trong khu gia đình, trong ngày nghỉ vào rừng lấy song mây để bán, rồi bị lạc cũng bắt nguồn từ sự khó khăn ban đầu ấy.
Hôm đó, vào đến cửa rừng, cũng như những lần trước, mỗi người lại chia nhau đi một hướng. Thầy Phương đi vào sâu, len lỏi dưới thung lũng rậm rạp để lấy loại mây có chất lượng tốt. Mải miết đi tìm nên không để ý đến thời gian đã về chiều. Lúc quay ra trời lại đổ mưa nên bị lạc lối. Những ngày sau đó, trời âm u, xám xịt nên không xác định được phương hướng. Vì vậy, tìm lối ra cửa rừng mà càng đi lại càng vào sâu trong rừng. Đói, rét, muỗi rừng, thú dữ… cùng lúc ập đến. Đã có lúc thầy Phương tưởng như buông xuôi, tuyệt vọng. Nhưng khát vọng sống và bản lĩnh, ý chí của người lính đã giúp thầy vượt qua được hoàn cảnh éo le để tìm về với vợ, con và đồng đội.
Cũng trong những ngày đó, ở Trường Quân sự, trên gương mặt những người đồng đội hằn lên những nét ưu tư và nỗi xót xa. Ngày ngày các anh vẫn chia nhau len lỏi tìm kiếm thầy Phương trong cánh rừng rậm rạp và gai góc. Tình đồng đội và sự kiên nhẫn của các anh đã được đền đáp. Thầy Phương đã được trở về trong vòng tay đồng đội và người thân.
Còn anh Trần Văn Hà, cán bộ Phòng Tuyên huấn của binh đoàn nói vui: Hồi mới đưa vợ con vào, anh có “Bất động sản” lớn lắm. Đó là hàng trăm héc-ta rừng… đót. Hàng năm cứ đến mùa cây đót trỗ bông, anh lại xin nghỉ phép để lên rừng “thu hoạch” đem về bán lấy tiền đầu tư cho chăn nuôi. Anh thường động viên vợ con: Cố “Qua cơn bĩ cực sẽ tới ngày thái lai” và rồi vợ chồng anh cũng phải “cố” năm, sáu năm mới qua được cơn bĩ cực ấy.
Cũng như anh Phương, anh Hà, hàng ngàn sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên của binh đoàn thực hiện việc hợp lý hóa gia đình và để có cuộc sống ổn định như hôm nay cùng với những làng quân nhân trù phú trên vùng đất đỏ ba zan như Chư Á, Đồng Bằng, Đăk Tô… là cả những chuỗi dài những gian nan, vất vả, nhọc nhằn. Các anh chấp nhận điều đó để gắn bó hơn với binh đoàn, với mảnh đất mà bao thế hệ cán bộ, chiến sỹ binh đoàn đã từng chiến đấu, hy sinh trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Trong đó có cả những người thân ruột thịt. Nguyễn Thị Thoan, nhân viên thư viện của binh đoàn là một trong những người như thế.
Năm 1988, Nguyễn Thị Thoan cùng binh đoàn trở lại Tây Nguyên. Đứng trước phần mộ của người cha Liệt sỹ được một bà mẹ người Ê-đê trông nom, chăm sóc, hương khói trong suốt hơn 10 năm trời, cô đã nghẹn ngào, xúc động ôm lấy bà mà khóc. Giữa năm 1996, bà mẹ của Nguyễn Thị Thoan ở Đại Từ, Thái Nguyên đã vào với vợ chồng cô. Hồi mới vào, sức khỏe của bà rất yếu, lại thêm chứng đau dạ dày. Trong khi đó khí hậu Tây Nguyên vốn khắc nghiệt; vậy mà sau một năm ở Tây Nguyên, bệnh của bà lại dường như khỏi hẳn, trông bà khỏe lên rất nhiều. Bà cụ bảo, đó là do được gần con, cháu, gần “ông ấy”… và có lẽ do tôi hợp với khí hậu ở đây.
Hôm tôi xuống Sư đoàn Đăk Tô công tác, tôi đến thăm gia đình anh bạn cùng nhập ngũ là Nguyễn Duy Quyền, hiện là Phó Chính trị Trung đoàn 28 (năm 2014 - 2017 là Chính ủy Quân đoàn). Chị Lượng, vợ anh cho biết: Nếu tuần nào không phải trực thì tối thứ 7 anh ấy về, đến chiều chủ nhật lại vào đơn vị. Có tuần chỉ loáng qua vài tiếng đồng hồ. Em cũng chỉ cần như thế là yên tâm rồi. Quan trọng là có bóng, có tiếng của bố, con cái nó vào khuôn phép và học hành đến nơi, đến chốn hơn. Còn công việc nhà em cũng quen xoay xở một mình như hồi anh ấy ở xa. Được cái, chị Lượng cũng thuộc diện “mát tay”, mỗi năm xuất chuồng vài ba lứa lợn thịt, mỗi lứa trên chục con với gần một tấn. Chẳng thế mà mới chuyển từ Quỳnh Lưu, Nghệ An vào đây năm 1994, đến nay (1997) cuộc sống gia đình đã khá ổn định. Nhà có 6 nhân khẩu nhưng vẫn có bát ăn, bát để nên đã mua sắm được xe cúp đời mới. Anh bạn tôi nói vui: Hay nhất là hàng năm không phải vượt “Bốn đỉnh cao”(cánh sỹ quan binh đoàn gọi mỗi đỉnh đèo Mang Yang, An Khê, Hải Vân và đèo Ngang là một đỉnh cao)để về thăm “bà xã”, rồi mỗi lần ra đi lại có bao điều níu kéo. Bây giờ vợ con vào đây, cuộc sống ổn định, khi có vấn đề gì đột xuất, mình ở gần, giải quyết được ngay. Chuyện gia đình thế là ổn. Chính vì vậy mình có điều kiện chuyên tâm hơn đến đơn vị, đến công việc.
Thực tế của anh bạn tôi cũng là của phần đông cán bộ và đội ngũ quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên của binh đoàn. Bởi họ đã thực hiện một cuộc di dịch cư trên một ngàn cây số từ vùng đồng bằng miền Bắc vào vùng đất Tây Nguyên. Đây cũng là một cuộc cách mạng đối với họ. Buổi ban đầu còn khó khăn nhưng anh em đã vượt lên. Mỗi gia đình tự xác định cho mình một công việc phù hợp để ổn định cuộc sống. Nhưng có lẽ, trồng vườn và chăn nuôi là hai “nghề” chính. Có gia đình nuôi 2 đến 3 con lợn nái. Nhìn chung là có thu nhập khá, nhưng cũng có lúc, có gia đình thất bát, thậm chí mất cả vốn nếu chẳng may trúng cơn gió độc, chết cả lợn mẹ lẫn lợn con. Ở Tây Nguyên, những cơn gió như vậy không phải là hiếm.
Cũng có nhà chuyên trồng hoa, mỗi năm thu nhập vài chục triệu, nhà ít cũng dăm bảy triệu (thời giá 1997). Còn nhớ, Tết năm 1997, trong khoảng khắc giao thời giữa năm cũ và năm mới, Cục Chính trị binh đoàn tổ chức đón giao thừa ở hội trường. Rất đông các gia đình của anh em trong cơ quan đến dự. Trong mục “tâm sự chuyện làm ăn trong năm”, anh Giang Lê Kiều-Trưởng phòng Bảo vệ-một trong những người làm kinh tế giỏi ở làng quân nhân của binh đoàn đã trao đổi rất chân thành những kinh nghiệm về trồng hoa, làm màu, về những nỗi vất vả, buồn, vui của “nghề”… được đánh giá là “tâm sự có ý nghĩa nhất trong năm”…
Đất Tây Nguyên giàu tiềm năng, nhưng đất Tây Nguyên cũng vô cùng khắc nghiệt. Những người lính Tây Nguyên đã tựa vào nhau để vươn lên và bám trụ ở mảnh đất này. Hậu phương gia đình là một trong những điểm tựa vững chắc của họ.

