MÙA LÚA VÀNG - MÙ CĂNG CHẢI

NHỮNG ĐIỂM DU LỊCH ĐỘC ĐÁO , HẤP DẪN
Nhân Lễ hội Mù Căng Chải mùa lúa vàng . Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc một địa điểm du lịch độc đáo , hấp dẫn của tỉnh Yên Bái đó là Ruộng bậc thang Mù Căng Chải qua bài viết của Nguyễn Đình Thi .

MÙA LÚA VÀNG - MÙ CĂNG CHẢI
                                           Nguyễn Đình Thi

Đã đi Mù Căng Chải , nhưng khi nghe Nguyễn Quang Phong - lính E24 , nguyên Phó Cục trưởng Cục thuế tỉnh Yên Bái nói lễ hội Mùa lúa vàng Mù Căng Chải năm nay có nhiều chương trình hay lắm thế là tôi nhận lời ngay . 8 giờ ngày 22/9 , tôi và thày Vũ Thành Chương - lính Trung đoàn 24 , nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sao Đỏ xuất phát từ Hà Nội . Dạo này giữa thu , thời tiết khá mát mẻ làm lòng người cũng thấy dễ chịu . Rời khỏi thành phố xe chúng tôi nhập vào cao tốc Nội Bài - Lào Cai . Từ khi đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai đi vào sử dụng , khoảng cách giữa Hà Nội và Yên Bái gần thêm rất nhiều , xe chạy giờ chỉ hết chưa đầy 2 tiếng đồng hồ . Nó cũng làm cho tình cảm con người thấy gần nhau hơn .
10 giờ tôi và anh Chương đã có mặt tại thành phố Yên Bái . Phong , anh Trung - nguyên Cục trưởng Cục thuế Yên Bái đã chờ sẵn đón chúng tôi . Trà nước xong đoàn chúng tôi tiếp tục hành trình đi Nghĩa Lộ . 11 giờ 30 chúng tôi tới thị xã Nghĩa Lộ . Thị xã Nghĩa Lộ không lớn nhưng rất yên bình , không có cảnh ồn ào như các thị xã miền xuôi . Tôi thích nhất là được ngắm nhìn thung lũng Mường Lò . Thật lạ ! giữa khung cảnh rừng núi trùng điệp lại xuất hiện một vùng đồng bằng rộng đến ngút ngàn mắt . Đúng là thiên nhiên đã ưu đãi cho thị xã Nghĩa Lộ một thắng cảnh mà hiếm thị xã nào có được . Vào dịp này cả cánh đồng Mường Lò lúa chín vàng trông vô cùng đẹp . Buổi tối chúng tôi được thưởng thức một chương trình hát múa của đội Văn nghệ dân tộc Thái - Mường Lò . Nếu bạn đến Nghĩa lộ mà chưa được thưởng thức những điệu múa ở Mường Lò coi như bạn chưa đến Nghĩa Lộ . Các cô gái dân tộc Thái trong trang phục bộ váy dân tộc vừa hát , vừa múa thật mền mại , thật hấp dẫn . Quả thực những cô gái này không phải văn công chuyên nghiệp nhưng những làn điệu múa hát của các cô có sức quyến rũ đặc biệt bởi âm hưởng nhạc dân tộc , bởi sự trẻ trung , hồn nhiên của họ . Sau tiết mục múa hát là tiết mục mời rượu . Tôi thì không biết uống rượu nhưng cái sự mời mọc khéo léo của các cô gái làm cho bất kỳ khách nào dù biết uống rượu hay không đều không thể từ chối . Thật cảm phục các cô gái này , họ hát hay , múa dẻo mà họ uống rượu cũng thật giỏi . Các cô uống rượu không phải bằng chén mà họ uống bằng bát . “ dân tộc mình đều uống vậy mà “ một cô gái vừa mời , vừa giải thích với tôi như vậy . Các cô uống rượu cứ như mình uống nước . Tôi cứ nghĩ họ sẽ say , thế mà họ uống hết bát này sang bát khác mà trông mặt họ , giọng nói của họ vẫn tươi tỉnh , ngọt ngào . Thật bái phục .
Sáng hôm sau đoàn chúng tôi dời thị xã Nghĩa Lộ đi Mù Căng Chải . Các anh của Cục thuế Yên Bái kể : Thời bao cấp mỗi lần từ Yên Bái vào Mù Căng Chải công tác , xe chạy phải hết đúng một ngày . Giờ chỉ mất 6 tiếng . Đúng vậy ! đường đi Mù Căng Chải giờ khá rộng , phẳng phiu , chả khác gì đường ở dưới xuôi , có đoạn xe có thể chạy tới 60, 70km/giờ . Đi trên tuyến đường này bạn thực sự được đắm chìm vào cảnh sắc thiên nhiên mà hiếm nơi nào có được . Bạn có thể ngắm nhìn những đám mây trắng lướt nhanh qua cửa xe . Rồi lại ngắm nhìn những thác nước trắng xoá phía xa xa dưới khe . Rồi những ruộng bậc thang lúa chín vàng trải dài trên các sườn núi . Có thể nói đây là một vùng đất cực kỳ hấp dẫn đối với du khách .
9 giờ , xe chúng tôi tới thị trấn Tú Lệ . Đây là một thị trấn nhỏ nằm trên trục đường 32 . Tuy là một thị trấn nhỏ nhưng Tú Lệ là một điểm mà du khách rất yêu thích . Bất cứ một đoàn khách nào đi Mù Căng Chải đều không thể không dừng lại ở thị trấn nhỏ này . Bởi thị trấn có 1 thứ đặc sản nổi tiếng đó là Cốm . Cốm Tú Lệ thì khỏi phải nói , do cây lúa ở đây được trồng trong vùng khí hậu đặc biệt , được tưới nước bằng con suối trong vắt có nhiều chất khoáng , hạt lúa được người dân cắt về từ sớm và được đưa vào làm cốm ngay nên cốm ở Tú Lệ mặc dù không nhuộm phẩm nhưng trông vẫn xanh , ăn vừa bùi , vừa béo . Ăn xong vị ngọt của cốm còn đọng mãi trong cổ . Chả thế mà mẻ cốm nào làm ra đến đâu , hết đến đó . Khách qua đây chả ai không mua một vài kg , vừa để ăn , vừa làm quà .
Dời Tú Lệ đoàn chúng tôi tiếp tục hành trình đi Mù Căng Chải . Dọc đường tôi gặp rất nhiều các bạn trẻ nam nữ đi phượt . Đi phượt ở đây thì thật tuyệt vời .Tôi ao ước một lần nào đó mình cũng đi phượt như các bạn trẻ này .
11 giờ đoàn chúng tôi có mặt tại thị trấn Mù Căng Chải . Các anh chị ở Chi cục thuế Mù Căng Chải đã chờ sẵn đón chúng tôi . Trong tiềm thức của tôi từ trước đến nay tôi cứ nghĩ Mù Căng Chải là một nơi xa xôi , heo hút , nghèo nàn và vắng vẻ . Nhưng khi đến đây tôi thật ngỡ ngàng . Thị trấn đẹp hơn tôi tưởng rất nhiều . Thậm chí còn đẹp hơn thị trấn quê tôi ở dưới xuôi . Khá nhiều nhà 2 , 3 tầng được xây dựng với kiến trúc phương Tây trông rất bắt mắt . Các cửa hàng , cửa hiệu đầy ắp các hàng hoá . Vào những ngày lễ hội này Mù Căng Chải càng đông vui , nhộn nhịp . Khách các nơi nô nức đổ về đây dự Lễ hội Mùa lúa vàng . Lễ hội này có lẽ là lễ hội độc đáo và duy nhất có ở Việt Nam . Tại trung tâm thị trấn nơi diễn ra các hoạt động của lễ hội đông nghịt người . Người nước ngoài , người trong Nam , người các tỉnh thành . Với tôi , tôi thích nhất là được ngắm nhìn các cô gái dân tộc HMông má đỏ au như trái đào chín , xúng xính trong bộ trang phục dân tộc nhiều màu sắc rất đẹp , nói níu na , níu lô ở các bản xa về đây dự hội . Nhưng có lẽ cuốn hút nhất đối với các du khách trong Lễ hội này là được chiêm ngưỡng các thửa ruộng lúa bậc thang . Ruộng bậc thang ở đây không chỉ một vài ruộng như một số nơi khác , nó kéo dài tới vài chục km , suốt từ Khau Phạ tới huyện lỵ Mù Căng Chải , với diện tích trên 2000 ha . Đây thực sự là một tác phẩm nghệ thuật kỳ vỹ do công sức lao động của người dân bao đời ở đây tạo nên . Vào mùa lúa chín này cả vùng rộng lớn Mù Căng Chải như khoát trên mình một bức tranh màu vàng óng khổng lồ đẹp đến mê hồn . Ở mỗi ruộng lúa bậc thang lại là một bức tranh riêng , cực kỳ đẹp mắt . Cái màu vàng óng của lúa được tôn bởi màu xanh của rừng có sức hấp dẫn thật kỳ lạ . Có lẽ không có một nơi nào trên đất nước Việt Nam lại có được những thửa ruộng lúa bậc thang đẹp như ở đây . Cũng vì vẻ đẹp mê hồn của nó nên những ngày này Mù Căng Chải luôn tấp nập các đoàn khách đến tham quan , du lịch , chụp ảnh . Rất nhiều đoàn khách từ trong Nam , ngoài Bắc , từ Anh , từ Pháp , từ Mỹ cũng đã có mặt ở đây .
15 giờ , do có hẹn trước trở lại Nghĩa Lộ dự Lễ hội đường phố buổi tối nên chúng tôi phải chia tay Mù Căng Chải nhưng dấu ấn về Mù Căng Chải vẫn in đậm trong tôi.


    

KÝ ỨC VỀ CHA !!! CÔNG LAO VỀ MẸ !!!

Đặng Xuân Chính - quê xóm Ngoài , xã Mỹ Hưng - huyện Mỹ Lộc - Nam Định , có cha là Liệt sỹ Đặng Hữu Tần - đơn vị C4 , D460 , E568 hy sinh ngày 27/5/1970 , tại binh trạm Bắc ( Kon Tum ) . Khi cha hy sinh Chính mới được 5 tháng tuổi . Sau bao năm nỗ lực tìm cha , nhưng đến giờ vẫn vô vọng . Đặng Xuân Chính đã trải lòng về người cha yêu thương của mình . Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu với bạn đọc bài viết này của Đặng Xuân Chính

KÝ ỨC VỀ CHA !!! 
CÔNG LAO VỀ MẸ !!!

                                      Đặng Xuân Chính

Những người thân sống quanh ta, Bố & Mẹ yêu thương ta nhiều đến mức ta tưởng điều đó là bổn phận của họ, có thể ta không quí trọng. Đến khi họ không còn hơi thở, vĩnh viễn không còn có mặt trên cõi đời này nữa, ta mới biết khoảng trống họ để lại trên đời này là quá lớn . Đời người trôi qua rất nhanh. Từng giây, từng phút được sống trên đời vốn dĩ đã là những món quà vô giá mà cuộc sống ban tặng. Mỗi giây phút trôi qua sẽ biến mất vĩnh viễn, điều đọng lại chỉ còn trong kí ức.
*****
Kí ức ! Những năm tháng khi bố đi xa, kỷ vật bố để lại trên đời này chỉ còn tấm ảnh và những lá thư gửi về cho mẹ. Thư bố viết rất tình cảm, hỏi thăm từng người thân, luôn động viên mẹ chăm sóc chúng con. Bố còn gửi gắm yêu thương của mình, qua những bài thơ, dạt dào, sâu lắng tình cảm của người lính xa nhà, thương nhớ người thân ở hậu phương. Con đã không thể nhớ nổi bao lần đọc thư của bố nhoà trong nước mắt, ngơ ngẩn ngắm ảnh bố quên cả thời gian. Con hình dung về bố, qua hồi tưởng của mẹ, của người thân và qua câu chuyện của hai anh, vẫn hờn dỗi bố trong vài lần nghỉ phép, vì khi ấy các anh cũng còn quá nhỏ.
Bước vào tuổi thiếu niên, con cảm nhận được, mình thiếu thốn tình cảm nhiều so với bạn bè cùng lứa. Có những lần con đã từng giận bố, vì khao khát muốn gặp bố mà không được. Theo lời của mẹ, bố đi công tác xa thôi, mà sao mãi không về.
Lớn thêm lên, biết sự thật bố đã hy sinh, con mới hiểu khoảng trống bố để lại cho mẹ và gia đình là quá lớn. Mẹ nén chịu nỗi đau khi chồng đã hy sinh, gánh vác việc nuôi dậy 3 người con trai, khi ấy mẹ chưa tròn 30 tuổi và con lúc đó vẫn đang còn ẵm ngửa.
Mẹ là người phụ nữ chịu khó và rất kiên cường. Tuy vất vả trăm bề nhưng vẫn không ngừng phấn đấu, nên mẹ rất giỏi giang trong công tác. Mẹ đã hy sinh tuổi thanh xuân, ở vậy chăm chút, bao bọc, dìu dắt chúng con vượt qua những năm tháng gian nan khi thiếu vắng bờ vai của bố. Để có được cuộc sống của chúng con hôm nay, mẹ đã một mình vật lộn với bao khó khăn vất vả, sự chịu đựng, công lao của mẹ đối với chúng con lớn biết nhường nào. Gần đây, tuổi đã cao, sức khỏe suy yếu nhiều nhưng mẹ vẫn luôn mong mỏi những điều tốt nhất, đến với con cháu của mình . Mẹ vĩ đại là thế, nhưng cả đời không đòi hỏi điều gì cho riêng mình, không đòi hỏi cả những hiếu nghĩa của con cháu mà đáng ra mẹ phải được hưởng những điều tốt nhất. Chúng con vẫn có lỗi với mẹ, nhiều việc đã khiến mẹ phiền lòng. Quỹ thời gian của mẹ không còn nhiều nữa. Con rất muốn những ngày tháng còn lại trên đời này, mẹ được vui vẻ, hạnh phúc bên con cháu. Con thường nhắc đến công lao của mẹ với gia đình nhỏ của con và luôn tâm niệm, dù chăm sóc mẹ chu toàn, cũng không thể bù đắp được một phần sự hy sinh của mẹ đối với chúng con.
Con lớn khôn trong vòng tay yêu thương, dạy dỗ ân cần của mẹ. Hình hài, cốt cách của bố, người sỹ quan đẹp trai trong tấm ảnh, luôn dõi theo con với ánh mắt nhìn trìu mến, tiếp cho con nghị lực, sự mạnh mẽ của người đàn ông. Con nhớ bố nhiều, hình bóng bố luôn trong sự tưởng tượng của con. Nhưng nỗi nhớ vô hình, con không sờ được, cũng không nắm được và không thể ôm ấp vào lòng . Sinh ra trên đời, được làm kiếp người là một ân huệ, bố mẹ đã cho con ân huệ đó . Ân huệ mà cả đời con cũng chưa thể đền đáp được .
Noi gương bố, anh em con đều lên đường nhập ngũ. Con được là Bộ Đội Cụ Hồ, đứng trong hàng ngũ Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Con rất tự hào vì được trưởng thành trong quân đội, tiếp nối cha anh. “Lớp cha trước, lớp con sau. Đã là đồng chí chung câu quân hành”.
Có hàng trăm ngàn lí do, khiến cho bất kể mỗi người trong chúng ta, ai cũng có thể ra đi, rời khỏi thế giới này, trở về cát bụi. Thế hệ của bố cùng đồng đội, có thể biết trước được điều gì sẽ đến với mình. Vẫn trọn cách vinh quang nhất, lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của tổ quốc, chiến đấu và anh dũng hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, giải phóng miền nam, thống nhất đất nước . Con cũng bước qua ngưỡng của nửa đời người, cũng tạm hiểu những lẽ ở đời, không còn bồng bột nữa. Cảm nhận về bố vẫn còn nguyên vẹn, con luôn đau đáu muốn tìm thấy nơi bố yên nghỉ, đưa bố trở về với quê hương.
Bao năm nay con vẫn lặn lội tìm bố . Ước nguyện lớn lao nhất của con muốn được ôm bố một lần trong đời mà đến giờ vẫn khó thành hiện thực. Có thể, nếu may mắn con tìm được đến nơi bố hy sinh, thì thân thể của bố và đồng đội đã hoà vào cát bụi , mãi yên nghỉ trong lòng đất mẹ Việt Nam. Nhưng dù thế nào, nếu mọi việc theo sự mong muốn của con, nhất định con sẽ đến thực địa chiến trường xưa, nơi bố hy sinh. Thắp hương cho bố và đồng đội, tri ân những người anh hùng đã không tiếc máu xương, chiến đấu và đã hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Cảm nhận được hơi ấm của bố ở nơi ấy, con mới yên lòng