Tây Nguyên tháng 8/1997 – Hà Nội Tháng 3/2020

    

THÁNG 3 TÂY NGUYÊN


THÁNG 3 TÂY NGUYÊN
Nhà văn Dương Thanh Biểu - nguyên Phó Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao

Tháng ba ta lại gặp nhau
Nụ cười , ánh mắt , bao câu ân tình
Tây Nguyên một thưở chúng mình
Đạn bom tôi luyện chiến binh núi rừng
Tháng 3 nỗi nhớ rưng rưng
Những người ngã xuống , xin đừng chớ quên
Một thời mây trắng Tây Nguyên
Nén hương đồng đội uốn mền cong cong
Ai về hỏi núi , hỏi sông
Tây Nguyên còn thắm những dòng máu thiêng
Cái thời trận mạc hiện lên
Ai bia mộ, ai tuổi tên khuất chìm
Ngang trời lảnh lót tiếng chim
Tôi nghe trong suốt lặng im tiếng người
Hay là đồng đội của tôi
Tháng 3 trở lại đất trời mùa xuân 
Một thời tuổi trẻ hành quân
Ham mê đánh giặc , gian truân sá gì 
Tháng năm đằng đẵng chia ly
Tây Nguyên đoàn tụ, thầm thì tháng 3 !


    

TRẬN ĐÁNH ĐỨC LẬP NGÀY 9 VÀ 10/3/1975


TRẬN ĐÁNH ĐỨC LẬP NGÀY 9 VÀ 10/3/1975 

   Nguyễn Đình Thi



Đức Lập là một quận lỵ nằm ở phía Tây Nam Buôn Ma Thuột , cách Buôn Ma Thuột khoảng 60 km . Tuy là Quận lỵ nhưng địch bố trí ở đây như một cụm cứ điểm quân sự . Ngoài căn cứ Quận lỵ tại đây chúng còn có tới 4 căn cứ quân sự khác , gồm căn cứ hành quân dã ngoại của Sư đoàn 23 , căn cứ Núi Lửa , căn cứ Đắc Song và căn cứ Đắc Sắc . Các căn cứ này cách nhau không xa , sẵn sàng chi viện cho nhau một khi bị tấn công . Về quân số ở đây địch có Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 53 đóng ở Đắc Song , tiểu đoàn bảo an 259 đóng ở núi Lửa cùng hàng chục đại đội và Trung đội bảo an , dân vệ . Tổng quân số của chúng tại khu vực Đức Lập lên đến gần 3000 tên . Về hỏa lực chúng có 3 đại đội pháo binh 12 khẩu , 1 chi đoàn xe tăng , xe bọc thép 15 chiếc . Tất cả các xe tăng , xe bọc thép đều được chúng đưa ngầm xuống đất . Trước đây ta đã nhiều lần tấn công vào căn cứ quận Đức Lập nhưng chưa lần nào dứt điểm được do vậy địch càng phòng thủ vững chắc thêm . Xung quanh căn cứ Đức Lập có tới 8 lớp hàng rào thép gái , cùng các bãi mìn và một hệ thống hào bao quanh rộng tới 3 m , sâu 2 . 
Ngay từ khi chuẩn bị Chiến dịch Tây Nguyên , Bộ Tổng Tư lệnh đã giao cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tiêu diệt căn cứ Đức Lập nhằm 3 mục đích : 
1/ Mở thông hành lang chiến lược từ hậu phương Miền Bắc vào Đông Nam Bộ
2/ Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và phương tiện vũ khí của chúng , không cho chúng rút về hỗ trợ Buôn Ma Thuột khi bị ta tấn công 
3/ Thu hút sự chú ý của địch về hướng này , không cho chúng biết ý đồ đánh Buôn Ma Thuột của ta .
Vì vậy trận đánh căn cứ Đức Lập rất quan trọng , nó vừa mang ý nghĩa chiến dịch đồng thời nó cũng mang ý nghĩa chiến lược 
Đây là trận đánh đầu tiên của chiến dịch ở Nam Tây Nguyên mà lại đánh vào một cụm cứ điểm địch phòng thủ vững chắc . Để đảm bảo chắc thắng trong trận đánh này để còn cơ động Sư 10 về Buôn Ma Thuột làm nhiệm vụ tiếp theo , Bộ chỉ huy Chiến dịch cử Thiếu tướng Vũ Lăng - Phó Tư lệnh Chiến dịch trực tiếp đi cùng để chỉ đạo Sư 10 , Bộ Tư lệnh chiến dịch cũng tăng cường cho Sư 10 Trung đoàn pháo binh 40 gồm 15 khẩu từ pháo 105 đến pháo D74 , Trung đoàn pháo cao xạ 37 ly ( E234 ) , một tiểu đoàn công binh ( D17 )
Sáng ngày 9/3 , một buổi sáng rất đẹp , mặt trời lên sớm và mây mù tan nhanh . Từ đài quan sát ta đã nhìn rõ các mục tiêu trong Quận lỵ . 5 giờ 55 phút , từ Sở chỉ huy Sư đoàn , Sư trưởng Hồ Đệ lệnh cho pháo binh nổ súng . 15 khẩu pháo của Trung đoàn 40 và Trung đoàn 4 cộng với pháo ĐKZ , súng cối các loại của các đơn vị bắn liên tục 90 phút vào các căn cứ của địch ở Quận lỵ Đức Lập , căn cứ Núi Lửa , căn cứ hành quân của Sư đoàn 23 , căn cứ Đắc Song . Trận mưa pháo này của ta gây cho địch nhiều thiệt hại và gây tâm lý hoang mang , hoảng sợ . 
Tại căn cứ Núi Lửa , sau đợt bắn pháo dữ dội của ta , đài quan sát báo về địch ở đây đang nhốn nháo bỏ chạy , Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28 - Nguyễn Đức Cẩm lệnh cho Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 từ 2 hướng Tây và Đông Bắc cho bộ đội vượt lên mở cửa . Cửa mở vừa thông bộ đội ta đã nhanh chóng đánh thẳng vào khu trận địa pháo , khu thông tin và khu chỉ huy . Địch chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy . Đến 9 giờ ta đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Núi Lửa . Diệt 106 tên , trong đó có tên Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 259 bảo an , bắt 14 tên . Thu 4 pháo 105 ly , 2 ĐKZ57 và nhiều phương tiện chiến tranh khác . 
Tại căn cứ hành quân dã ngoại của Sư đoàn 23 . Ngay loạt đạn đầu tiên pháo binh ta đã bắn trúng khu chỉ huy , khu thông tin , kho xăng và trận địa pháo của địch .
Ở hướng Tây của Tiểu đoàn 7 lợi dụng lúc pháo bắn , Tiểu đoàn trưởng Toái cho bộ đội mang bộc phá xông lên mở cửa . Từ các lô cốt , công sự địch chống trả quyết liệt , chúng điều xe tăng ra bịt cửa mở . Phát hiện một chiếc xe tăng M41 của địch gần đó đang nổ máy , tiểu đội trưởng Đào Văn Chắc đã dùng súng AK diệt 3 tên địch ngồi trên xe , sau đó xông lên bắt sống chiếc xe tăng này . Từ phía trong chiếc xe tăng thứ 2 lao ra liền bị Nguyễn Văn Hà dùng B41 bắn cháy . Chiếc thứ 3 tiếp tục lao ra lại bị Nguyễn Đình Chiến bắn cháy . Thấy 3 xe tăng bị tiêu diệt , địch co về khu chỉ huy chống trả . Đại đội 1 và đại đội 3 nhanh chóng tổ chức đánh vào khu Trung tâm 
Ở hướng Bắc của Tiểu đoàn 8 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quốc Huy chỉ huy lợi dụng lúc pháo bắn cũng cho bộ đội lên mở cửa . Lúc đầu phát triển khá thuận lợi nhưng khi vào gần khu trung tâm thì bị xe tăng địch đặt ngầm dưới đất bắn trả quyết liệt , nhiều chiến sỹ bị thương và hy sinh . Bất chấp nguy hiểm , tiểu đội phó Đoàn Đức Kiệm vượt lên , lợi dụng địa hình , dùng B41 nhằm thẳng chiếc xe tăng đang bắn ra cửa mở bóp cò , chiếc xe tăng địch trúng đạn bốc cháy dữ dội . Lợi dụng hỏa lực địch bị tiêu diệt các mũi tấn công của tiểu đoàn 8 ào ạt xông lên , địch co về khu chỉ huy cố thủ . Tiểu đội địch vận của Trung đoàn dùng loa gọi hàng nhưng chúng vẫn ngoan cố , ta phải dùng súng phun lửa tiêu diệt . Đến 9 giờ 30 phút ngày 9/3 , tiểu đoàn 7 và 8 đã chiếm được căn cứ hành quân của Sư đoàn 23 
Trong lúc tiểu đoàn 7 và 8 tấn công căn cứ hành quân của Sư đoàn 23 thì tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 28 và tiểu đoàn 9 - Trung đoàn 66 cũng tổ chức tấn công căn cứ quận lỵ Đức Lập . Đây là căn cứ chỉ huy quan trọng nhất của địch ở Đức Lập . Ngay đợt bắn pháo đầu tiên tên Quận trưởng Nguyễn Cao Vực đã bị thương nặng . Khi thấy pháo binh ta bắn phá trúng một kho xăng và một kho đạn , gây nên những đám cháy và tiếng nổ lớn . Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 liền cho bộ đội xung phong . Mặc dù đã chiếm được 4 lô cốt ở phía ngoài nhưng càng phát triển vào trong thì càng vấp phải sự chống trả quyết liệt của địch . Xe tăng địch đặt ngầm dưới đất cùng pháo 105 của chúng tập trung bắn thẳng vào khu vực cửa mở , tiếủ đoàn bị tổn thất nặng phải dừng lại
Ở hướng tiểu đoàn 9 , khi thấy tiểu đoàn 2 xung phong , tiểu đoàn trưởng Bạch Công Nghĩa cũng cho bộ đội xung phong nhưng do hướng này không có pháo binh chi viện nên khi bộ đội tiến lên bị địch chống trả quyết liệt , máy bay địch ném bom trùm lên cả cửa mở , làm cho 34 cán bộ , chiến sỹ đại đội 9 hy sinh . Đến 9 giờ , tiểu đoàn đưa tiếp đại đội 10 lên mở cửa nhưng đại đội 10 cũng chỉ mở thêm được 2 hàng rào thì gặp phải bãi mìn và bị hỏa lực địch ngăn cản quyết liệt . Buộc phải dừng lại . 
Trước tình hình rất khẩn trương phải nhanh chóng dứt điểm Đức Lập để thực hiện ý đồ của chiến dịch đưa Sư 10 về phía Đông Buôn Ma Thuột . Ngay trong đêm 9/3 , Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 quyết định dùng tiểu đoàn 17 công binh làm đường lên đồi Nhà thờ để đưa 2 khẩu pháo 85 ly nòng dài của Trung đoàn 4 lên bắn thẳng vào căn cứ quận lỵ Đức Lập , đồng thời tăng cường thêm tiểu đoàn 8 và đại đội 3 của Tiểu đoàn 7 mở thêm hướng tấn công mới . 6 giờ 10 phút ngày 10/3 , sau khi quan sát rõ mục tiêu , các trận địa pháo của ta đã đồng loạt nã đạn vào khu chỉ huy quận lỵ Đức Lập . Đặc biệt 2 khẩu pháo 85 ly nòng dài đặt trên đồi nhà thờ bắn thẳng vào trung tâm chỉ huy , tiêu diệt nhiều mục tiêu , gây khiếp đảm cho địch . Địch gọi máy bay đến ném bom vào khu trận địa pháo và cửa mở nhưng đã bị pháo cao xạ 37 ly đi cùng bộ binh bắn trả quyết liệt buộc chúng không dám xà xuống thấp ném bom . 7 giờ 30 phút , tử 3 hướng , 3 tiểu đoàn 2 , 8 ,9 đồng loạt xung phong tấn công vào khu Trung tâm quận lỵ Đức Lập . Sau hơn một giờ chiến đấu ta đã làm chủ hoàn toàn quận lỵ Đức Lập . Bắt 52 tù binh , trong đó có tên quận trưởng Nguyễn Cao Vực . Thừa thắng đại đội 5 của tiểu đoàn 8 do đại đội trưởng Trần Đối và chính trị viên Lê Hải Triều chỉ huy đánh sang Đức Minh và Đắc Sắc . Sau khi bị mất quận lỵ Đức Lập và căn cứ hành quân Sư đoàn 23 , Hai đại đội địch đóng ở đây chống cự yếu ớt và bỏ chạy . Đại đội 5 đã tiêu diệt và bắt sống hầu hết 2 đại đội này .
Trong lúc các đơn vị của ta tấn công căn cứ Đức Lập , Núi Lửa , Căn cứ hành quân 23 thì tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 198 đặc công bao vây căn cứ Đắc Song . Sau khi đánh chiếm xong căn cứ Núi Lửa , tiểu đoàn 3- Trung đoàn 28 được tăng cường cùng tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 198 đánh Đắc Song, một vị trí quan trọng án ngữ ngã 3 đường 14 và đường 88b từ Quảng Đức đi Buôn Ma Thuột . Tại Đắc Song lực lượng địch có Sở chỉ huy nhẹ của Trung đoàn 53 , tiểu đoàn 2- Trung đoàn 53 . Sáng ngày 10/3 , khi thấy Buôn Ma Thuột bị tấn công Vũ Thế Quang - Tư lệnh mặt trận Buôn Ma Thuột đã lệnh cho tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 53 cơ động gấp về ứng cứu Buôn Ma Thuột , trên đường về một số đã rơi vào trận địa đón lõng của ta , số còn lại bị ta tấn công tiêu diệt trong đó có tên Trung đoàn phó Trung đoàn 53 tử trận tại chỗ . Trận Đức Lập đến đây đã kết thúc 