    

SƯ ĐOÀN 10 CỦA CHÚNG TÔI

Nhân kỷ niệm 46 năm ngày thành lập Sư đoàn 10 ( 20/9/1972 - 20/9/2018 ), Trang Lính Tây Nguyên xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết SƯ ĐOÀN 10 CỦA CHÚNG TÔI của Nguyễn Đình Thi

SƯ ĐOÀN 10 CỦA CHÚNG TÔI 
Nguyễn Đình Thi - Sư đoàn 10

Tháng 5/1985 , sau 13 năm gắn bó với Sư đoàn , do bị tai nạn , tôi chuyển ngành khỏi Sư 10 , về Điện ảnh . Đến hôm nay đã tròn 33 năm tôi xa Sư 10 . Ấy vậy mà hình ảnh và cái tên thân thuộc Sư đoàn 10 hầu như lúc nào cũng hiện lên trong tâm trí tôi . Tôi có vinh dự ở Sư 10 từ ngày thành lập . Ngày ấy 3 Trung đoàn bộ binh 66 , 95 , 28 đều hoạt động ở Kon Tum và Gia Lai dưới sự chỉ huy của Mặt trận cánh Đông do Đại tá Nguyễn Mạnh Quân làm Sư trưởng và Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm chính ủy . Đến tháng 9/1972 thì các đơn vị của Mặt trận cánh Đông hợp nhất lại với nhau thành Sư 10 . Thực ra tên thì mới , nhưng thực chất vẫn là các đơn vị cũ ( E66 , E28 , E95 ) của Mặt trận cánh Đông . Do vậy trong ngày tuyên bố thành lập Sư đoàn ở phía Tây dãy núi Chư Mon Ray - Kon Tum , Sư phó Hồ Đệ mới ngẫu hứng làm một bài thơ rất hóm hỉnh nhưng rất đúng :
Xem ra cảnh cũ , người xưa
Lâu ngày xa vợ bây giờ hoá Sư
Họp bàn tính chuyện binh thư
Cởi áo trả vợ để Sư mặc quần
Thời gian thấm thoắt đến nay đã đã 46 năm . Lớp lãnh đạo đầu tiên của Sư đoàn ngày ấy gồm Sư trưởng Nguyễn Mạnh Quân , chính ủy Đặng Vũ Hiệp , Sư phó Hồ Đệ , phó Chính ủy Lã Ngọc Châu cũng đã mất . Số lãnh đạo chỉ huy tiếp theo của Sư 10 một số cũng đã ra đi theo đồng đội . Nhưng có thể nói đó là một thế hệ lãnh đạo , chỉ huy tài giỏi , mẫu mực của Sư 10 . Một thế hệ lãnh đạo chỉ huy thật đáng kính , không quan cách , luôn hết lòng vì lính , đồng cam cộng khổ , ăn đói , mặc rét cùng lính , sống chết cùng lính , yêu thương lính như ruột thịt . Đó là các Sư trưởng và Chính ủy : Nguyễn Mạnh Quân , Đặng Vũ Hiệp , Nguyễn Đức Giá , Hồ Đệ , Lã Ngọc Châu , Đoàn Hồng Sơn , Lưu Quý Ngữ , Phùng Bá Thường , Bùi Đình Hoè , Trần Giang , Vũ Đình Thước , Đinh Xuân La ... Bây giờ dù thời gian đã lùi xa bốn , năm mươi năm nhưng tên tuổi những Lãnh đạo , chỉ huy ấy mỗi khi nhắc đến chúng tôi đầy tự hào , kiêu hãnh . Mỗi khi nhắc tới lính chúng tôi vẫn rơi lệ .
Không phải tôi ở Sư 10 mà khen hay về Sư 10 . Nhiều bạn bè tôi ở các Sư đoàn khác cũng đều công nhận rằng : Sư 10 là một Sư đoàn thiện chiến của Quân đội nhân dân Việt Nam . Những năm chiến tranh , nhiệm vụ nào khó khăn , mục tiêu nào quan trọng đều có mặt Sư 10 . Cái tên Sư đoàn 10 luôn là nỗi khiếp đảm với kẻ thù mỗi khi phải đụng độ . Địch đã phải thốt lên rằng : “ Sư 10 có mặt ở đâu thì đánh lớn ở đó “ . Một sư đoàn sinh sau đẻ muộn ( tháng 9/1972 ) , nhưng chiến công của Sư 10 lại chẳng thua kém bất kỳ một Sư đoàn nào trong toàn quân . Trong vòng chưa đầy 3 năm Sư đoàn đã tiêu diệt 2 Sư đoàn nổi tiếng của địch ở Tây Nguyên đó là Sư đoàn 22 và Sư đoàn 23 ( Sư đoàn 22 bị tiêu diệt trong trận Đắc Tô - Tân Cảnh tháng 4/1972 , Sư đoàn 23 bị tiêu diệt ở Phước An trong Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3/1975 ) . Trong Chiến dịch Tây Nguyên có 3 trận then chốt là trận Buôn Ma Thuột, trận tiêu diệt Sư đoàn 23 của địch đến phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột và trận truy kích tiêu diệt địch rút chạy trên đường số 7 thì Sư 10 đã trực tiếp đánh hai trận. Chiến công của Sư đoàn cùng với các đơn vị khác của bộ đội Tây Nguyên đã buộc địch phải rút chạy khỏi Tây Nguyên . Tạo bước ngoặt lịch sử để quân ta mở các chiến dịch tiếp theo . Giải phóng hoàn toàn Miền Nam , thống nhất Đất nước . Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh một lần nữa Sư 10 lại thể hiện sức mạnh tấn công vũ bão của mình , một ngày ( ngày 29/4/1975 ) tấn công quyét sạch toàn bộ quân địch trên tuyến phòng thủ của chúng dài tới hơn 60km từ Dầu Tiếng - Tây Ninh tới Ngã 3 Bà Quoẹ ( Sài Gòn ) . Là cánh quân chủ lực có mặt ở nội đô Sài Gòn sớm nhất trong ngày 29/4/1975 . Một Sư đoàn trong 7 ngày ( từ 7/1/1979 đến 14/1/1979 ) đã đánh chiếm một phần thủ đô Nông Pênh và giải phóng tới 4 tỉnh : Kông Pông Thom , Xiêm Riệp , Bát Tam Bang , Pu Sát trong chiến dịch cùng quân dân CPC giải phóng CPC tháng 1/1979 . Đó thực sự là những cuộc tấn công thần tốc , hiếm có một Sư đoàn nào trong toàn quân thực hiện được .
Lại sắp đến ngày gặp mặt kỷ niệm lần thứ 46 , ngày thành lập Sư 10 ( 20/9/1972 - 20/9/2018 ) . Với tôi những ngày gặp mặt lại là những ngày khuôn nguôi nhớ về đồng đội . Những người đã cùng tôi chịu đựng cùng cực khó khăn , gian khổ , đạn bom của những năm tháng chiến tranh . Tôi nhớ tới một Sư đoàn 10 nữa đang nằm dưới lòng đất , đó là một vạn liệt sỹ của Sư đoàn đã ngã xuống trong các cuộc chiến . Vinh quang mà Sư 10 có được hôm nay là do bao thế hệ những người lính Sư đoàn đã không tiếc máu xương viết lên truyền thống vẻ vang này . Tự hào về các lãnh đạo chỉ huy của Sư 10 bao nhiêu tôi cũng tự hào về những người lính Sư 10 bấy nhiêu . Họ thực sự là những người lính quả cảm , anh hùng . Đến nay sau hơn bốn chục năm hoà bình rất nhiều đồng đội tôi vẫn còn nằm heo hút ở các cánh rừng đại ngàn Tây Nguyên , rất nhiều đồng đội tôi lại phải chịu đựng những đau khổ khác : đó là bệnh tật , là chất độc da cam do hậu quả chiến tranh . Nỗi đau đó giờ còn đau đớn hơn cả những năm chiến tranh . Nói sao hết nỗi buồn của tôi mỗi năm gặp mặt Sư đoàn lại thấy vắng đi một số khuôn mặt bạn bè .
Nhớ về Sư 10 tôi không thể quên các địa danh thân thương đã gắn bó với Sư đoàn trong suốt 46 năm qua . Đó là : Chư Mom Ray , Ngọc Rinh Rua , Ngọc Bờ Biêng , Play Cần , Cầu lầy , Binh trạm Bắc , Binh trạm Nam , Binh trạm Trung , Đắc Siêng , Đắc Pét , Võ Định , Đắc Tô - Tân Cảnh , Kờ Leng , Diên Bình , 601A , 601B , Chư Thoi , Ngọc Bay , sông Pô Cô , đường 14 , đường 21 , Buôn Ma Thuột , Đức Lập ,Phước An , đèo Phượng Hoàng , Nha Trang , Cam Ranh , Sài Gòn , Kông Pông Chàm , Kông Pông Thom , Xiêm Riệp , Bát Tam Băng , Pu Sát ...nơi đó là tuổi xuân của chúng tôi , là bao máu xương đồng đội . Những địa danh này giờ có thể đổi thay , có thể còn , có thể không còn nhưng đối với những người lính Sư 10 chúng tôi những địa danh này mãi mãi thiêng liêng , mãi mãi là niềm tự hào , luôn thăm thẳm , luôn khắc khoải trong tâm trí những người lính Sư 10 .
Gần 50 năm đã trôi qua , các thế hệ lính Sư 10 chúng tôi giờ đã có nhiều thay đổi , người thì trở về quê hương , người thì lang bạt mọi nơi để kiếm sống . Nhưng dù sống ở đâu , dù làm gì , dù còn vất vả , nghèo khó thì những ký ức về những năm tháng sống , chiến đấu ở Sư 10 luôn là những hoài niệm thật đẹp đẽ , thật trong sáng , đáng sống nhất trong cuộc đời quân ngũ của mình . Mỗi người lính Sư 10 chúng ta hãy tự hào về những ngày tháng đó , hãy tự hào về một SƯ ĐOÀN 10 hai lần ANH HÙNG .
    