Núi Lửa , nơi đã diễn ra trận đánh khốc liệt ngày 9/3/1975

    

NHỮNG NGÀY KHỞI THẢO KẾ HOẠCH CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN NĂM 1975

KỶ NIỆM 45 NĂM CHIẾN THẮNG TÂY NGUYÊN

NHỮNG NGÀY KHỞI THẢO KẾ HOẠCH CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN NĂM 1975
Thiếu tướng Giáo sư, tiến sỹ - Huỳnh Nghĩ,
Nguyên Chủ nhiệm pháo phòng không Mặt trận Tây Nguyên


Sắp tới chúng ta sẽ kỷ niệm 45 năm chiến thắng Tây Nguyên lịch sử. Trong tôi rộn ràng ôn nhớ cuộc đời 45 năm quân ngũ ( 1945 - 1990 ) chiến trận, gian khó, thanh bạch, vẫn còn tỉnh táo được hưởng tự hào vinh quang của ngày hôm nay lại càng tưởng nhớ những người đồng đội đã vĩnh biệt cuộc đời về nơi thiên cổ. 45 năm quân ngũ đã đọng lại trong tôi biết bao nhiêu "Kỷ niệm nhớ đời".
Tôi muốn ghi lại những ấn tượng sâu sắc còn nhớ những ngày khởi thảo kế hoạch chiến dịch Tây Nguyên trong một tổ tham mưu chiến dịch phòng không.
Trung tuần tháng 12/1974 ,Tây Nguyên đã chuyển vào mùa khô. Bộ phận tiền phương cơ quan Bộ Tư lệnh được chuyển bằng ôtô là một dấu hiệu mới - Được cơ giới hóa vừa đi, vừa đẩy, chúng tôi cũng vượt được chặng đường hơn 300km tới Đắc Lắc. Trước đây mỗi lần đi chiến dịch cơ quan Bộ Tư lệnh phải gùi thồ lôi thôi , lếch thếch khổ biết mấy.
Sở chỉ huy chiến dịch tạm trú chân ở vạt rừng bên suối nhánh rừng Đắc Dăm tây Bản Đôn . Trợ lý các ngành vừa dựng lán vừa làm kế hoạch tác chiến Xuân 1975. Hơn một tháng vừa trinh sát chiến trường vừa lập kế hoạch tiêu diệt Đức Lập. Thuần Mẫn , Thị xã Gia Nghĩa, nếu có thời cơ sẽ đánh "Mục tiêu A" (Buôn Mê Thuột). Toàn bộ các cơ quan dốc sức dành cho Chiến dịch 275 (Tháng 2/1975). Bộ phận nào cũng hối hả làm ngày đêm liên tục, nhịp độ sát Tết Nguyên Đán Ất Mão sôi động , căng thẳng.
Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên Vũ Lăng, người vừa thay tướng Hoàng Minh Thảo, trực tiếp chỉ đạo chuẩn bị chiến trường dẫn 1 đoàn “Tiền nhập” Nậm Lia , Đức Lập trở về cùng lúc có lệnh bổ sung “Trinh sát mục tiêu A”.( mục tiêu Buôn Ma Thuột )
Kế hoạch thời gian đã bố trí xít xao chuẩn bị cho ngày N khoảng 20 - 25 tháng 2/1975 nổ súng sau Tết 10 - 15 ngày. Đã tính từng ngày từng giờ, tổ chức mạng nắm được điều hành kế hoạch nghi binh - Đưa lực lượng vào tập kết đúng thời điểm có "lệnh" mới bổ sung. Quàng chân lên cổ - liệu có kịp không? Cơ quan tham mưu chiến dịch mà bản đồ Buôn Mê Thuột rất ít, mỗi binh chủng chỉ có một bộ bản đồ, toàn châu đầu vào nhau tô trên tờ giấy bóng mờ. Đơn vị lại càng ít hơn.
Một loạt vấn đề mới được đề ra - các cơ quan cắm đầu, cắm cổ làm lại từ đầu. Trước mắt phải làm một số việc tức thì, theo kế hoạch mới - hạn chế được những vấn đề lớn không ngược với quyết tâm của trên- guồng máy của các cơ quan Bộ tư lệnh được tăng cường nhưng khối công việc lớn ập tới. Mục tiêu A là trận tiến công then chốt có tính quyết định. Cơ quan tham mưu tập trung lập phương án mới - điều chỉnh lực lượng. Nhiều vấn đề hiểu chưa nổi...
Những buổi thảo luận ở cấp Tư lệnh rất căng thẳng. Nhiều ý kiến đối chọi nhau. Chủ nhiệm các binh chủng được tham dự thảo luận - phương án cách đánh không được rời Sở chỉ huy Trung tâm nhưng cũng chọn thời cơ “Trốn” nhanh về cơ quan rỉ tai “trợ lý” “chớp cháo” làm những việc cần thiết nhất phục vụ phương án mới.
Những ngày giáp Tết, tình hình địch đang có nhiều chuyển động. Có tin lực lượng không quân ngụy tập trung tới 3 sư đoàn nhằm đánh chặn đối phương từ trên các tuyến đường chiến lược, chiến dịch. Những tin từ các hướng chiến dịch báo cáo tình hình thực tế chiến trường được đặt ra tổng hợp thành các giả định. Những câu hỏi thực sự là căng thẳng hồi hộp. Đoàn cán bộ miền Nam (B2) tới phổ biến kinh nghiệm Phước Long rất bổ ích. Bổ xung kế hoạch nghi binh. Riêng về tham mưu phòng không được cởi lòng cởi dạ với lệnh cho phép triển khai một số đơn vị 37 ly , 23 ly ,14,5 ly , 12.7 ly theo trục đường 14B (trục đường công binh đang khai thông tới miền Đông Nam Bộ). Cao xạ được khai hỏa là niềm vinh dự cho các đơn vị lập công đón Xuân. Điều sung sướng nhất là được chủ động bắn diệt bọn giặc lái đang làm chủ trên không. Trước 6 tuần trực thăng hạ cánh đưa bọn biệt kích xuống phá ống dầu. Để giữ bí mật - cao xạ không được nổ súng - 6 chiếc bay đến lại bay đi trong tầm súng lính cao xạ còn ấm ức bắn “câm”. Máy bay trinh sát lượn vòng ngang vòng dọc trên đầu mà các trận địa cao xạ phải quay gục nòng súng, nơm nớp lo bị "nó" xịt đạn khói chỉ “mồi”cho bọn máy bay chiến đấu thì tình huống sẽ diễn ra như thế nào đây? Tư lệnh Vũ Lăng và Tổng tham mưu phó Lê Ngọc Hiền lệnh cho các lực lượng cao xạ trên tuyến đường chiến lược 559 phải tích cực đánh diệt không quân ngụy trên các địa bàn Kon Tum, Pleiku, Gia Nghĩa, Bù Gia Mập, thu hút nghi binh địch đồng thời bảo vệ chân hàng trên địa bàn Đắc Lắc phải loại bỏ máy bay trinh sát. Như vậy là tham mưu phòng không phải có mưu chọn tình huống có lệnh xạ kích đánh đêm ngày cho từng đơn vị cụ thể, cao xạ phải đánh tiêu diệt máy bay bảo vệ giao thông, bảo vệ chân hàng mà không được để kẻ địch phát hiện ra ý đồ chiến dịch.
Ngày lại tiếp đêm, nhiều đêm thức trắng, Tư lệnh uống nhiều hơn ăn ròng rã đã nhiều ngày - cán bộ đầu ngành binh chủng cũng không được rời Sở chỉ huy . Tư lệnh trắng đêm, Thủ trưởng tham mưu không bố trí được cho cán bộ thuộc quyền có giờ ngả lưng. Nhìn Tư lệnh mà thương. Hàm râu quai nón chưa cạo được - cặp kính trắng nhấc lên đặt xuống che đôi má tọp hẳn đi. Khi nghiên cứu một vấn đề - Tư lệnh đều nêu những câu hỏi chọn lọc. Yêu cầu trả lời có chính kiến xác đáng “Làm thế nào”, “được không”, “bao giờ xong”. Sau khi nêu kiến nghị thường gặp Tư lệnh lật ngược kiểm tra cấp dưới suy nghĩ có chín chắn không, khi Tư lệnh chấp thuận, cấp dưới phải đề ra biện pháp thực hiện - có báo cáo kết quả vào giờ giao ban.
Nhìn bề ngoài vốn dĩ Tướng Lăng đã nghiêm nghị, tác phong làm việc nhanh gọn chính xác - giao việc rất ngắn gọn. Cặp kính nhìn thẳng vào người báo cáo. Nếu yếu bóng vía thì nghĩ một đằng trả lời một nẻo. Tướng quân “truy đến cùng”. Sau mỗi việc hoàn thành có kết quả thái độ cởi mở dễ gần - có thưởng – “1 điếu thuốc không cán”.
Thấy Tư lệnh vặn hỏi nhiều lần đúng là Tư lệnh cũng gay cấn - có lần Tướng quân gắt - tôi đứng im - không trả lời kịp - Tướng quân nổi xung nhưng khi tạm nghĩ, Tướng quân gọi lại “cười xòa” “Tao đã nóng mà cậu cũng bướng” - bật lửa mời châm thuốc. Thầy trò lại thoải mái,. Những ý vặn hỏi của Tư lệnh làm cho chúng tôi cũng phát hiện được suy nghĩ của cấp trên, tiến hành công việc chín chắn hơn, dự kiến được việc trước sau, hợp đồng chặt chẽ hơn.
Hiểu được cá tính của Tư lệnh, cán bộ cơ quan tham mưu nhiều khi thấy thích thú: Những lần bị phạt "pê-nan-ty" cũng làm cho cánh trợ lý chúng tôi sáng mắt sáng lòng. Mệnh lệnh dứt khoát, ý kiến rõ ràng, học tập được phương pháp suy nghĩ. Khi đặt vấn đề hỏi phải có suy nghĩ ngược xuôi. Phải lập luận chính kiến rõ ràng. Chính kiến kèm theo biện pháp thực hiện đến nơi đến chôn, chúa ghét hiện tượng bảo đâu làm đấy - chỉ dựa vào ý kiến trên, làm việc lấy lòng thượng cấp mà hiệu xuất kém, mọi công việc phải nghiêm túc.
Tôi được quen biết Tư lệnh thời Người làm Tham mưu trưởng Đại đoàn 316 sau chiến dịch Điện Biên Phủ. Lúc đó tôi là cán bộ tiểu đoàn bậc phó Tiểu đoàn pháo cao xạ 14 , Đại Đoàn 316, trên điều về làm trợ lý cao xạ đúng vào lúc vợ chồng anh Vũ Lăng + chị Hoa sinh cháu đầu lòng. Chị Hoa là cán bộ quân y của Đại Đoàn nên được đến chung sống với chồng tại bản doanh. Trong túp lều lợp rạ. Chúng tôi rủ nhau ra bìa rừng hái rau “thài lài: mà "đức ông" chưa biết hoa lá giúp chị tăng sữa cho cháu - gọi là chi viện cho tham mưu trưởng săn sóc vợ đẻ. Dưới mái tranh ôm ấp hai trái tim vàng còn ghi nhận nhiều giai thoại tình cảm của cấp trên với mấy trợ lý tham mưu có gắn chút thành phần "tạch tạch sè" (tiểu tư sản)...
( còn nữa, mời các bạn đọc số tiếp theo )
    

ĐÁNH NGHI BINH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN

KỶ NIỆM 45 NĂM CHIẾN THẮNG TÂY NGUYÊN
Vào dịp này cách đây 45 năm (cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1975), các trận đánh nghi binh tại Play Cu và Kon Tum của Sư đoàn 968 đã diễn ra, mở màn cho những trận đánh kế tiếp của Chiến dịch Tây Nguyên. Nhân kỷ niệm 45 năm chiến thắng Tây Nguyên, trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc bài: ĐÁNH NGHI BINH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN

ĐÁNH NGHI BINH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN
Nguyễn Đình Thi


Khi nói về chiến công trong trận Buôn Ma Thuột ngày 10 và 11/3/1975, mọi người thường nhắc tới Sư đoàn 316 , Sư đoàn 10 và Trung đoàn 95B. Đây là những đơn vị trực tiếp đánh vào Buôn Ma Thuột. Nhưng có một đơn vị góp phần không nhỏ để tạo nên chiến thắng Buôn Ma Thuột mà ít người nhắc tới đó là Sư đoàn 968, một đơn vị được giao nhiệm vụ đánh nghi binh trong Chiến dịch Tây Nguyên.
Trong kế hoạch tác chiến của Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh Chiến dịch có hẳn một kế hoạch về nghi binh (trong đó có đánh nghi binh). Đây là một kế hoạch được chuẩn bị rất công phu, bài bản từ tháng 10/1974. Mục đích của kế hoạch này là thu hút phần lớn quân chủ lực của địch về Bắc Tây Nguyên, tạo sơ hở ở Nam Tây Nguyên. Sư đoàn 968 được giao thực hiện nhiệm vụ này. Tuy không phải là nhiệm vụ chủ chốt của Chiến dịch nhưng tầm quan trọng của nó lại rất lớn. Nếu không che giấu được ý đồ tấn công của ta vào Buôn Ma Thuột , nếu không thu hút được địch về PLay Cu, Kon Tum thì khi ta tấn công Buôn Ma Thuột sẽ gặp nhiều khó khăn, mà không giải quyết được Buôn Ma Thuột thì sẽ ảnh hưởng lớn tới nhiệm vụ của chiến dịch. Nhiệm vụ này rất nặng nề vì như thế Sư đoàn 968 sẽ là đơn vị nổ súng sớm nhất. Sư đoàn 968 sẽ phải đột phá vào nơi quân địch phòng thủ kiên cố, đột phá vào nơi quân địch đông, hỏa lực mạnh và đột phá vào thời điểm địch có nhiều điều kiện thuận lợi mà đột phá vào nơi quân địch mạnh thường đi đôi với thương vong cũng nhiều hơn.
Sau khi phát hiện địch nắm được một số thông tin do một tên hàng binh của ta khai. Chúng nghi ngờ ta sẽ tấn công Buôn Ma Thuột. Để tiếp tục đánh lạc hướng quân địch, ngày 1/3/1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã lệnh cho Sư đoàn 968 nổ súng tấn công vào các vị trí quân địch ở xung quanh thị xã PLay Cu như Đồn Tầm, chốt Mỹ, điểm cao 605, Chư Côi, Chư Ka Ra và dùng pháo lớn bắn vào sân bay Play Cu và khu vực Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 địch ở thị xã PLay Cu. Các trận đánh của Sư Đoàn 968 diễn ra rất ác liệt, Sư đoàn 968 tuy bị một số tổn thất nhưng Sư đoàn vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chiếm được nhiều vị trí quan trọng của địch ở quanh thị xã PLay Cu như đồn Tầm, chốt Mỹ, điểm cao 605, Chư Côi, Chư Ka Ra. Địch hoàn toàn bị mắc lừa bởi các trận đánh này của ta, ĐÁNH THẬT MÀ LÀ ĐÁNH GIẢ, y như đánh dọn đường để chuẩn bị cho trận đánh lớn tiếp theo vào PLay Cu và Kon Tum. Đang ở Nha Trang, nhận được tin báo Cộng quân đã chiếm được một số vị trí xung quanh PLay Cu và đang pháo kích vào Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 ở PLay Cu, Phạm Văn Phú - thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn 2 đã vội vã ra lệnh rút Trung đoàn 45 đang lùng sục Buôn Ma Thuột về Play Cu và ra lệnh cấm trại cả 2 thị xã PLay Cu và Kon Tum, đồng thời tăng cường phòng thủ ở 2 thị xã này. Liên đoàn biệt động quân số 7 - lực lượng dự trữ chiến lược của quân lực Việt nam Cộng hoà được trực thăng vận chuyển cấp tốc lên tăng cường cho Quân đoàn 2 cũng được Phạm Văn Phú tăng cường cho PLay Cu và Kon Tum chứ không tăng cường cho Buôn Ma Thuột .
Như thế, ý đồ của ta làm cho địch không tăng cường quân về Buôn Ma Thuột phòng thủ đã đạt được mục đích. Địch đã mắc bẫy vào kế của ta. Đây là thắng lợi rất quan trọng của kế hoạch đánh nghi binh do Sư đoàn 968 thực hiện. Vì nếu Trung đoàn 45 của địch rút về phòng thủ Buôn Ma Thuột, nếu Liên đoàn biệt động quân số 7 cũng được đổ xuống tăng cường cho Buôn Ma Thuột thì trận tấn công của ta vào Buôn Ma Thuột sẽ khó khăn hơn rất nhiều
Tuy không trực tiếp đánh Buôn Ma Thuột nhưng lịch sử sẽ mãi không quên chiến công của Sư đoàn 968 trong chiến dịch Tây Nguyên.
    