CÁC TƯỚNG LĨNH MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN
TRÒ CHUYỆN VỚI THIẾU TƯỚNG PHÙNG BÁ THƯỜNG
Nguyễn Đình Thi
Phải đến 4 tháng , hôm nay tôi mới lại có dịp đến thăm người Thủ trưởng cũ của mình - Thiếu tướng Phùng Bá Thường - nguyên Sư trưởng Sư đoàn 10 . Anh bảo vệ ngân hàng Công thương dẫn tôi vào nhà . Vừa bắt tay tôi , Thủ trưởng vừa tươi cười giới thiệu với đồng chí bảo vệ :
- Đồng đội cùng chiến đấu với mình ở Tây Nguyên đó !Nghe Cụ giới thiệu vậy tôi thấy thật ấm lòng và kính trọng Thủ trưởng cũ của mình biết bao . Nếu như người khác không quý trọng , thương yêu lính thật sự , họ sẽ giới thiệu :
- Lính của mình ngày trước đấy ! Giới thiệu thế cũng chẳng sao .
Thiếu tướng Phùng Bá Thường sinh năm 1924 tại làng Thu Lũng ,xã Nghi Thu , thị xã Cửa Lò , tỉnh Nghệ An . Năm nay ông đã 94 tuổi . Có lẽ ông là người cao tuổi nhất trong số các Tướng lĩnh của Mặt trận Tây Nguyên còn sống tới thời điểm hiện nay . Hiện mắt ông có kém , đi lại có chậm chạp nhưng trí nhớ vẫn rất tuyệt vời . Ông vẫn còn nhớ từng chi tiết của các trận đánh do mình chỉ huy cách đây tới 53 năm . Ông nhập ngũ năm 1946 . Kết thúc kháng chiến chống Pháp ông đã là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9 - Sư đoàn 304 . Năm 1965 , ông dẫn Trung đoàn 24A vào Tây Nguyên trên cương vị Trung đoàn Trưởng . Sau này ông trở thành Sư trưởng Sư đoàn 10, rồi Hiệu trưởng Trường sỹ quan Hậu cần . Khi chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra , ông làm Phó Tư lệnh Quân đoàn 14 , đánh nhau với quân Trung Quốc ở mặt trận Lạng Sơn . Là một tướng lĩnh được đào tạo bài bản , ông có 3 năm học ở trường Quân sự Hoàng Phố - Trung Quốc ( 1962 - 1964 ) . Ông là một chỉ huy gan dạ , rất giỏi trận mạc .Ngay từ ngày đầu vào chiến trường ông đã chỉ huy Trung đoàn 24A đánh trận đầu tiên quân Ngụy ở Tu Mơ Rông và sau đó đánh quân Mỹ đến giải tỏa , diệt 900 tên Mỹ , 200 tên Ngụy , trong đó diệt gọn 1 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 101 lính Dù Mỹ . Ngày ấy ta mới đụng độ với quân Mỹ mà giành thắng lợi như thế phải nói là rất xuất sắc . Rồi tiếp đó là trận đánh căn cứ Ka Te ở phía Đông Bu Prăng , diệt 200 tên , có 70 lính Mỹ ,bắn rơi 14 máy bay , thu 6 pháo 105 ly . Sau này là một loạt các trận đánh khác ở Play Cần , Đắc Siêng , Lam Sơn , Non Nước , Đắc Tô - Tân Cảnh gây cho địch những thiệt hại lớn . Tên tuổi ông đã làm cho quân địch ở Kon Tum lúc bấy giờ rất sợ hãi mỗi khi phải đụng độ với Trung đoàn 66 ( địch gọi là Trung đoàn 2 râu ) do ông chỉ huy . Tuy là một chỉ huy giỏi nhưng con đường thăng tiến của ông lại không suôn sẻ . Tết Mậu Thân 1968 , Trung đoàn 24A do ông chỉ huy nhận lệnh tấn công thị xã Kon Tum . Là Trung đoàn trưởng chỉ huy trận đánh trong khi thời gian rất khẩn trương , nhưng ông lại được cấp trên lệnh đi chỉ huy bộ đội vận chuyển gạo , đạn . Còn chỉ huy trinh sát địa hình lại là Chính ủy . Khi chuẩn bị vào trận đánh , cấp trên lại ra lệnh rút một nửa số cán bộ ra thành lập bộ khung Trung đoàn mới . Đấy là điều bất lợi cho ông khi chỉ huy trận đánh . Khi trận đánh xảy ra , quân ta chưa tới kịp thì pháo hiệu tấn công đã phát ra . Địch phát hiện quân ta tấn công , chúng thả đèn dù , pháo sáng , nhìn rõ tới từng ngọn cỏ . Cả đội hình Trung đoàn trơ trọi trên mặt đất , không công sự , hầm hào . Hỏa lực địch từ máy bay trực thăng , máy bay C130 và từ biệt khu 24 cứ thế nhằm đội hình Trung đoàn xả đạn . Bộ đội thương vong khá nhiều . Biết tấn công nữa vào biệt khu 24 cũng không giải quyết được vấn đề mà bộ đội càng hy sinh nhiều hơn . Ông bàn với Chính ủy quyết định lui quân . Ông bảo đây là quyết định khó khăn nhất của đời ông nhưng vì sinh mạng người lính ông vẫn làm .Thà ông nhận kỷ luật với cấp trên chứ không để người lính chết thêm vô ích . Vì họ là con người , họ còn bố , còn mẹ , còn vợ , còn con . Nghe ông kể vậy tôi thật kính trọng tính nhân văn cao cả trong con người chỉ huy của ông . Sau trận này ông bị cấp trên kỷ luật , nhưng ông bảo ông không vì thế mà buồn . Rồi ông kể tôi nghe trận đánh căn cứ Sư đoàn 22 Ngụy ở Tân Cảnh tháng 4/1972 mà lúc đó ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 ( đơn vị chủ công đánh căn cứ Sư đoàn 22 ) . Căn cứ Sư đoàn 22 Ngụy là cụm cứ điểm lớn nhất của địch tại Bắc Kon Tum lúc bấy giờ . Tại đây địch có Sở chỉ huy Sư đoàn 22 , Sở chỉ huy Trung đoàn 42 , Sở chỉ huy Trung đoàn thiết giáp 14 , khu cố vấn Mỹ . Một tiểu đoàn xe tăng M41 , một tiểu đoàn pháo binh . Căn cứ này được chúng phòng thủ rất vững chắc , nhiều lớp rào kẽm gai bao quanh , nhiều hầm ngầm , công sự chằng chịt . Riêng lực lượng phòng thủ ở đây khoảng 1500 tên . Địch tính toán nếu đánh được căn cứ này ta phải dùng tới 3 Sư đoàn . Thế mà trực tiếp đánh vào căn cứ này hôm đó chỉ có Trung đoàn 66 cùng tiểu đoàn 37 đặc công , 9 xe tăng của Trung đoàn 273 , một đại đội pháo phòng không tự hành 57 ly 3 khẩu , 1 đại đội hỏa tiễn chống tăng B72 . Sau 2 ngày đêm chiến đấu Trung đoàn 66 của ông đã làm chủ hoàn toàn căn cứ này . Tên Đại tá Sư trưởng Sư đoàn 22 - Lê Đức Đạt và tên Đại tá cố vấn Mỹ bị bắn chết . Bắt 426 tên , trong đó có tên Sư đoàn phó Vi Văn Bình . Thu 20 pháo 105 và 155 ly , 9 xe tăng , 100 xe ô tô , hàng vạn quả đạn pháo , bắn rơi 14 máy bay . Đây là trận thắng lớn nhất của bộ đội Tây Nguyên đến thời điểm đó . Mở ra một vùng giải phóng dài tới 80 km , từ Võ Định tới Play Cần . Tôi có hỏi ông . Tại sao chỉ có Trung đoàn 66 và tiểu đoàn 37 đặc công đánh căn cứ lớn như căn cứ 42 , tầm cỡ cấp Sư đoàn lại thắng lợi giòn giã vậy ? Ông bảo : Ngoài việc dùng mưu và kế để tiêu diệt địch thì phải giải quyết được 3 vấn đề :
1/ CHỌN HƯỚNG ĐỘT PHÁ : Nếu người chỉ huy không bò vào tận nơi trinh sát địa hình thì sẽ không phát hiện được hướng nào địch phòng thủ mạnh , hướng nào phòng thủ yếu . Sau khi vào tận nơi quan sát tôi phát hiện hướng Bắc và Táy Bắc địch phòng thủ yếu . Tôi quyết định dùng Tiểu đoàn 8 cùng xe tăng đột kích vào hướng này . Đây là phía đau Sở chỉ huy Sư đoàn 22 nên chúng chủ quan cho rằng ta không thể tấn công từ hướng này . Do vậy khi thấy bộ binh và xe tăng ta xuất hiện từ phía sau chúng rất bất ngờ , vô cùng hoảng loạn .
2/ VIỆC TỔ CHỨC BẮN PHÁO : Việc tổ chức cho pháo bắn để đạt hiệu quả cao nhất cũng phải tính toán , cân nhắc rất kỹ . Ở Căn cứ Sư đoàn 22 , buổi tối bọn chỉ huy của chúng thường ngủ ở chỗ khác , không ngủ ở Sở chỉ huy . Nên khi bắn pháo vào đây lúc đầu tôi chỉ đạo chưa bắn vào Sở chỉ huy mà bắn vừa phải vào khu vực xung quanh , để bọn chỉ huy ngủ ở nơi khác rút về Sở chỉ huy , sau đó mới ra lệnh cho pháo binh bắn cấp tập vào Sở chỉ huy , để tiêu diệt chúng , làm cho chúng mất chỉ huy ngay từ đầu .
3/ VIỆC TỔ CHỨC ĐƯA XE TĂNG VÀO VỊ TRÍ CHIẾN ĐẤU . Đây là một việc rất khó khăn vì địa hình xung quanh Đắc Tô - Tân Cảnh nhiều đồi núi , sông suối . Lại phải qua nhiều vị trí của địch . Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã phải làm đường vượt núi phía Đông dãy Ngọc Tụ để đưa xe tăng vào . Đường thì xa , lại hoàn toàn mới mở , có chỗ chỉ đánh dấu nên phải bố trí trinh sát , công binh ở từng vị trí dẫn lối xe tăng để xe tăng không bị lạc . Rồi chọn thời điểm lúc pháo binh bắn tổ chức cho xe tăng tiếp cận . Xe tăng của ta đêm hôm đó có hướng vào cách vị trí cửa mở 200 mà địch hoàn toàn không biết gì . Vì vậy lực lượng của ta trực tiếp đánh vào đây chỉ bằng 1/3 của địch mà ta vẫn giành thắng lợi .
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh trên cương vị Sư đoàn phó , ông đã cùng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 chỉ huy đánh chiếm 2 mục tiêu quân sự quan trọng nhất của địch tại Sài Gòn là Bộ Tổng Tham mưu và sân bay Tân Sơn Nhất , góp phần quan trọng vào giải phóng Sài Gòn , thống nhất Đất nước . Ông kể tiếp cho tôi nghe một loạt các trận đánh nữa do ông chỉ huy đánh quân Pôn Pốt ở biên giới Việt Nam - CPC mà lúc đó ông là Sư trưởng . Khi quân Pôn Pốt tràn sang tấn công vào biên giới của ta ở Tây Ninh tháng 10/1977 . Sư đoàn 10 của ông lúc này đang ở Tây Nguyên thì được lệnh cơ động gấp về Tây Ninh tham gia chiến đấu . Đối diện với Sư đoàn 10 lúc này là Sư đoàn 4 cùng 3 tiểu đoàn địa phương quân của quân Pôn Pốt . Để tiêu diệt quân địch sang phá hoại biên giới ở Tân Biên - Tây Ninh trả thù cho đồng bào ta bị địch sát hại . Sư đoàn quyết định tổ chức chiến dịch mang mật danh Đ8 . Trong chiến dịch này ông đã táo bạo tổ chức , đưa cả Trung đoàn 66 vu hồi đánh vào sườn quân địch ở Phum Rau . Rồi đưa Trung đoàn 64 di chuyển lên phía Tây bao vây , chặn địch từ phía sau . Trung đoàn 28 đánh theo trục đường 22 rồi đánh thẳng vào Trung tâm chỉ huy của chúng ở bản Phờ Loong . Địch hoàn toàn bất ngờ trước cách đánh của ông , tháo chạy toán loạn . Chỉ trong một ngày chiến đấu , Sư đoàn do ông chỉ huy đã đập tan phòng tuyến quân địch . Diệt hơn 400 tên địch , thu gần 1000 súng các loại . Rồi đến chiến dịch Đ7 bắt đầu từ ngày 22/12/1977 , Sư đoàn 10 cũng tổ chức cho Trung đoàn 66 luồn sâu đánh thọc sườn vào phòng tuyến của địch ở đường 7 , Trung đoàn 28 đánh thọc sườn bên trái đường 7 . Trung đoàn 24 cùng xe tăng đánh thẳng theo trục đường 7 .Bằng cách đánh táo bạo này Sư 10 do ông chỉ huy đã nhanh chóng phá vỡ phòng tuyến quân khu Đông Bắc của địch trên trục đường 7 , tiếp tục phát triển tiến công vào hậu phương của chúng sâu tới 30km tận Đầm Be . Gây thiệt hại nặng cho Sư đoàn 4 và Sư đoàn 5 của chúng . Sư đoàn đã diệt 1274 tên , bắt 64 tên , phá hủy 8 xe tăng , 8 xe quân sự , thu hàng ngàn súng các loại . Sau chiến thắng này quân địch không còn dám đưa quân sang quấy nhiễu ta ở biên giới Tây Ninh .
Mải trò chuyện , chẳng mấy chốc đã tới giờ ăn trưa . Người giúp việc xin phép mời ông đi ăn . Mặc dù đi lại chậm chạp , ông vẫn tiễn tôi ra tận cổng và không quên gửi lời thăm hỏi tới vợ , con tôi . Nhìn vị Tướng già đã bao năm xông pha trận mạc , có lẽ ông là vị Tướng duy nhất của Mặt trận Tây Nguyên trực tiếp tham gia cả 4 cuộc chiến của dân tộc - đánh Pháp , đánh Mỹ , đánh quân Pôn Pốt và đánh quân Trung Quốc nay ở tuổi “ Xưa nay hiếm “ nhưng ông vẫn không quên nghĩa tình đồng đội năm xưa . Thật đáng phục , thật đáng kính trọng . Đúng là một thế hệ Tướng lĩnh mẫu mực . Một thế hệ Tướng lĩnh vàng của Đất nước 


Ảnh: Thiếu tướng Phùng Bá Thường
    

HOA CÚC DẠI CUỐI MÙA

HOA CÚC DẠI CUỐI MÙA

Tháng năm, đầu mùa mưa. Hoa quỳ ở Tây Nguyên bắt đầu tàn lụi. Cả cánh rừng mới hôm nào vàng thăm thẳm bỗng trở thành đôm đốm nâu. Hoa càng tàn thì lá quỳ bỗng trở nên xanh ngăn ngắt, tựa hồ như rừng hoa níu kéo sự sống chờ tới mùa hoa sau. Từ bao đời nay, cúc quỳ cứ tự nhiên sống, tự nhiên sinh sôi. Loài hoa không đòi hỏi chăm bón, vuốt ve.