NGHĨ VỀ MỘT TRẬN ĐÁNH

NGHĨ VỀ MỘT TRẬN ĐÁNH
Đại tá Nguyễn Trọng Kính (Nguyên chinh trị viên K20 đặc công từ 1968)

Nhớ lại trận đánh quân Mỹ cách đây đã 51 năm, lòng tôi bồi hồi xúc động bởi sau trận giáp chiến với giặc Mỹ, đơn vị đã thưa vắng nhiều anh em. Đồng thời tôi cũng rất tự hào về tinh thần gang thép của cán bộ và chiến sỹ Tiểu đoàn 20 (mật danh K20).
Từ mặt trận đường 9 (Bắc tỉnh Quảng Trị), trong đội hình sư đoàn 325C, ngày 23/3/1968 hành quân vào chiến trường Tây Nguyên, ngày 24/4 đến Kon Tum. Đi bộ đường dài, lội suối, leo dốc, băng rừng bao khó khăn cứ lộ ra như thách thức sức bền bỉ của con người...nhưng K20 bảo đảm 100% quân số về đích. Luôn động viên nhau phải đi bằng “đôi chân và cái đầu”. Anh em còn nói vui: “Trung ương nên tặng mỗi người huân chương hành quân”.
Ngày 26/4 cán bộ tiểu đoàn đi nhận lệnh - Sư đoàn trưởng Chu Phương Đới trải tấm bản đồ, chỉ cho chúng tôi khu vực địch chiếm đóng đã được khoanh bàng mực đen, đó là cứ điểm Ngọc Cung Giao ở Tây Bắc tỉnh Kontum, đồng chí nói “K20 thay mặt sư đoàn nổ súng trước ở Tây Nguyên. Ở đây có 2 đại đội quân Mỹ, cách sân bay Đắc Tô khoảng 2 km, cách Plây cần khoảng l km. Cán bộ nhanh chóng điều tra, chuẩn bị xong là đánh, chưa xong cũng đánh vì phối hợp với ngày N toàn miền”.
Chúng tôi hỏi thêm và đề nghị:
- Những đơn vị cùng chiến đấu để căng kéo địch?
- Có pháo phản pháo địch?
- Có cao xạ đánh trả máy bay địch ... không?
Đồng chí bảo: “K20 độc lập tác chiến”.
Trên đường trở về đơn vị, chúng tôi tạm dừng nghỉ chân ở suối cạn, vài hớp nước suối giải khát, cùng bàn, trao đổi nhau: “Trận này chỉ có 3 đêm 4 ngày chuẩn bị với bao nhiêu việc cùng lúc phải làm như: Vận chuyển gạo, bổ sung súng đạn, quân số vận tải v.v...Nhất là “chỉ lệnh chưa xong cũng đánh”, đồng nghĩa quyết tử, bởi đánh mật tập chuẩn bị không tốt rất dễ thương vong, quân Mỹ đâu chỉ có nằm yên chịu thịt, máu xương anh em lấy gì bù đắp. Nhưng là mệnh lệnh tiến công phải nghiêm chỉnh chấp hành dù có phải trả giá hy sinh. Đặt niềm tin ở cán bộ chiến sĩ đã được huấn luyện bài bản, đã chạm trán với lính thuỷ đánh bộ Mỹ ở đồn cồn Tiên, Đông Tri, Tà Cơn, Làng Vây tại mặt trận đường 9.
Trong tôi thoáng qua giai điệu bài hát mà nhạc sỹ Huy Thục đã khắc họa trong tiếng đàn Ta Lư...”Đi chiến trường, gùi trên vai nặng trĩu, đàn Ta Lư em cất tiếng ca vui cùng Bản làng, mừng thắng trận quê em”... “Anh thắng trận miền Tây Khe Sanh, Đồn Tà Cơn hôm nào bốc cháy, Đồi Động Tri xác Mỹ chất đầy”...
Cán bộ từ mũi trưởng trờ lên đi trinh sát đồn địch, ban ngày quan sát, tối âm thầm vào tận nơi. Chúng dàn quân trải rộng trên 3 mỏm đồi, chiếm đóng khá lâu nên hệ thống phòng thủ hoàn chỉnh.
Phương án tác chiến được bàn thảo kỹ, có cán bộ tham mưu, chính trị sư đoàn tham gia và nhất trí:
- Sử dụng lực lượng toàn tiểu đoàn.
- Có 3 đại đội C56, C58, C60, mỗi đại đội từ 20 - 25 tay súng, đánh địch ở 3 đồi. C58 chủ công. Liên lạc bằng bộ đàm và điện thoại rải dây.
- 9 giờ sáng ngày 9/5 xuất quân - 16 giờ đến vị trí tạm dừng. 23 giờ 30 đến vị trí tiếp cận (dưới chân đồi), 01 giờ ngày 10/5 nổ súng.
Tình huống bất ngờ: Đúng trưa ngày mồng 9, khi vượt qua đoạn trống, máy bay trinh sát L19 của địch phát hiện, bắn khói chỉ điểm. Thái Hữu Trực mũi phó C56 rất nhanh dùng mũ chụp đè, khói không vọt lên cao nên máy bay phản lực không oanh tạc được, đơn vị vượt qua an toàn (Thái Hữu Trực quê ở xã Hưng Chính, Hưng Nguyên, Nghệ an đã hy sinh ngày 15/3/1971 khi đánh vào quận lỵ Phú Nhơn tỉnh Gia Lai).
Tình huống bất ngờ thứ hai: 24 giờ, cán bộ và trinh sát C58 đi kiểm tra đường vào (đã đánh dấu khi đi điều tra) vấp mìn sáng, 2 quả lửa vút lên cao. Ngay lập tức C130 bay đến thả pháo sáng và bắn đại liên. Pháo các trận địa bắn quanh đồn. Sau 15 phút chúng dừng. Chúng tôi đi kiểm tra, nắm tình hình thì có 2 cán bộ hy sinh: Trưởng Mạnh Cháu đại đội trưởng C56 và mũi trưởng Tường C58. Chiến Sỹ Đản C58 bị thương gãy tay.
Nhanh chóng hội ý cán bộ, phân tích tình hình và quyết định:
- 2 cán bộ cấp phó thay cấp trưởng chỉ huy.
- Phân tích: Nếu địch biết ta thì phi pháo chúng đánh ác liệt hơn, thời gian dài hơn. Mìn sáng đó có thể nghi thú rừng vướng nổ. Ta phải lợi dụng yếu tố bất ngờ này đánh chúng. Phải đánh nhưng giờ nổ súng lui đến 02 giờ 30 sáng ngày 10.
Giờ quy định đã đến, các hướng đồng loạt xông lên, bộc phá nổ rền vang nhà lính, bãi đỗ xe, điện đài - B40 bấn lô cốt và trận địa súng cối...Những tên địch bị thương kêu la ghê sợ. Đến 5 giờ sáng trận đánh cơ bản kết thúc, chỉ còn 2 tổ thọc sâu vẫn nổ súng.
Quân Mỹ chết và bị thương tại trận địa chúng tôi không biết, nhưng đài kỹ thuật mặt trận Tây Nguyên nắm tin của địch thì chúng chết một nửa, số còn lại bị thương mất sức chiến đấu.
Chiến lợi phẩm chủ yếu lấy của những tên chết và bị thương có súng Carbin, đồng hồ đeo tay, đô la Mỹ.
Riêng K20 hy sinh 30 dũng sĩ, mất tích 10 (trong số này có đồng chí Nguyễn Công Huần sau thời gian dài đi lạc đã tìm về đơn vị nên còn 9. Hiện nay đồng chí Huần ở thôn 8 xã Gia Sinh, Gia Viễn, Ninh Bình).
Nghĩ về đồng đội đã hy sinh vì Tổ Quốc và để nhắc nhở lớp cháu con. Đồng chí Nguyễn Thọ Thăng là tồ trưởng trận đánh nay là Đại tá cùng gia đình định cư ở số nhà 787 Ngô Quyền, TP Đà Nẵng, lập bát hương; cứ đến ngày 10/5 hàng năm mặc niệm và rắc lễ vật ra đường, mong linh hồn liệt sỹ theo về gặp đồng đội.
Các Cựu chiến binh K20 thăm chiến trường xưa, đến đỉnh đồi Ngọc Cung Giao ai cững rưng rưng dòng lệ vì thương nhớ, thắp hương thơm tri ân, tâm niệm mấy dòng thơ:
.. .Máu xương đã thấm đất này
Khói hương là để giải bày tình thâm.
Hương cắm đất, đau nhói lòng,
Nhớ ngày sum họp, ngẫm buồn chia ly!
Xét về giá trị trận đánh phối hợp ngày N đợt 2 tổng tiến công và nổi dậy toàn Miền Nam. Tập kích quân Mỹ ở trong công sự vững chắc, có hỏa lực bản thân và chi viện của phi pháo mạnh. Đơn vị chiến đấu độc lập; dù biết sẽ khó khăn nhưng cán bộ và chiến sỹ đồng lòng, quyết tâm cao...hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Toàn K20 được tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng nhì. C58 và C60 hạng nhất.
Trận đánh này được xếp vào lịch sử truyền thống của K20 “ra quân đánh thắng trận đầu”. Đã được các lớp cán bộ và chiến sĩ tự hào, phát huy suốt chiều dài chiến đấu tiếp theo đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
K20 đã được Nhà nước 2 lần phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống Mỹ - cứu nước,