Ở đâu có rừng đất đỏ ở đó có cúc quỳ, vậy thôi. Tôi đã sống và chiến đấu ở Tây Nguyên, đã gắn bó với những tên Pờ Lây, I A này I A khác và bao đồng đội của tôi cũng vậy. Kí ức về Tây Nguyên luôn có trong lòng tình yêu với loài hoa dại, mang dáng nắng chiều của núi rừng đại ngàn Trường Sơn.

Hơn ba mươi năm sau chiến tranh, tôi mới trở về Tây Nguyên. Chuyến đi này phải mất mười năm hẹn hò, phải dứt ra khỏi những băn khoăn đời sống nhỏ nhoi nặng nề bon chen sao mà khó thế? Nhưng điều công phu nhất mà tôi làm được là đã vận động để cả bà vợ mới nghỉ hưu cùng đi về chiến trường xưa.

Hai ngày chạy xe cật lực, tối ngày 27 tháng tư vợ chồng tôi tới Pờ lây cu. Thành phố Núi mà suốt 4 năm chiến đấu tôi và sư đoàn 320 của tôi chưa tiến được vào tới nơi. Cái thị xã ngày xưa giờ đây hừng hực sức trẻ. Đường phố lên dốc xuống dốc cứ cuốn hút con người khám phá, cứ như thể tôi đi lạc vào một thành phố một đất nước Bắc Âu. Đêm đầu tiên ngủ ở Pờ lây cu, tôi như người mộng du. Giấc ngủ bồng bềnh như nằm võng năm nào.

Phía tây thành phố, chỉ cách đây một tầm pháo là cánh rừng mà tôi đã gửi lại trọn đời trai trẻ, và bao bạn tôi gửi lại cả thân thể mình. Đêm khuya, đứng ngoài ban công nhà khách binh đoàn Tây Nguyên nhìn về hướng Đức Cơ cứ thấy nghẹn ngào, thoảng đâu đây như có mùi vị quen thuộc lắm. Chợt nhận ra hương hoa Dã Quỳ ngoài hàng rào nhà khách, ngai ngái hăng hắc, hương hoa giống như vị cà phê đắng, hoà vào đêm, thứ hương vị không tan mà cứ như rắc bột vào kí ức con người.

Sáng sớm. Người bạn chiến đấu năm xưa, nay là cán bộ Binh đoàn Tây Nguyên đón tôi đi ăn sáng rồi cho tôi mượn chiếc địa bàn, tấm bản đồ địa, chai nước, áo mưa, tăng võng như người ra trận theo vợ chồng tôi lên xe, bạn tôi bảo: “Ngày xưa mày giỏi đi bản đồ thì bây giờ trổ tài mà khoe với mụ vợ già nhé”.

Trong lúc xe chạy xuôi hướng nam, vợ tôi còn đang tấm tắc khen đồ ăn tự chọn của “Hoàng Anh Gia Lai” thì chợt tôi nhận ra ngọn Hàm Rồng. Vậy là điểm đầu tiên: lên đỉnh Hàm Rồng. Ngọn núi này là nỗi ám ảnh của chúng tôi về những trận pháo tăng tốc ngày nào. Tôi nhớ thằng bạn sinh viên cùng khoa tên là Lương Lợi đã “ăn” pháo Hàm Rồng mà hy sinh, giờ đây không biết nó nằm ở đâu.

Ngọn núi là một rừng thông non. Thông xanh chen với cỏ Mỹ. Loài cỏ bông trắng như lau, nhìn ngoài vào thì kín, mà nhìn trong ra thì quang. Văn hóa Mỹ lan ra đến cả cây cỏ dại là thế. Bây giờ ngọn Hàm Rồng loang lổ xanh, bàng bạc và đôm đốm vàng. Rừng cúc dại ở đây còn loang loáng hoa vàng lẫn trong lau sậy. Xe tôi leo lên đỉnh núi. Dưới kia là thành phố. Mây trắng bông trên những cánh rừng cao su cà phê. Con đường cong, triền núi cong, cánh rừng cà phê xanh cũng cong, những đường cong nở nang chỉ có ở cao nguyên.

Ngày xưa nào tôi có thấy cao nguyên này đẹp thế. Kia là ngọn Chưkrôngkrang, kia là ngọn Chưgara, cao điểm 784, đồn Tầm, chốt Mỹ. Con đường đỏ như son chạy qua Thanh Bình, Thanh An rõ như trong lòng bàn tay. Khoảng rừng màu xanh dưới kia, đứng đây nhìn gọn gàng xinh xắn mà sư đoàn tôi từng lăn lộn bao năm giành đi giành lại. Máu của đồng đội tôi thấm trên từng ô bản đồ, từng tấc đất bây giờ ngun ngút xanh tươi cây trái.

Chiến trường Tây Nguyên nổi tiếng sốt rét và đói. Cả sư đoàn gan góc lật đi lật lại từ nam sang bắc đường 19, lăn lóc sống bằng củ mì, bằng rau rừng bám dân đánh địch, mà làm nên chiến thắng Đức Cơ, Phượng Hoàng, Lệ Minh, Lệ Ngọc.Trước mắt tôi con đường 19 kéo dài thân thương nhường nào. Ở đó, trung đoàn 64 của tôi đã để lại bốn trăm trai trẻ trong bốn năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Từ ngã ba đường 14 dưới chân Hàm Rồng, xe chúng tôi qua Bàu Cạn. Một màu xanh ngàn ngạt của chè. Đây rồi, cái địa danh mà ngày xưa lính trinh sát rất thích được mò tới, để được gặp người Kinh, để quơ vội nắm chè xanh mang về ca cóng. Cái đồn điền Pháp này có từ lâu lăm rồi. Bây giờ đã thành nông trường chè nổi tiếng của cả nước.

Ngày ấy, người chủ Pháp ở đây chẳng rõ vì sợ hay không muốn phiền hà mà mỗi khi phát hiện ra dấu chân lính trinh sát 320 là sai người xoá ngay và không bao giờ báo cho tụi lính cộng hoà biết. Nhấp nhô những cái nón trắng xoá của các cô hái chè trên một thảm xanh, triền miên hút mắt. Trong miên man chè xanh ấy, không biết Hà “y khoa” nằm đâu, đại đội trưởng Hải của C20 nằm đâu, và bao người bạn tôi nằm đâu dưới bát ngát hương chè này. Biết bao liệt sĩ giải phóng được công nhân chè Bàu Cạn chôn cất che chở bấy nay.

Xe chạy theo hướng Tây, qua Bàu cạn nhìn sang bên phải, dãy Chư grônrang, Chưgara lở lói nhưng vẫn sừng sững như ngày nào. Tôi vẫn đọc ra những cao điểm mà mấy năm liền tiểu đoàn 8 trung đoàn 64 chấn giữ. Ngọn 784 còn đó, thi thể những người bạn tôi trên hang đá, trên ngọn suối đã về tập hợp dưới thị xã kia chưa. Từ đồn Tầm, trải dài những vạt cà phê sang bắc đường vẫn le lói hoa cúc quỳ.

Thị trấn Thanh Bình, Thanh An, nay dàn dạt những dẫy nhà và hàng quán, biển hiệu bằng tiếng Anh sành điệu, lịch lãm, thanh bình như không hề qua một ngày chiến tranh. Những nam thanh nữ tú và những thực khách trong các nhà hàng kia nào có thể nghĩ rằng nơi này vào ngày 27/1/1973 hàng trăm chiến sĩ ngã xuống ngay giờ phút ngừng bắn, trước giao thừa năm ấy. Con đường 19 ngày xưa gan góc đầy những sự tích anh hùng bây giờ đẹp như đường cao tốc ngoài bắc. Vẫn những dặng mít, xoài và cây Sabuchiê sai lúc lỉu ven đường. Khúc quanh dốc lên đồn Tầm tìm mãi không thấy. Chiến tranh lùi xa quá rồi, còn kí ức về chiến tranh thì vẫn tươi nguyên, nhớ thương đến mỏi mòn trong lòng người lính.

Từ Thanh Bình, xe rẽ về phía nam đường 19. Chúng tôi đang đi về hướng làng DITROONG, DITFANG. Đây chính là vùng giáp gianh giữa ta và địch những năm sau hiệp định Pari. Nơi này tiểu đoàn 7 của chúng tôi suốt 3 năm liền chốt giữ.

Họ vừa trồng sắn, trỉa lúa, nuôi lợn, tự túc lương thực, vừa đánh giặc lấn chiếm, lại vừa giúp đồng bào tăng gia, lập làng chiến đấu. Chúng tôi có các tổ công tác ở cùng dân, cùng làm rẫy, cùng ăn cùng đánh giặc. Bộ đội và dân thương nhau “như đồng bào thương con chó con” vậy.

Các cô gái Tây Nguyên bảo rằng: bộ đội vất vả như đuôi con heo, mình thương chớ. Cách mạng là bằng nhau cả mà. Bây giờ tôi để ý tìm mà chả thấy một cô gái nào ăn vận như ngày xưa, cái ngày nhìn các cô ở trần tắm suối đến nao lòng lính trẻ. Chúng tôi đi về trận địa cũ mà xe cứ miên man chạy trong rừng cà phê, cao su mươn mướt.

Tìm đâu thấy những làng cũ người Bình Định, Quy Nhơn ngày xưa kẹt lại vì đạn bom. Ngày ấy, lính 64 chúng tôi mỗi lần qua làng DIT chỉ muốn nán lại ngắm các cô gái người Bình Định mặc đồ dân tộc làm rẫy. Có cái gì đó khó nói lắm. Vì họ là người của phía địch, nhưng sao con mắt họ chẳng xa lạ mà lại thân tình đến thế. Họ không lập làng riêng mà ở lại cùng đồng bào dân tộc.

Bộ quần áo được thay bằng váy khố như người Giarai, Ê đê, lầm lũi cặm cụi làm nương làm rẫy. Nỗi buồn vì nhớ chồng, chia lìa quê hương nặng trĩu trong con mắt họ. Có điều lạ, họ không kết hôn trong những ngày li tán, họ tin rằng rồi có ngày họ lại trở về quê hương với gia đình họ, với chồng vợ của họ. Điều này thì có lẽ họ sáng suốt hơn cả những người lính trong cuộc như chúng tôi. Hồi ấy chúng tôi được lưu ý rằng phải đề phòng những ngôi làng như vậy. Tôi ngoái sang vợ và… nhớ về bài thơ “Nương chiều” viết từ hồi 1973

….Trách sao chỉ một con đường

Để sang đây, để vấn vương nương chiều.

Dạo đó tôi sợ lắm vì chuyện viết bài thơ hữu khuynh này.

Dấu tích nhà Hoà Hợp cũng không còn. Sau tháng 1 năm 1973, các đơn vị ta và địch đối mặt trên chiến tuyến cùng chung sức lập ra Nhà Hoà hợp để hai bên gặp nhau, để cùng hợp tác thực hiện hiệp định. Chả biết cấp trên lo lắng ra sao chứ lính hai bên gặp nhau là chỉ kể chuyện về quê hương, cha mẹ vợ con. Ai chả thế, chả nhớ mẹ cha và vợ con. Có những cuộc gặp gỡ lính ta và lính nguỵ còn hát cho nhau nghe những bài dân ca của ba miền. Nhưng rồi nhà Hoà hợp tan vỡ. Cuộc chiến kéo dài tới hai năm sau.

Chiếc xe của quân đoàn thật tuyệt. Cứ chạy trong hàng cao su 10 tuổi, mặc kệ cành cây khô, đụn mối. Chỉ thương vợ tôi, gái Hà Nội lần đầu đi chiến trường với chồng mà chưa từng được tập luyện ngày nào. Chú lái xe hoan hỉ: Các anh thấy mát mắt chưa? Chả tìm đâu ra những thứ các anh kể đâu. Dân làng ra ven lộ 19 cả rồi. Những huyện 4 huyện 5 … bây giờ thành những Đức Cơ, Chưpả … rừng rú thành những lô cao su cà phê, to tiền lắm.Nhưng mà kì công, gian nan đến tận bây giờ anh ạ. Anh em tăng gia, chịu thương chịu khó lắm, vẫn thiếu thốn và sốt rét đấy. Được như bây giờ là công của Sư trưởng Xuân Hùng lớn lắm.

Ngày ấy các anh ấy lăn lộn hàng tháng ở đây, nào rừng rậm, bom mìn chông bẫy và đủ các thứ dịch bệnh. Thầy trò dẫn quân đi khai phá cứ đè lên gai góc mà đi, hàng tháng trời sư trưởng, sư phó mắc võng tại hiện trường kém gì hồi các anh ở kiềng Nhà Lá. Nhắc tới kiềng Nhà Lá, Tôi giở bản đồ. Ô, đâu còn xa, chỉ vài cây số nữa thôi. Nhưng chú lái xe bảo rằng, anh ơi, anh chỉ có thể ngắm cà phê thôi. Làng bản tập trung theo phân vùng kinh tế rồi. Cả cánh rừng khu tăng gia trồng cây, nuôi bò bây giờ cũng chính là một vùng chiến địa khi xưa của sư đoàn.

Lãnh đạo sư đoàn hẳn là muốn mỗi người lính giờ đây phải sống có ý nghĩa trên mảnh đất mà máu của cha anh mình đổ xuống cho màu xanh của cà phê, cây trái vươn lên nên mới chọn đất này làm khu tăng gia sản xuất. Trong những ngày làm nương rẫy, họ vẫn gặp những dấu tích của đơn vị mình khi xưa, vẫn thấy những bộ hài cốt, những kỉ vật còn mang dấu tích người lính Đồng Bằng. Họ gặp lại đồng đội, những tên làng, tên người yêu trên vỏ bi đông, trên chiếc hăng gô méo mó .

Tất cả chỉ còn lại có thế, còn thân xác chiến sĩ thì đã hoà vào màu đất Ba zan. Giọng chùng xuống, chú lái xe khe khẽ, có những lúc bổ hố cao su, gặp hài cốt. Sư trưởng Hùng, tham mưu Hoan lúc thì lặng lẽ, lúc lại thì thầm với nhau, rồi các ông ấy khóc, bỏ cơm, những lúc ấy chúng em buồn theo mấy buổi. Tôi lặng lẽ nhìn ra rừng cao su rợp mát, tưởng như đâu đây cả đại đội tôi, cả trung đoàn tôi trở về xếp hàng. Một rừng trai trẻ và bát ngát tiếng cười..