                                                                                       Ngày 10 tháng 5 năm 2019
    

MỘT SỐ CÂU VÈ CỦA LÍNH TÂY NGUYÊN

Tây Nguyên một chiến trường cực kỳ gian khó và ác liệt . Sống trong môi trường gian khó và ác liệt đó người lính Tây Nguyên luôn biết dùng lời ca , tiếng hát , câu vè để động viên nhau vượt qua gian khó . Để nhớ một thời về Tây Nguyên yêu dấu , trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc một số câu vè của Lính Tây Nguyên , mong bạn nào còn nhớ những câu vè khác bổ xung vào đây để những câu vè của Lính Tây Nguyên càng thêm phong phú
MỘT SỐ CÂU VÈ CỦA LÍNH TÂY NGUYÊN
Một yêu anh có Hê Rô ( bút máy Hê rô thời đó ngòi mạ vàng),
Hai yêu anh có đồng hồ Vi Le ( loại đồng hồ Liên Xô )
Ba yêu anh có đài nghe ( cán bộ từ đại đội trở lên )
Bốn yêu súng ngắn cặp kè bên hông,
Năm yêu anh phải là Hồng ( Đảng viên )
Sáu yêu , đường , sữa , Sâm nhung đủ sài (cán bộ trung cấp trở lên mới được phát )
Bảy yêu sức khoẻ dẻo dai,
Tám yêu tuổi tác không ngoài 30,
Chín yêu văn hoá lớp 10 ( bằng lớp 12 bây giờ),
Mười yêu anh phải là người đồng hương .
Các nàng đặt ra tiêu chuẩn cao quá lính ta chế ngay ra 10 yêu cho lính :
Một yêu có bút Tá Tung ( loại bút của TQ đổ cả lọ mực vào để viết)
Hai yêu , anh có cái mùng Liên Xô ( màn vải sợi màn tuyn dành cho cán bộ)
Ba yêu , có Cóng hoặc Gô ( loại dùng để nấu cơm nấu canh)
Bốn yêu , anh có vai thồ tạ hai ( thồ gạo thì được ăn no),
Năm yêu , anh có súng dài
Sáu yêu , anh có biệt tài đi câu,
Bẩy yêu , anh biết mổ Trâu,
Tám yêu , anh biết ăn đầu , ăn da ( thịt dành cho cán bộ)
Chín yêu , văn hoá lớp ba
Mười yêu , ca cóng tài ba hơn người
*****
Tà tà chân bước vào nương
Tay ôm quả bí , lòng thương đồng bào
Ra về lòng dạ nôn nao
Ăn bát canh bí lòng nào chẳng thương .
*****
Dốc Kon Tum
Hùm Đắc Lắc
Giặc Gia Lai
******
Một đèn cổ ngoéo
Ba chéo dù hoa
Một Stanđa ( loại đài để nghe của Nhật )
Một K59 ( loại súng ngắn dành cho cán bộ Trung cấp trở lên )
*****
Một đèn cổ thẳng
Một cẳng vượn khô
Một Gô môn thục
*****
Đời thằng Mục
Ăn cơm cục
Uống nước đục
Ngủ thì toàn ngủ gục
Không đi thì cán bộ giục
Đi thì bị địch phục
Làm thì làm hùng hục
Khổ cái thân đời thằng Mục
******
Trên trời phản lực ầm ầm
Ở dưới Thanh Lịch vẫn gầm chiến kh
*****
Ăn như Thuý Liệu
Điệu như Hoài Thu
..............
.................
*****
Liên hoan văn nghệ Phòng ta
Thuý Vam đang múa Chăm Pa tuột giày
Thuý Liệu ngồi dưới khen hay
Ông Giá đắc trí vỗ tay một mình
*****
Quả bom là quả bom to
Nó nổ dưới suối làm D / Kho mất hồn
A N trong dạ bồn chồn
Đang tắm dưới suối vác L chạy lên
*****
Những bài vè trên tôi không nhớ tên tác giả . Riêng một bài vè mà lính Trung đoàn 24 ai cũng biết tác giả là Đỗ Trung Minh . Nhưng thời gian lâu quá đến tác giả cũng không nhớ . Tôi cũng chỉ nhớ được vài câu . Bạn nào nhớ bổ xung nhé .
.........
Ông Tài , Ông Chấp , Ông Đồng
Ba ông đều có mũi trông vào mồm ( mũi cặp )
Ông Sơn - quân lực râu xồm
.........
    

CHEO REO - ĐƯỜNG 7, MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Đại tá Hà Quân trước đây công tác tại Phòng tuyên huấn Quân đoàn 3. Anh là người gắn bó mấy chục năm liền với mảnh đất Tây Nguyên. Sau khi nghỉ hưu anh giữ cương vị Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Gia Lai. Nhân kỷ niệm 45 năm chiến thắng Tây Nguyên anh đã gửi tới trang LÍNH TÂY NGUYÊN bài CHEO REO - ĐƯỜNG 7 MỘT THỜI ĐỂ NHỚ. Trang LÍNH TÂY NGUYÊN cảm ơn anh Hà Quân và trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết này.

CHEO REO - ĐƯỜNG 7, MỘT THỜI ĐỂ NHỚ
                                                         Hà Quân - Phó chủ tịch hội CCB TP Pleiku


Phố núi Pleiku một ngày đầu xuân Canh tý, trời hửng nắng và ấm áp, như đã hẹn trước, chúng tôi tìm đến một nhân vật đã gắn nhiều kỷ niệm với Tây nguyên, với Quân đoàn mà cuộc truy đuổi địch ở Cheo Reo , đường 7 với ông luôn ngập tràn những cảm xúc khi tháng ba về, đó là Đại tá Khuất Duy Hoan, nguyên phó Tư lệnh quân đoàn 3. Gặp ông sau cái bắt tay và nụ cười hiền hậu như ngày nào ông đang còn công tác tại Bộ Tư lệnh quân đoàn, mái tóc điểm bạc, ánh mắt tinh nhanh và giọng nói cuốn hút người nghe và đó cũng là ấn tượng đầu tiên của chúng tôi khi gặp lại ông. Tròn 45 thập niên đã trôi qua, nhưng cứ vào dịp kỷ niệm ngày giải phóng Gia Lai, truyền thống quân đoàn, ký ức trận đánh truy kích lịch sử ấy lại hiện về nguyên vẹn trong ông với bao cảm xúc ngập tràn.
Ông sinh năm 1952 tại huyện Thanh oai - Tỉnh Hà Tây nay thuộc Thành phố Hà Nội, nhập ngũ năm 1972 ông từng đảm nhiệm các cương vị trung đoàn trưởng 64 - Sư đoàn 320, phó phòng rồi trưởng phòng Tác chiến quân đoàn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 31 và phó tư lệnh quân đoàn 3 cho đến khi ông được Đảng và Quân đội cho nghỉ hưu cuối năm 2010. Trở lại với câu chuyện, biết tôi đặt vấn đề hỏi chuyện ông về một kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời trận mạc của ông mà nhất là kỷ niệm về Tây Nguyên, về Gia Lai nơi mà ông từng nói đó là quê hương thứ hai của mình, trầm tư, bồi hồi đôi chút, ông nhớ lại kỷ niệm về trận truy kích địch ở Cheo Reo đường 7 (nay là đường 25 thuộc thị xã AYunPa qua KrôngPa về tỉnh Phú Yên). Thấm thoát mới đó mà đã 45 năm, nửa cuộc đời một con người đã trôi qua trong ký ức của người cầm quân dày dạn kinh nghiệm của ông trận đánh này vẫn còn tươi nguyên câu chuyện sôi động về cuộc truy đuổi địch hoảng loạn rút khỏi Tây nguyên và những câu chuyện đậm chất nhân văn tình người.
Đó là vào trung tuần tháng 3 năm 1975, cả Tây nguyên rạo rực khí thế giải phóng, sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 10 tháng 3, bị đánh tan tác, tàn quân ngụy buộc phải tháo chạy xuống đồng bằng thông qua con đường duy nhất là đường 7 với mục đích là co cụm lực lượng về Duyên hải miền Trung để đối phó với các mũi tiến công của ta tìm thời cơ phản công để chiếm lại Tây Nguyên. Hơn 15 ngàn tên địch thuộc Quân đoàn 2 ngụy dắt díu vợ con, người thân ồ ạt hoảng loạn tháo chạy từ các hướng Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Đắc Tô, Tân Cảnh, Thanh An, Thanh giáo, Chư Nghé, Pleiku...kéo theo đó là hàng chục ngàn dân thường bị chúng dụ dỗ, ép buộc, dọa nạt chạy theo chúng để thoát xuống đồng bằng qua con đương 7 Cheo Reo, Phú Bổn.
Ông kể tiếp, ác liệt nhất là trận truy kích địch trên đoạn đường khoảng 10 km từ cầu sông Bờ đến đèo Tô Na, đây là đoạn đường yết hầu một bên là vách núi cao dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút, số lượng binh lính lẫn trong người dân và các phương tiện xe pháo quân sự của Ngụy tạo ra một cuộc tháo chạy hỗn loạn, chen lấn dẫm đạp lên nhau, tràn ứ dày đặc cả cánh rừng ven đường. Sáng ngày 16- 3 nhiều tốp máy bay trực thăng của địch bay rải truyền đơn tuyên truyền xúi dục dân thường di tản theo chúng, trên các đoạn đường địch xua đuổi dân đi trước làm bia đỡ đạn cho chúng tháo chạy. Phát hiện được quân địch từ Play Cu và Kon Tum rút chạy theo đường 7, Bộ Tư Lệnh Chiến dịch lệnh cho các đơn vị của Sư đoàn 320 mà trực tiếp là trung đoàn 48 và 64 bằng mọi cách nhanh chóng tiếp cận toàn bộ thung lũng Cheo Reo, Phú Bổn để chặn đường tháo chạy của địch về Phú Yên. Để chạy đua với thời gian chiếm lấy thời cơ thuận lợi, cấp trên ra lệnh: “ Đơn vị nào gặp ô tô thì khẩn trương cơ động trước, đơn vị còn lại tiếp tục chạy bộ, xe quay lại đón sau, không để quân địch tháo chạy”, bộ đội vừa hành quân, vừa quán triệt nhiệm vụ. Một khí thế quyết tâm diệt địch hào hứng trong toàn Sư đoàn. Tôi nhớ mãi câu nói của đồng chí chính trị viên đại đội 7 “Trận đánh này có ý nghĩa quyết định cùng với toàn chiến dịch giải phóng Tây nguyên”. Sao mà lớn lao giục giã đến như vậy, chiều tối ngày 17-3 đơn vị chúng tôi trèo đèo lội suối, cắt rừng vượt qua nhiều địa hình phức tạp hiểm trở, núi đá tai mèo, rừng le, rừng khộp gai góc và cứ thế cắt đường hành quân hỏa tốc, quên hết cả đói và mệt nhọc tất cả mọi người đều có chung một ý nghĩ nóng lòng đến nhanh với Cheo Reo càng sớm càng tốt, lúc này tiểu đoàn 8 gồng mình chạy bộ hơn 10 km đến nơi thì tiểu đoàn 9 đã nổ súng giòn giã trên đường 7 tiêu diệt nhiều xe tăng và xe cơ giới của địch. Rạng sáng ngày 18-3 toàn bộ Thị xã Cheo Reo đã bị quân ta bao vây xiết chặt hoàn toàn, lúc này quân địch chống cự quyết liệt hòng mở đường máu vượt đèo Tô Na để ra biển Tuy Hòa, quân ta chủ động hoàn toàn, nhưng khó nhất lúc này là bên cạnh vợ con binh lính của địch còn cả hàng chục ngàn người dân vô tội chúng bắt chạy theo hòng gây khó khăn cho chúng tôi trong tác chiến rất khó xử lý, nhưng anh em trong đơn vị chúng tôi đã được quán triệt ngay từ đầu chiến dịch, phải bảo vệ tính mạng cho nhân dân, lợi dụng địa hình, địa vật khôn khéo kéo địch tách khỏi dân để tiêu hao sinh lực và buộc chúng phải ra hàng. Gần trưa ngày 18-3 được sự chi viện của pháo binh bắn vào trung tâm thị xã Cheo Reo, địch chống cự yếu ớt và tháo chạy thục mạng, cho đến 18h20 ta đã đánh tan tác liên đoàn 28 của địch, trong khung cảnh hỗn loạn địch ở trung tâm thị xã, địch co cụm nhiều tốp chống cự quyết liệt để giãn thời gian tìm mọi cách thoát ra đường 7 chạy về thị xã Tuy Hòa. Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 19-3 quân ta đồng loạt tấn công vào thị xã, Cheo Reo thất thủ, AYunPa hoàn toàn giải phóng, địch tháo chạy tán loạn bỏ lại một khối lượng lớn binh khí kỹ thuật, phương tiện quân sự và hậu cần, 12 giờ trưa ngày 19-3 Sư đoàn 320 đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Phú Bổn ( Nay là các huyện, thị Phú Thiện, IAPa, KRôngPa và thị xã AYunPa).
Nói đến đây, Đại tá Khuất Duy Hoan như sững lại và trầm tư có những cảm xúc sau trận đánh khi ông nhớ lại các đồng chí đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh trước ngày toàn thắng...Vui mừng tự hào với đơn vị và cá nhân các đồng chí của ông đã anh dũng lập nên nhiều chiến công xuất sắc đó là Nguyễn Vi Hợi, Trần Xuân Thiện, Sên Vạn Vần và Tạ Văn Kính.
Năm 2010, Đại tá Khuất Duy Hoan được Đảng và Quân đội cho nghỉ hưu, ông có dịp trở lại thăm chiến trường xưa Cheo Reo, đường 7, nay là thị xã AyunPa và con đường 25 huyền thoại ấy. Đứng trước nghĩa trang liệt sỹ của Thị xã ông bùi ngùi xúc động thắp nén nhang cho các đồng chí, đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh trong trận đánh lịch sử của Sư đoàn năm xưa, mắt ông nhòa lệ trước những tấm bia mộ đồng đội. Cũng từ đây nhìn về Cheo Reo, Thị xã giờ đổi thay quá nhiều, ông cũng như nhiều Cựu chiến binh Sư đoàn 320 - Quân đoàn 3 khi trở lại nơi đây không ngờ rằng: quân và dân các dân tộc nơi đây đã và đang làm nên một huyền thoại của thời kỳ hội nhập, đổi mới.
Tháng ba này trời Tây Nguyên trong xanh, đầy nắng và gió, hoa cúc quỳ nở vàng ngút ngàn như một thảm lụa vàng. Dù đang là mùa khô nhưng những cánh đồng Ayun Hạ dưới chân đèo Tô Na dọc theo đường 7 lúa xanh tốt bời bời. Kỷ niệm một thời để nhớ về Cheo Reo - đường 7 nơi mà Đại tá Khuất Duy Hoan cùng đồng đội một thời trai trẻ hừng hực khí thế truy đuổi, địch tưng bừng chiến thắng, nơi đó cũng có hàng vạn người con trên khắp mọi miền Đất nước đã ngã xuống để có một binh đoàn Anh hùng mang tên một vùng đất thân thương BINH ĐOÀN TÂY NGUYÊN.

                                                                      Ảnh: Đại tá Hà Quân ngồi giữa