Cho xe dừng ở Thánh Giáo, nhìn ngước lên bắc đường nhớ làng Lú, Kiềng C24, nhớ đồi Mắt ngỗng, xa tít tắp là thao trường làng Á. Xoay lưng ngó về hướng nam đường nhớ làng Ngo Le, xuôi đằng tây nhớ bản Lung Bang, Lung Ấ, cao điểm 428 với trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến, Phạm Quang Bào, chính uỷ Đinh Thế Mỹ… Bây giờ các chỉ huy của chúng tôi ở đâu, có còn mạnh khỏe không? Bâng khuâng giở bản đồ giữa đường, hoá ra mình đang đứng ở trận địa Chi Bồ.

Tôi phải xuống xe ở đây để cố tìm toạ độ mà lính E64 vượt qua đường mỗi khi từ bắc đường sang nam đường hay ngược lại. Ngọn đồi cao phía nam Thánh Giáo là trận địa của đại đội pháo cao xạ đoàn 593. Một lần qua đây, thấy trên đỉnh đồi cây cối xanh tốt và lại có cả chuối tây nữa, tôi hỏi sao ở đây chuối nhiều vậy không lấy mà ca cóng. Nhũng người lính pháo bảo, để kệ họ. Sao lại kệ họ, họ là ai? Thì ra trên đỉnh đồi này rất nhiều người tử trận của cả ta và địch vào những ngày cuối năm 72. Lính nguỵ đã ủi tất cả xuống hố pháo đỉnh đồi rồi rút chạy. Chỗ ấy cây cối xanh tốt lạ thường. Bây giờ họ về đâu? Nằm đâu? Những nấm mồ vô danh nơi này và các vùng quê khác đâu chỉ riêng quân giải phóng?

Không thể quay về làng Ngolê, vì hai lí do: làng đã rời đi nơi khác và tên cũ cũng chẳng ai còn gọi nữa. Có thể nó được đổi thành Tân Tiến, hay Đồng Tiến gì đó cũng nên. Nhưng trong lòng chúng tôi, tên làng bản cũ vẫn thiêng liêng làm sao. Dân bản bây giờ không hút thuốc lá trồng trên nương ngày xưa mà họ hút thuốc đầu lọc. Những bộ áo váy nửa người Kinh nửa người dân tộc trông ngang ngang làm sao. Tìm đâu bây giờ một ngôi nhà rông lợp lá trung quân, cài bằng nan lồ ô dẻo quánh. Tìm đâu dáng em vịn tay đi nghiêng cầu thang ba bậc lên nhà sàn. Làng bản ra đường lớn rồi.

Để lại sau lưng xa ngái những mùa hoa Pơ lang ướp đỏ tháng ba, bỏ lại những thân tượng nhà mồ ngô nghê mà lại thâm trầm lưng chừng dốc cũ. Ba mươi năm sau, tôi vẫn chưa hiểu nổi tại sao những ngôi làng Tây Nguyên chỉ ở lưng chừng dốc, tại sao cổng làng bao giờ cũng là những cây muỗm cổ thụ, những cây Pơ lang cao vút, tại sao đi vào làng là sẽ phải qua nhà mồ. Xa lắm rồi, tiếng đàn goong bên bờ suối, bản sắc người Tây Nguyên cứ lơ lớ giống người dân tộc nói chung rồi sao. Tôi buồn, hay là tôi lạc hậu nhỉ các bạn chiến đấu của tôi?

Chiều hôm ấy, theo chân những đồng đội ở quân đoàn, chúng tôi vào thăm nhà tưởng niệm sư đoàn. Một vùng cây trái đẹp nổi tiếng của thành phố Pơlâycu, ngằn ngặt những cỏ và hoa. Đã qua mấy chục năm im tiếng súng, trên mọi miền quê, mọi nẻo đường đi qua, có biết bao nhà tưởng niệm liệt sĩ. Trang nghiêm, đẹp đẽ. Và bao giờ cũng vậy, nhà tưởng niệm nào cũng ở vị trí tốt nhất cho những linh hồn người nằm xuống còn mãi với đời sau.

Mái nhà cong vút lên như hình dáng ngôi đình miền bắc bộ. Trầm mặc, bề thế những hàng cột như chôn chặt với thời gian. Đây, điểm hội quân cuối cùng của sư đoàn tôi. Thắp nén hương trong ngôi nhà bốn bề tường đá khắc tới gần mười bốn ngàn liệt sĩ của sư đoàn. Trong rưng rức khói hương và nghẹn ngào, tưởng như trùng trùng điệp điệp các anh về, ồn ào cười nói trẻ trung. Tưởng như thấy lại hàng vạn cuộc chia li hẹn hò mấy chục năm về trước.

Về đây với các anh, bỗng sống dậy ngày xuất quân mỗi mùa chiến dịch. Mỗi sư đoàn tạc vào núi sông một đội hình như một khu công nghiệp lớn bây giờ. Biết bao nhiêu khu công nghiệp, khu đô thị ngày nay là hoá thân của những ngôi nhà tưởng niệm như thế. Bỗng nhận ra những cái tên mà hơn ba mươi năm nay mới gọi nên lời.

Vào đây bỗng chợt nhận ra lỗi lầm của mình thủa còn sống với các anh. Vào đây để đứng trước những thủ trưởng đã từng yêu thương mình và những người dám nhận phần hi sinh cho mình còn sống. Về đây gặp các anh mới lại thêm yêu tuổi trẻ của mình, yêu những bạn chiến sĩ trẻ măng, trẻ trung cả trong phút hi sinh, chợt nhận ra mình còn nợ nhiều với đồng đội, với cuộc đời.

Dẫu ngôi nhà tưởng niệm nào cũng còn thiếu thốn nhiều thứ. Nhưng tôi chỉ sợ trên bức tường kia nếu còn bỏ sót tên ai. Xương thịt dẫu hoá thành đất đai, sông núi, nhưng thiếu tên thì tủi lắm. Dù biết rằng hương khói vẫn chia khắp tới các anh. Chúng tôi mong, ngoài sân kia có thêm hàng cau giàn trầu, để bóng mẹ già mãi theo các anh và các anh vẫn bẻ cau hái trầu cho mẹ. Và... luỹ tre xanh vẫn thường bao bọc mỗi làng quê bắc bộ chùm mát ngôi nhà này, ngôi nhà nhìn về hướng bắc của đồng đội tôi.
*
* *
Sáng hôm sau chúng tôi đi Cheoreo.

Nắng tuyệt đẹp. Xe qua ngã ba Chư Sê rẽ về phía đông. Một vùng hồ tiêu khiến đất trời xanh tím lại. Thị trấn giàu có của cao nguyên này quyến rũ như gái vùng cao hầm hập sự sống. Tôi bâng khuâng nhớ những đứa bạn tôi ở trung đoàn 9 nằm lại đây những ngày đầu chiến dịch 75.

Đèo Chư Sê vẫn mênh mang gió như ngày nào. Đứng trên đỉnh đèo nhìn về phía đông, là thung lũng Cheoreo, ở đấy, trung đoàn “Dũng cảm đánh hăng” chiến đấu một trận để đời mà mãi sau này sử sách không quên, trận đánh phá tan một quân đoàn nguỵ rút chạy. Và rồi từ trận đánh này quân lực VNCH của tổng thống Thiệu không còn gượng nổi để tan rã hoàn toàn.

Càng gần tới thị xã Cheoreo tôi càng bồi hồi. Con đường rẽ về Adunhạ chen giữa cánh đồng lúa nước ba vụ đẹp như lối vào trang trại, hay một làng sinh thái nào đó ngoài bắc. Tôi nhoài hẳn ra cửa xe ngước lên ngọn Chưpa hiểm trở xám ngắt. Đêm 17/3/75 tiểu đoàn tôi chèo tắt qua núi, chạy bộ suốt 8 cây số để kịp chặn đánh địch đang cụm lại trong thị xã. Chỉ lo không đến kịp, cả cán bộ và chiến sĩ như lửa đốt trong người khi nghe tiểu đoàn 9 đã bắn cháy nhiều xe tăng trên đường 7.

Từ trên núi nhìn xuống thị xã lửa đỏ rực trời. Cả một khối lửa di động, hỗn loạn. Đây rồi, xe chạy chậm lại và dừng ngay trên đầu cầu Cây Sung. Nắng ở đây vẫn như tháng ba năm ấy. Thưa thớt vài ngôi nhà vắng người, cây cầu dẫn con đường số 7 chạy tới đèo Tu Na, ra biển Tuy Hoà. Đầu cầu phía bắc là trận địa của đại đội tôi khi xưa.

Hai cây me vẫn còn đó, một ngôi nhà vắng hoe, nó mọc lên ở chỗ tôi nằm bắn ra đường. Tôi cứ như người bị thôi miên, lững thững đi xuống suối. Tôi cứ như đang nhìn thấy những người bị thương cố bò xuống uống nước năm nào. Cây cầu đổ gục và hàng đống xe tăng, xe bọc thép, ô tô đè lên nhau. Phía sau tôi là cánh rừng thưa suối đá cạn khô, chỉ có cây khộp và cỏ dại. Ở đấy hàng chục ngàn người dân tỵ nạn và tù binh được bộ đội tập trung lại cho họ uống nước, nấu ăn.

Ở cánh rừng ấy lính 64 đỡ đẻ cho dân, chữa bệnh và làm đủ mọi thứ việc mà nghĩ lại vẫn thấy sao mà hồi ấy mình giỏi thế. Tôi đặt chân lên thảm cát vàng mùa nước cạn. Giống hệt như ngày 18/3 năm ấy, người người bồng bế nhau chạy theo cả một quân đoàn thất trận. Và rồi chiến tranh để lại những vết sẹo trong chúng tôi và cả những lúc tưởng như vui vẻ nhất vẫn mân mẩn ngứa.

Trong cánh rừng kia, ít nhất trong 2 ngày 18 và 19/3 có đến chục ca đỡ đẻ của đại đội 24 quân y. “Các quý ông giải phóng” giỏi quá... Những người già trong cơn hoảng loạn rối rít cảm ơn mấy chú y tá. Mấy chú chỉ đun nước suối, mài dao găm mà... Mẹ tròn con vuông mới lạ. Những đứa trẻ ra đời ngày ấy bây giờ ở đâu, họ đã trưởng thành và đang là những công dân có ích cho công cuộc đổi mới đất nước mình. Có ai gọi họ là những Người tháng 3 đường 7 hay không nhỉ?

Tôi không thể đi tiếp về phía Củng Sơn, Phú Túc, Tuy Hòa. Con đường số 7 mà trung đoàn 64 đuổi địch năm 75 thật sự là con đường hãi hùng. Giá như kẻ địch không cưỡng ép dân chúng bỏ Kôn Tum, bỏ Pơlâycu mà chạy... Giá như chúng tôi có thể ngăn được dân chúng trước trận trận đánh cheoreo, thì con đường 7 là một trận đánh thắng trọn vẹn tuyệt vời.

Chúng tôi trở lại thị xã Cheoreo. Nắng vàng ong ong khu tưởng niệm liêt sĩ. Vắng vẻ. Bia tưởng niệm lặng lẽ, giản dị, bình thản nhìn ra đường. Xe cộ, người qua lại cũng bình thản nhìn chúng tôi. 89 người có tên và 35 người chưa thấy tên tuổi của sư đoàn 320 hi sinh trong trận chiến đấu tại thị xã Cheoreo ngày ấy.

Bó hương rừng rực cháy trên tay mà nước mắt nhoè đi trong nắng. Hầu như tôi quen gần hết những cái tên trên tấm bia này. Tôi khóc, vợ tôi cũng khóc. Muộn màng quá thể về chuyến thăm bè bạn này. Thưa các bạn, tha lỗi cho những người còn sống như tôi, cuộc đời bộn bề quá, bao nhiêu việc phải lo, phải làm. Cái lí của người còn sống là vậy các bạn ạ.

Phía ngoài cổng nhà tưởng niệm, vài người đàn ông đứng chờ chúng tôi. Đó là những cựu binh trung đoàn 64 nghe tin tôi từ Hà Nội vào đã tụ tập đón chúng tôi về nhà. Đại úy Thành người Thanh Hóa, đại uý Trung người Thái Bình, thiếu tá Hải người Thái Nguyên. Tất cả họ, lần đầu tiên tôi được gặp, vậy mà như người trong nhà đi xa trở về.

Chúng tôi nói chuyện trong bâng khuâng nước mắt về chiến tranh về cuộc sống và tràn trề hi vọng vào những đứa con của mình. Thế hệ con cái lính 320 nay đang học hành đỗ đạt đây đó. Chúng tôi lùi về phía sau để nhìn đội hình mới hành quân. Rưng rưng tự hào vì có dáng hình của mình trong đó, của ba mươi năm về trước, của đội hình người lính Đại đoàn Đồng Bằng anh hùng.

Lên xe rồi, còn nhận được điện thoại của một phụ nữ ở tận đèo Hocpờtó trên đường vào thị trấn Iapa. Rằng biết các anh lính 64 vào thăm, nhà làm cơm đợi, mời các anh vào. Các bạn tôi bảo đó là chị Cánh, người phụ nữ giỏi giang và yêu quí sư đoàn Đồng Bằng lắm. Không thể vào trong ấy với chị, mong gia đình thông cảm.

Chúng tôi hiểu ra máu của bạn bè tôi đổ xuống thung lũng này để có tình cảm của những người dân dù xa xôi hẻo lánh vẫn còn nguyên vẹn, thuỷ chung tốt lành. Mai tôi về. Còn đêm nay ngủ lại với cao nguyên. Nơi nhà khách binh đoàn kề bên nghĩa trang liệt sĩ Gia Lai. Đồng đội tôi đều xếp hàng nhìn về hướng nam. Tất cả các anh không kịp đi tới Sài Gòn ngày chiến thắng như tôi. Niềm mong mỏi ấy của các anh đau đáu cho tới khi nằm lại mảnh đất này.

Phía trước nơi các anh nằm, một doanh nghiệp trẻ của tỉnh vừa khởi công xây dựng một bệnh viện thật lớn. Rồi, những người dân từ các bản Lung Bang, Lung Ấp, từ làng Dit, làng Lú, làng Ngo Lê… sẽ có nơi chữa bệnh, dân bản chẳng còn lo con ma làm bệnh nữa. Hơn ba mươi năm trôi qua, Tây Nguyên ngày nay không còn là chiến trường mà đã trở thành một vùng kinh tế chiến lược của đất nước.

Là gì thì là, Tây Nguyên vẫn mãi trong tôi với đất đỏ và hoa cúc quì vàng rực mỗi bình minh. Nghĩ đến lúc từ biệt nơi này, nơi in dấu một thời trai trẻ của tôi mà thấy nao lòng, mắt nhoè đi. Lên đỉnh đèo Chưsê ngoái lại, thung lũng xanh như khói, nắng vẫn giót tiếng ve vào không trung, tít tắp là màu xanh và lốm đốm những bông hoa quỳ dại cuối mùa.

                                                                                                  NGUYỄN TRỌNG LUÂN
                                                                                                         Hà Nội 14/5/2008

Tác giả đưa vợ về thăm Tây Nguyên dưới chân núi Hàm Rồng

    

KON TUM THƯƠNG NHỚ

KON TUM THƯƠNG NHỚ 
Nguyễn Đình Thi - E24

Hẹn hò trở lại Tây Nguyên nhưng rồi cứ lấn bấn công việc mãi tới hôm nay tôi , Phong - Cục phó Cục thuế Yên Bái , bác sỹ Cao Độc Lập - Phó Giám đốc Bệnh viện tư nhân Hồng Ngọc và anh Lê Đức Phóng - Vụ trưởng Bộ Tài chính mới dứt việc ra đi được . Cũng như bao người lính chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên , việc trở lại thăm Tây Nguyên là một điều chắc ai cũng từng mong ước . Với tôi cũng vậy . Không hiểu sao tôi đã đi nhiều nơi trên mảnh đất hình chữ S và một số nơi trên thế giới , nhưng lần đi Tây Nguyên này tôi có một cảm xúc thật khác lạ . Nó giống cảm xúc của một người con xa quê lâu lắm rồi , mong được trở về quê . Nhớ năm ấy , đầu năm 1972 , chúng tôi đến Tây Nguyên , ai trong số mấy anh em chúng tôi cũng còn trai trẻ , thế mà hôm nay trở lại , nhìn ai tóc cũng pha sương cả rồi . Đời người kể cũng nhanh thật , ngoảnh đi , ngoảnh lại loáng một cái mà đã gần bốn chục năm .
9 giờ , máy bay chở chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Buôn Ma Thuột . Tôi nhận ra Tây Nguyên đầu tiên là khi máy bay đỗ xuống sân bay . Trời trong xanh cao vút . Gió lồng lộng thổi . Không khí mát mẻ , thật dễ chịu . Khác hẳn với thời tiết sáng nay chúng tôi ở Hà Nội , vừa lạnh , vừa mưa lép nhép do gió mùa đông Bắc tràn về . Có lẽ ở đất nước mình chả có nơi nào có cái nắng , cái gió lại dễ chịu như ở đây - Buôn Ma Thuột .
Anh Ngô Duy Chuyên - bạn tôi , đón chúng tôi ở ngay cửa nhà ga sân bay . Tôi không ngờ sân bay Buôn Ma Thuột giờ vừa đẹp , vừa rộng đến thế . Ngày trước sân bay này chủ yếu phục vụ cho quân sự , chỉ lèo tèo có mấy dãy nhà thế mà giờ đã trở thành nhà ga Quốc tế . Do đời sống người dân ở đây giờ khá giả nên việc đi lại bằng máy bay , kể cả với bà con dân tộc cũng hết sức bình thường . Sân bay luôn nhộn nhịp khách đi lại . Trong dòng người đi lại nhộn nhịp kia có ai biết rằng 37 năm trước tại sân bay này đã diễn ra một trận đánh rất khốc liệt , bi thương . Sáng 10/3/75 , sau khi ta chiếm được 2 phần 3 sân bay . Địch từ các hầm ngầm chui lên tổ chức phản kích . Chúng dùng xe bọc thép bịt kín cửa mở . Gần 100 cán bộ , chiến sỹ của Trung đoàn đặc công 198 đã bị thương và hy sinh tại đây . Một số bị địch bắt , có đồng chí bị chúng thiêu sống . 7 ngày , sau khi Buôn Ma Thuột được giải phóng ta mới chiếm được sân bay này .
Rời sân bay , anh Chuyên cho xe đưa chúng tôi dạo quanh thành phố . Tôi không còn nhận ra cái thị xã Buôn Ma Thuột 37 năm trước mình đã chiến đấu ở đây . Rất nhiều nhà cao tầng , khách sạn , nhà hàng mọc lên . Khu sân bay trực thăng thị xã , trước kia là vùng đất trống , rộng mênh mông giờ thành cả một dãy phố lớn , nhà cửa san sát . Gần trưa xe đưa chúng tôi về thăm khu Sở chỉ huy Sư đoàn 23 của quân Ngụy Sài Gòn trước đây , nơi tôi và anh em trong Tiểu đoàn 4 đã chiến đấu trong 2 ngày 10 và 11/3/1975 . Thú thật nếu anh Chuyên không giới thiệu thì tôi hoàn toàn không nhận ra khu Sở chỉ huy Sư đoàn 23 , vì nơi này khác trước quá , không còn một dấu tích gì để lại . Nơi đây giờ là Cơ quan Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đắc Lắc , nhà cửa rất khang trang , đẹp đẽ . Theo đường Mai Hắc Đế chúng tôi đi về khu cửa mở năm xưa . Đường Mai Hắc Đế chính là đường 429 trước đây , giờ đường được mở rộng . Nhà cửa 2 bên đường giờ mọc lên kín mít , không còn những bãi đất trống như năm xưa . Đi trên con đường mà tôi cùng đồng đội tấn công vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 năm nào lòng tôi ngổn ngang bao nhiêu suy nghĩ , bao nhiêu khuôn mặt đồng đội tôi hy sinh trong trận đánh này lại lần lượt hiện lên , anh Trương Quang Oánh - Tiểu đoàn trưởng , anh Dương - đại đội trưởng , anh Tám - Chính trị viên , anh Trịnh Sơn Then - nhạc sỹ , em Hứa Kim Động , em Bùi Đức Chín ... Cũng trên con đường này có một câu chuyện đến giờ tôi vẫn còn day dứt . Sáng 11/3/75 , trong lúc trận chiến giữa ta và địch ở đây đang diễn ra ác liệt , bỗng tôi nghe thấy tiếng trẻ con khóc . Nhìn ra đường 429 , tôi thấy 2 cháu bé gái , một cháu chừng 3 tuổi , một cháu chừng 5 tuổi , vừa chạy , vừa khóc gọi mẹ . Đứa em còn nhỏ quá chạy không nổi , ngã liên tục . Tôi đoán có lẽ lúc chạy tránh đạn mẹ con các cháu lạc nhau . Cũng có thể mẹ các cháu đã chết . Tiếng khóc gọi mẹ của trẻ nhỏ giữa bom đạn nghe thê lương làm sao . Chưa bao giờ trong đời tôi lại chứng kiến cảnh đau lòng đến vậy . Tôi quyết định phải cứu các cháu . Rồi nói nhanh với Tân Khải Thanh - chiến sỹ đi cùng tôi lúc đó :
- Anh bắn yểm trợ , em chạy nhanh ra bế 2 cháu vào đây !
Nói rồi tôi bắn một loạt AK sang phía bên kia đường , Thanh nhào ra , 2 tay ôm 2 cháu chạy vào . Con lớn bị một viên đạn AR15 xuyên lòng bàn tay , con nhỏ cũng bị một viên đạn xuyên qua bắp thịt cánh tay . Băng bó vết thương cho 2 cháu xong , Thanh lấy kẹo cao su ở gùi ra cho mỗi đứa một chiếc . Vừa cho ăn , vừa dỗ . Con chị ăn biết nhả bã , con em nuốt cả . Các cháu ở với chúng tôi 2 ngày tại Sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy . Tối 12/3 , khi chúng tôi đi đánh quân phản kích , tôi đã bàn giao 2 cháu cho đơn vị bạn . Đã 37 năm qua tôi không biết tin tức gì về 2 cháu . Không biết 2 cháu sau này thế nào ? Các cháu có tìm gặp lại được cha mẹ cháu không ?
Ở Sư đoàn 320 được một tối . Sáng hôm sau chúng tôi chia tay các anh trong Bộ Chỉ huy Sư đoàn 320 , về Sư 10 - đơn vị cũ của chúng tôi đang đóng quân ở Kon Tum . Gia Lai và Kon Tum nối nhau bằng đường 14 . Đối với những người lính Tây Nguyên không ai là không nhớ con đường này . Thời chiến tranh đây là con đường máu lửa nhất . Đi trên con đường 14 năm nào lòng tôi bồi hồi bao nhiêu cảm xúc . Đây núi Chư Thoi , Chư Tút địa danh mới nghe tôi đã thấy nao lòng . Ngày mới vào chiến trường Trung đoàn tôi đã chiến đấu đánh cắt giao thông ở đây . Những ngày đánh cắt giao thông năm 1972 thật gian khổ , ác liệt . Bao nhiêu bạn bè tôi vừa vào tới chiến trường đã nằm lại ở đây . Xót xa làm sao !
11 giờ, đoàn chúng tôi đến Sư 10. Chưa kịp cơm nước , chúng tôi đến nhà bia tưởng niệm của Sư đoàn thắp hương . Nhìn những cái tên bạn bè thân thuộc Trịnh Sơn Then , Phạm Đức Thành , Tống Hồng Điệp , Trương Quang Oánh , Nguyễn Văn Nhanh , Nguyễn Đức Kiên ...khắc trên bia đá tôi không sao kìm nổi nước mắt . Các anh khoát ba lô cùng tôi từ Đông Triều - Quảng Ninh vào đây . Bao năm tháng khó khăn , gian khổ luôn có nhau . Ngày toàn thắng tôi trở về các anh thì nằm lại . Nghĩ buồn thương quá . Tại nhà bia tưởng niệm này đã khắc tên tròn 1 vạn cán bộ , chiến sỹ của Sư đoàn hy sinh từ ngày thành lập . Thế là có một Sư đoàn 10 nữa nằm dưới lòng đất . Thế là có 1 vạn bà mẹ , người vợ lính Sư 10 mất con , mất chồng . Thật xót xa ! Chiến tranh là vậy . Dù là bên thắng hay bên thua , nghĩ cho cùng cũng đều thua cả .
13 giờ , cơm nước xong , chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình từ Kon Tum về Đắc Tô . Chúng tôi dừng xe ở đài tưởng niệm 601A để thắp hương cho đồng đội . 601A , 601B là đỉnh điểm đối đầu giữa ta và địch suốt từ tháng 4/1972 đến tận ngày giải phóng . Đứng trên đồi 601A tôi nhìn thấy cả Ngọc Bay , Ngô Trang , 751 , 674 , Đồi Tròn , Trung Nghĩa , Võ Định , Cống 3 lỗ , Bãi Ủi , Kông Trang Cò Lả .... Nơi đây giờ ngút ngàn màu xanh của càfe , chè , thật đẹp . Những năm chiến tranh đứng ở đây nhìn chỉ thấy một màu đất đỏ lòm do bom đạn địch cày xới . Mảnh đất này ngày ấy khốc liệt chẳng khác nào Quảng Trị . Bom chồng lên bom , pháo chồng lên pháo . Nhìn vào nơi nào ở đây tôi cũng thấy máu xương đồng đội .
Dời 601A , xe chúng tôi tiếp tục chạy về Tân Cảnh . Tôi để ý quan sát làng Diên Bình , đây là một ngôi làng nằm cạnh đường 14 , nhưng để ý mãi vẫn không thấy đâu , chỉ thấy mênh mông nước . Hỏi ra mới biết làng Diên Bình xưa , giờ đã chìm trong nước do việc xây dựng thủy điện . Nghe làng Diên Bình giờ chìm trong nước , không còn nữa tôi thấy lòng buồn buồn . Thật tiếc ! Thời chiến tranh , Diên Bình - làng giải phóng duy nhất của tỉnh Kon Tum là người Kinh . Đây là một ngôi làng rất đẹp , bằng phẳng , trải dài theo sông Đak Bla . Làng có rất nhiều cây ăn trái . Những năm chiến tranh lính chúng tôi thường gọi Diên Bình là Thủ đô . Mỗi lần có việc đi ra phía sau , được ghé qua làng Diên Bình là một điều mơ ước với lính . Bởi đến Diên Bình là được nhìn thấy phụ nữ , đấy là khát khao với những người lính ở Tây Nguyên lúc bấy giờ . Đặc biệt là được nghe chất giọng nhè nhẹ mà rất ngọt ngào của các cô gái ở đây . Không biết có đúng không , riêng tôi thì thấy chả có tiếng con gái ở đâu lại ngọt ngào , dễ thương như tiếng con gái miền Nam !
15 giờ , xe chúng tôi tới thị trấn Tân Cảnh . Dừng xe ở ngã ba thị trấn , tôi lang thang đi bộ ngắm nhìn thị trấn . Tôi nhớ . Cuối năm 1972 khi chúng tôi đến đây , thị trấn này thật hoang tàn . Không một bóng người dân , nhà cửa không một ngôi nhà nào còn nguyên vẹn . Nay thị trấn thật đẹp , phố xá nhộn nhịp , đông vui , rất nhiều cửa hàng , cửa hiệu . Có một câu chuyện ở thị trấn này đã 40 năm rồi nhưng tôi vẫn không quên . Ngày ấy sau giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh năm 1972 , bộ đội đã đói , dân còn đói hơn . Một hôm ra thị trấn Tân Cảnh kiếm rau về cải thiện bữa ăn của Ban chính trị . Đang lúi húi nhặt rau thì thấy một người phụ nữ ở đâu xuất hiện , trông chị gầy gò ốm yếu , nước da xanh mướt . Thấy tôi , chị tiến lại gần nói như van :
- Chú làm ơn , làm phúc có gạo hoặc thuốc ( thuốc chữa bệnh ) giúp mẹ con tôi một chút .
Rồi chị kể : chị quê ở Bình Định , đưa 2 con lên thăm chồng là lính đóng ở Căn cứ 42 , chẳng may gặp 2 bên đánh nhau , chẳng biết chồng còn sống hay chết , 3 mẹ con lúc đó sợ quá chạy vào rừng , giờ không về quê được . Suốt mấy tháng nay 3 mẹ con toàn đi mót sắn ăn , đứa bé hơn 2 tuổi do không có ăn , lại bị ốm do không có thuốc đã chết 2 tuần nay , đứa 4 tuổi cũng đang ốm nặng , chẳng biết có qua được không ! Nghe chị kể mà ái ngại làm sao . Tôi hiểu nỗi lòng người mẹ của chị nhưng lúc đó tôi cũng không có gì giúp chị . Thật buồn . Tôi chỉ đường cho chị đi đến Bệnh xá Trung đoàn cách đấy chừng 3 km để xem có thể giúp chị được gì . Nhìn cái dáng tiểu tụy của chị , tự nhiên tôi nhớ cảnh gia đình tôi hồi tôi còn bé . Năm ấy , năm cải cách ruộng đất , lúc đó tôi chừng 4 tuổi . Bố tôi , thời chống Pháp hoạt động công tác Thanh niên ở địa phương . Chẳng hiểu sao lúc cải cách ruộng đất , nhà ông bà nội tôi chỉ có 1 mẫu ruộng mà bị quy là địa chủ . Bà nội tôi bị đưa ra đấu tố mà bà tôi là một phụ nữ chăm chỉ làm ăn , chuyên giúp cho những người nghèo khó . Bố tôi thì bị quy là thanh niên chống Cộng và bị bắt . Nhà không có một thứ gì ăn . Mẹ tôi phải đi làm thuê để cuối ngày nhận được một lon gạo về nuôi 4 anh em . Ông chú gần nhà tôi , ban ngày không giám qua nhà tôi vì sợ cán bộ Đội cải cách phát hiện . Cán bộ Đội cải cách lúc đó như ông Vua , có quyền sinh , quyền sát , ai cũng sợ , thành thử buổi tối rất muộn chú tôi mới lẻn xuống nhà tôi , dúi cho anh em tôi bát cơm nhỏ độn ngô rồi vội vã về ngay . Mẹ tôi nhặt ngô ra cho 3 anh em tôi ăn , phần cơm không có ngô dành cho cô em gái tôi lúc đó chừng 1 tuổi . Nghĩ chuyện xưa của nhà mình tôi càng thấy thương chị . Chiến tranh là vậy . Nó đã gây nên biết bao chuyện bi thương .
Dời Tân Cảnh , xe chúng tôi tiếp tục chạy về hướng Play Cần . Mặc dù xe chạy rất nhanh nhưng tôi vẫn nhận ra Ngọc Rinh Rua , Ngọc Bờ Biêng , Ngọc Tụ , Chư Mon Ray , Ngọc Ko Tang , Ngọc Hồi ... Đi đến đâu trên mảnh đất Kon Tum này tôi cũng thấy bồi hồi xúc động , đi đến đâu tôi cũng thấy tuổi xuân mình hiện về , đồng đội tôi hiện lên . Tôi ao ước có nhiều sức khỏe để được nhiều lần trở lại Kon Tum , mảnh đất nặng tình , nặng nghĩa , cả đời tôi không bao giờ quên .
Kon Tum 10/2012


    

VỀ BÀI THƠ VÀ BÀI HÁT - GỬI NẮNG CHO EM

VỀ BÀI THƠ VÀ BÀI HÁT - GỬI NẮNG CHO EM
Bùi Văn Dung - Nguyên chiến sĩ Trung đoàn 40, quê tỉnh Vĩnh Phúc

Sài Gòn tháng 12 năm 1975 , vừa tròn tám tháng sau ngày giải phóng miềm Nam, thống nhất đất nước. Những chàng lính Bắc chúng tôi, phần lớn chưa được về phép. Ngày chủ nhật thường gặp nhau "cải thiện" bữa ăn và nói với nhau những dự định khi được ra Bắc về thăm gia đình . Trưa hôm đó , sau khi cơm nước xong , mấy anh em chúng tôi ngồi nghe bản tin thời sự lúc 12 giờ . Ngoài trời nắng chói chang giữa mùa đông phương Nam. Cuối bản tin là dự báo thời tiết.
Chúng tôi không ngờ là cùng một dải đất hình chữ S mà mùa đông xứ Bắc lạnh cắt da, cắt thịt, còn ở đây là mùa đông ấm áp lạ thường.
Một ai đó bỗng nói, ở đây thì thừa nắng mà ngoài mình thì lạnh đến dưới không độ, giá gửi được ít nắng ra ngoài ấy nhỉ?...
Chộp được cái tứ "Gửi nắng" thế là tôi ngồi vào bàn, chỉ sau 15 phút , bài thơ "Gửi nắng cho em" được viết xong. Tôi gọi anh em lại, đọc cho mọi người cùng nghe . Mấy cậu có vợ rồi thì nhảy cẩng lên tán thưởng, mọi người đều giục tôi gửi ngay cho báo "Sài Gòn giải phóng" tờ nhật báo lớn nhất miền Nam lúc đó. Ngay sáng hôm sau bài thơ "Gửi nắng cho em" được đăng trên trang 3 báo "Sài Gòn giải phóng".
Bẵng đi một thời gian tôi cũng không để ý gì đến bài thơ đó nữa. Vì tôi là cộng tác viên ruột của tờ báo, nên tuần nào cũng có thơ được đăng.
Mãi đến năm 1976, bài thơ "Gửi nắng cho em" được Nhạc sĩ Phạm Tuyên phổ nhạc, được phát trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam, tôi và nhạc sĩ cũng chưa hề gặp nhau. Đến thư từ cũng không có liên lạc vì chẳng ai biết địa chỉ của nhau cả . Cuối năm 1976, qua báo Tuổi trẻ tôi nhận được thư và bản nhạc chép tay của Nhạc sĩ Phạm Tuyên gửi tặng. Từ đó tôi và nhạc sỹ Phạm Tuyên thường xuyên có thư trao đổi. Và sau này lần lượt các bài thơ của tôi được Nhạc sĩ Phạm Tuyên phổ nhạc như "Con kênh ta đào”, "Giá em đừng yêu anh". Tuy nhiên bài hát "Gửi nắng cho em" sau đó không được phát trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam. Phải mãi đến năm 1981, khi ra Bắc về học chương trình chính trị cao cấp ở Học viện Chính trị, ra nhà Nhạc sĩ Phạm Tuyên ở Khương Thượng tôi mới được biết lý do. Nhạc sĩ đưa cho tôi xem một số ý kiến phê phán nội dung phần lời của bài hát. Bằng một lối suy diễn rất "ấu trĩ" cho rằng: Miền Bắc xã hội chủ nghĩa tươi đẹp, thiếu gì nắng mà phải gửi nắng của miền Nam, trải qua mấy chục năm chủ nghĩa tư bản xấu xa . Dầu sao, cho đến nay bài hát "Gửi nắng cho em" vẫn được dư luận xã hội chấp nhận.
Mới đây Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã tổ chức một đêm nhạc Gửi nắng cho em cùng những tác phẩm chọn lọc của ông tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội . Tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc bài thơ này

GỬI NẮNG CHO EM
Anh ở trong này chưa thấy mùa đông
Nắng vẫn đỏ - mận hồng đào cuối vụ
Trời Sài Gòn xanh cao như quyến rũ
Thật diệu kỳ là mùa đông phương Nam.
Muốn gửi ra em một ít nắng vàng
Nghe đài báo rét kéo dài ngoài ấy
Mùa đã xong, còn chiêm - xuân cày cấy
Bà con mình sẽ xoay sở ra sao?
Anh hiểu sức vươn của những cành đào
Qua giá rét vẫn đỏ hoa ngày Tết
Như cây thông vững vàng trong giá rét
Em hãy làm cây thông xanh, nghe em.
Khi hai miền cùng vào một vụ chiêm
Hai vựa thóc cùng nặng tình của đất
Cùng vào mùa một ngày vui Thống nhất
Hơn lúc nào, anh hiểu thấu lòng em.
Ở trong này anh chưa thấy mùa đông
Thương cái rét của thợ cày, thợ cấy
Nên cứ muốn chia nắng đều ra ngoài ấy
Có tình thương tha thiết của trong này
Gửi nắng về sưởi sấm những bàn tay.

                                                            12-1975
                                                          BÙI VĂN DUNG
    

ĐI TÌM NGUỒN GỐC VÀ TÁC GIẢ CỦA HAI CÂU THƠ NỔI TIẾNG VỀ TÌNH CẢM ĐỒNG ĐỘI CỦA NGƯỜI LÍNH TÂY NGUYÊN THỜI CHỐNG MỸ

ĐI TÌM NGUỒN GỐC VÀ TÁC GIẢ CỦA HAI CÂU THƠ NỔI TIẾNG VỀ TÌNH CẢM ĐỒNG ĐỘI CỦA NGƯỜI LÍNH TÂY NGUYÊN THỜI CHỐNG MỸ

Từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước cho đến bây giờ chiến tranh đã lùi xa 50 năm, ở Tây Nguyên và trong các tổ chức Liên lạc Mặt trận Tây Nguyên B3 - QĐ3 xuất hiện hai câu thơ mà mỗi khi đọc lên mọi người đều xúc động, đồng cảm, đồng thời người đọc cũng cảm thấy nhẹ lòng vì đã nói lên được lòng mình với đồng đội còn nằm lại chiến trường và người đã trở về tìm lại thăm nhau.
Tây Nguyên ơi! Ai đã từng qua đó
Suốt cuộc đời nhớ lại vẫn thương nhau.
Hai câu thơ tuy không nói gì đến bom đạn, đến thương vong, bệnh tật, đói khát, song từng chữ đã gợi cho người lính Tây Nguyên hình dung ra tất cả mà cuộc đời của họ đã trải qua.Tây Nguyên ơi! Ai đã từng qua đó. Trước hết là tiếng gọi Tây Nguyên ơi! Ôi, sao hai chữ Tây Nguyên nó tha thiết, thiêng liêng đến thế! Không phải chỉ là địa danh, không phải chỉ là một vùng rừng núi cao nguyên, mà với người lính Tây Nguyên thì đây là cuộc sống chiến đấu của họ, của đồng đội, của người đã nằm lại và những người đã trở về và bây giờ ở đâu? Nó là nơi bom đạn ác liệt, nơi đói khát, bệnh tật mà họ đã vượt qua tất cả để chiến thắng kẻ thù, chiến thắng bệnh tật, chiến thắng cả bản thân mình, chiến thắng cả thần chết để cùng đồng đội lập nên chiến công hiển hách một thời. Những năm 60-70 ấy có ai chỉ cần qua đó, hành quân qua, gặp một trận oanh tạc của địch, phi pháo, B52, dự một trận đánh hoặc qua vài cơn sốt rét ác tính… cũng đã hiểu một phần về Tây Nguyên. Thế mà có các vị tướng Tây Nguyên, nhiều chiến sĩ Tây Nguyên đã bám trụ ở chiến trường Tây Nguyên từ năm 1964 đến sau năm 1975 của thế kỷ trước. Cho nên tình cảm đồng đội của người lính Tây Nguyên: Suốt cuộc đời nhớ lại vẫn thương nhau.
Người lính Tây Nguyên không thể quên những ký ức một thời ở Tây Nguyên và nhớ lại những năm tháng sống chết bên nhau, gian khổ, đói khát có nhau, nay may mắn trở về làm sao quên nhau được và nhớ lại thời gian ấy mới thấy thương nhau, vẫn thương nhau không phải chỉ 40 năm, 50 năm mà suốt cuộc đời vẫn thương nhau!Rất nhiều người yêu thích 2 câu thơ này, đưa vào bài nói, bài viết của mình mỗi khi nhắc đến tình cảm của người lính Tây Nguyên, nhưng hầu hết không ai biết 2 câu thơ này của ai? Nó ra đời từ bao giờ? Nhiều người tuổi về già, trí nhớ đã giảm, thời gian quá lâu nên quên vài chữ trong câu thơ. Mặt khác, có người vẫn giữ cốt lõi của 2 câu thơ, song sửa đi vài chữ cho phù hợp với ý của mình, và như để rõ hơn, sâu sắc hơn, có người mở đầu bài viết, hoặc có người kết thúc bài viết bằng 2 câu thơ này:
“Tây Nguyên (?) Ai đã từng qua đó,
Suốt cả cuộc đời mắc nợ nhớ thương nhau”
Cố thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên trong “Ký ức Tây Nguyên” của mình, ông cũng đưa hai câu thơ này vào. Ông viết: … “Trong suốt chặng đường chinh chiến hơn 10 năm trên đất Tây Nguyên, với tôi có biết bao kỷ niệm vui buồn. Một phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày toàn thắng, nhớ làm sao hết, ghi làm sao đầy đủ được, nhưng chúng tôi rất tự hào vì đã một thời được làm người chiến sĩ Tây Nguyên, được vinh dự là “Bộ đội B3”… Những năm tháng gian khổ cơ hàn chỉ còn trong dĩ vãng. Rồi đây những Plei-me, Sa Thầy, Măng Yang, An Khê, Đắc Tô - Tân Cảnh, Ban Mê Thuột, Đường 7… sẽ đổi thay, những “Cổng trời”, “Bãi C1”, “Dốc trăm bậc”, “Cây đa gió lộng”, “Cầu lây” và cả bài ca “Cây sắn tiến công” sẽ đi vào sử sách. Song với người lính Tây Nguyên năm xưa thì dù ở cương vị nào và đang ở đâu, những năm tháng ấy vẫn thật gần gũi biết bao:Tây Nguyên ơi, ai một lần qua đó/Suốt cuộc đời nhớ lại vẫn thương nhau”.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3 và Trung tướng Tiêu Văn Mẫn, nguyên Phó tư lệnh chính trị QĐ3, Trưởng Ban liên lạc Bạn chiến đấu Mặt trận Tây Nguyên B3 - QĐ3, trong các bài diễn văn, bài viết về Tây Nguyên của mình, các ông đều nhắc đến 2 câu thơ này.Cố GS.BS Anh hùng lực lượng vũ trang Lê Cao Đài đã ở Tây Nguyên từ năm 1966 đến năm 1973, ông là một thầy thuốc nổi tiếng ở Chiến trường Tây Nguyên và cả nước. Sau khi ra Bắc, ông xuất bản cuốn Truyện ký“Tây Nguyên ngày ấy”, Nxb Lao động, 1997, trang bìa 1 ông in hai câu thơ:Tây Nguyên ơi, ai đã từng qua đó/Trọn cuộc đời mãi mãi vẫn thương nhau”. Còn rất nhiều người khác cũng đã sử dụng 2 câu thơ trên trong bài viết , bài nói của mình. Cũng như các đồng đội Tây Nguyên khác, tôi đồng cảm và rất thích hai câu thơ, lâu nay nó trở thành câu thơ của mọi người lính Tây Nguyên nhưng chắc chắn không phải thơ khuyết danh.Từ đó tôi có ý nghĩ và đã đi tìm nguồn gốc và người làm ra hai câu thơ này đầu tiên…
Rất may mắn và cũng tình cờ, trong buổi gặp mặt truyền thống của chiến sĩ Mặt trận Tây Nguyên B3 - QĐ3vừa qua ở Hà Nội (22/3/2015) tôi đã gặp người đồng đội thời ở Tây Nguyên. Qua chuyện trò, ông khoe hai câu thơ của mình đã được các tướng lĩnh và đồng đội nhắc đến nhiều… Tôi vô cùng mừng rỡ và hẹn gặp ông để tìm hiểu về hai câu thơ này…Nhà ông ở Khu tập thể Nam Đồng - Hà Nội. Đó là Trung tá Đỗ Tiến Ruyện, ông đã 85 tuổi (sinh 1930), nhưng còn rất khỏe, nhanh nhẹn và minh mẫn. Ông nhập ngũ từ Kháng chiến chống Pháp (3/1954). Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông vẫn ở trong quân ngũ liên tục. Tháng 4/1965 ông vào Trị Thiên và Tây Nguyên chiến đấu, sau đó vào miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Ông từng là lính bộ binh, pháo binh và lính cao xạ, cuối cùng là giảng dạy tại Trường Sĩ quan Binh chủng Quân khu 1. Nghỉ hưu, ông không về quê Thái Bình mà cư trú tại Nam Đồng - Hà Nội.Trở lại với hai câu thơ của Đại tá Đỗ Tiến Ruyện mà lâu nay nhiều người yêu thích, đặc biệt lính Tây Nguyên rất đồng cảm nhưng nhiều người chưa rõ ai làm ra hai câu thơ đó, thậm chí còn tưởng lầm là của một người khác . Hai câu thơ này là hai câu đầu của bài thơ “Tây Nguyên”, ông làm tháng 4/1966, sau một năm ông chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên. Đây là toàn văn bài thơ hồi đó:

TÂY NGUYÊN
Tây Nguyên ơi, ai đã từng qua đó
Suốt cuộc đời nhớ lại vẫn thương nhau
Đào mài, nhặt gắm, hái rau
Kim cang, môn thục, măng vầu… đắng cay
Muỗi như trấu suốt đêm ngày
Vắt xanh vắt đỏ từng bầy ngo ngoe.
Sốt gì mà sốt gớm ghê
Rét run cầm cập, nóng kề lò nung
Ngửi cơm đã thấy buồn nôn
Ho dập, ho dồn, miệng đắng ngực đau.
Bước đi phải dắt dìu nhau
Nằm lâu nhức đầu, ác tính mắt hoa…
Tây Nguyên ai đã từng qua
Trọn đời thương nhớ về ta với mình.
                                                        4-1966

 Bài thơ này ông đã đọc lần đầu tại Tây Nguyên trong buổi liên hoan văn nghệ của Nông trường 10 (Sư đoàn 10 năm 1966), có đồng chí Thái Bá Nhiệm - Chủ nhiệm chính trị và đồng chí Hội - trợ lý tuyên huấn B3 xuống dự. Sau đó bài thơ này có đăng ở Báo Mặt trận Tây Nguyên hồi đó. Thời gian đến nay đã quá lâu nên còn rất ít người nhớ bài thơ này, một số đồng chí dự buổi liên hoan hôm đó đã hy sinh hoặc qua đời vì bệnh tật và già yếu. Qua mấy buổi làm việc trao đổi với ông và xem thơ ông, tôi hỏi ông sao không tập hợp thơ cho xuất bản và công bố để mọi người biết hai câu thơ nổi tiếng này là của ông chứ không phải của người khác. Ông Ruyện cười rất hồn nhiên, vui vẻ nói: “Việc ấy không quan trọng, tôi rất hạnh phúc và cảm ơn mọi người đã đọc và thích thơ tôi”. Đến đây, tôi chợt nhớ đến mấy câu thơ ông viết ở trang đầu của tập thơ ông mới gom được một số bài:
 Thơ tôi viết chẳng có hồn
Việc làm thời chiến góp dồn là thơ
Mong sao trong lúc đợi chờ
Tiếng cười nho nhỏ trước giờ xuất quân
 Cảm ơn các chị, các anh
Bạn bè chân thành xem đọc thơ tôi.
                                                                 
                                                                                            Đỗ Tiến Ruyện

Chia tay ông vào một buổi chiều ở khu tập thể “nhà binh” Nam Đồng, ông rất vui và cảm ơn tôi đã thích, đọc và chép thơ ông. Còn tôi, thực sự kính nể và … thương yêu ông - Người đồng đội già, cả đời trận mạc từ đánh Pháp, đánh Mỹ, qua Mặt trận Điện Biên Phủ, Mặt trận Trị Thiên, Tây Nguyên, Miền Đông, Miền Tây Nam Bộ… và đã đem những gian khổ, đói khát, bệnh tật và bom đạn ác liệt tại các chiến trường từ Bắc chí Nam hơn nửa thế kỷ qua “góp dồn” lại cho đồng đội, cho đời những bài thơ, câu thơ để đời…

Bùi Lô - Điện thoại: 024 38360225(Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên B3-QĐ3)

Địa chỉ tác giả : Trung tá  Đỗ Tiến Ruyện ( sinh năm 1930) thuộc lữ đoàn pháo binh 40. Phòng 106 nhà A7 Tập thể quân đội Nam Đồng, Quận Đống Đa, Hà Nội. Điện thoại : 024 35332895.


    

TRÒ CHUYỆN VỚI 2 NHÀ VĂN LÍNH TÂY NGUYÊN

TRÒ CHUYỆN VỚI 2 NHÀ VĂN LÍNH TÂY NGUYÊN
             Nguyễn Đình Thi

Sau tết năm 2018, nhà văn Nguyễn Trọng Luân nhắn tin hẹn tôi:
- Anh Thi ơi! Hôm nào rảnh, anh rủ Bảo Ninh mình ngồi với nhau nhé !
   Tôi đồng ý và nhận đứng ra tổ chức buổi gặp này. Tưởng rằng tôi, nhà văn Bảo Ninh, nhà văn Nguyễn Trọng Luân đều ở nội thành Hà Nội chắc chẳng khó khăn gì, a lô một cái là gặp nhau được ngay thế mà hoá ra lại rất khó. Khi tôi gọi điện cho nhà văn Bảo Ninh, lúc nhà văn Bảo Ninh đi công tác nước ngoài, lúc thì Nhà văn về quê có việc dòng họ ở tận Quảng Bình, lúc thì ốm. Khi nhà văn Bảo Ninh có mặt ở Hà Nội lại đến lượt nhà văn Nguyễn Trọng Luân bận, lúc thì anh đi Tây Nguyên lo việc xây nhà bia ở Chư Bồ, rồi lại xây nhà bia ở điểm cao 1015, rồi việc của đồng đội Sư đoàn 320. Nói chung, cả 2 ông nhà văn này tuy tuổi đã cao, tưởng chừng an nhàn ở nhà thế mà chẳng mấy khi rảnh rỗi. Mãi đến hôm nay , sau đến 3 tháng hẹn hò chúng tôi mới ngồi được với nhau. Nhà văn Bảo Ninh với tôi thì rất gần gũi vì chúng tôi cùng sống, chiến đấu ở Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10 nên thường xuyên gặp nhau. Còn nhà văn Nguyễn Trọng Luân ở Sư đoàn 320, cùng Lính Tây Nguyên với tôi và Bảo Ninh, tôi nghe tên anh đã lâu nhưng mới quen thân anh khoảng 2 năm nay. Thời gian chúng tôi giao tiếp với nhau chưa nhiều nhưng tôi rất quý mến anh bởi nhân cách và tài năng của anh .
      Với độc giả Việt Nam, tên tuổi nhà văn Bảo Ninh đã trở nên quá quen thuộc, anh không chỉ nổi tiếng ở trong nước mà còn khá nổi tiếng trên văn đàn thế giới. Anh là nhà văn duy nhất của Việt Nam cho đến nay nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Châu Á. Tác phẩm NỖI BUỒN CHIẾN TRANH của anh đến nay được phát hành tới 16 nước trên thế giới, được Hội đồng dịch giả thuộc Hội nhà văn Anh đánh giá là tiểu thuyết đương đại viết về đề tài chiến tranh hay nhất và được xếp thứ 37 trong số 50 tác phẩm xuất sắc nhất dịch sang tiếng Anh nửa thế kỷ qua như : CHIẾN TRANH VÀ HOÀ BÌNH, TRĂM NĂM CÔ ĐƠN, NHÀ THỜ ĐỨC BÀ PA RI ...
Cùng xuất thân từ lính trinh sát , Bảo Ninh là trinh sát của Trung đoàn 24, Sư đoàn 10 , còn Nguyễn Trọng Luân là trinh sát của Trung đoàn 64 - Sư đoàn 320. Nhà văn Nguyễn Trọng Luân tuy không có tác phẩm được giải cao như nhà văn Bảo Ninh nhưng anh cũng có nhiều tác phẩm được nhận giải thưởng: Giải tư cuộc thi truyện ngắn và ký trên tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2012 – 2013; Giải nhì cuộc thi truyện ngắn và ký trên tạp chí Cửa Việt năm 2012; Giải nhà văn xuất sắc trong năm của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2007 – 2008. Nguyễn Trọng Luân không chỉ sáng tác văn xuôi mà anh còn sáng tác cả thơ, nhạc, kịch. Đến nay anh đã có tới 12 đầu truyện. Văn của Trọng Luân nhẹ nhàng mà sâu sắc. Cách viết, cách kể của anh cứ như chơi chơi nhưng rất cuốn hút người đọc. Anh không viết theo kiểu “hô khẩu hiệu” một cách sáo rỗng, nhàm chán mà chân thật và thấm đẫm chất nhân văn. Bài nào của anh tôi đọc cũng cảm nhận được một nỗi đau thời đại, nỗi xót thương đến tột cùng đối với anh em, đồng đội và một nỗi thương cảm bao la đối với số phận thiệt thòi, bi thảm của những nạn nhân chiến tranh.
    Cũng lấy làm lạ, thường các ông nhà văn, nhà thơ ngồi với nhau là trên trời, dưới biển chuyện văn chương, thế mà chúng tôi ngồi với nhau, không ai đả động gì chuyện văn chương, rặt chuyện lính. Nhà văn Nguyễn Trọng Luân bảo: Cũng là lính nhưng lính Tây Nguyên vẫn có một cái gì đó khác biệt với lính ở chiến trường khác, chỉ cần nhìn cách họ đào hầm, cách họ cắm cọc đun nấu cũng biết ngay là Lính Tây Nguyên. Đúng vậy! Có lẽ do chiến trường ở đây khắc nghiệt quá nên người lính Tây Nguyên phải thích nghi với hoàn cảnh để tồn tại. Chính vì vậy cái gì người lính Tây Nguyên cũng biết làm và làm thành thạo, từ việc dựng nhà, tăng gia , làm nương rẫy, đan lát đến khâu vá ... tất tật . Đặc biệt là ca cóng thì rất tài. Họ có thể vừa hành quân mà vẫn nấu được cơm, dừng nghỉ một lát là có thể chặn suối bắt cua, bắt cá cải thiện bữa ăn ngay. Nghe tiếng pháo địch bắn biết là tiếp tục đi hay nằm, nhìn bom địch thả từ máy bay biết nó nổ chỗ mình hay rơi chỗ khác. Nói chung họ là những người lính rất năng động, tháo vát.
    Nhớ lại những ngày ở Tây Nguyên, nhà văn Bảo Ninh bảo : Sao những ngày sống ở Tây Nguyên mình chịu đựng giỏi thật, bao nhiêu là khó khăn, gian khổ vẫn chịu đựng được. Riêng chịu đựng sốt rét thôi cũng đã thấy ghê rồi. Tôi mấy lần phải đi Viện 211 vì sốt rét. Có lần bị sốt rét ác tính, cận kề cái chết, phải điều trị hàng tháng trời. Nghĩa trang của Viện 211 hồi đó có tới hàng ngàn bộ đội ta chết, chôn ở đây, trong đó có khá nhiều người chết do sốt rét, không hiểu số anh em này sau đã chuyển về nghĩa trang Liệt sỹ chưa? Nhà văn Nguyễn Trọng Luân thì kể: Vào tới chiến trường tôi tưởng được ra Mặt trận ngay, ai dè cả Tiểu đoàn phải đi làm nhiệm vụ thu hoạch sắn tận 2 tháng trời, tiêu chuẩn được 2 lạng gạo mỗi ngày, còn toàn sắn. Sau này mới hiểu sắn đối với bộ đội Tây Nguyên quan trọng như thế nào. Có một sự kiện nhà văn Nguyễn Trọng Luân kể bây giờ tôi mới được biết. Anh bảo: Khoảng hơn 9 giờ sáng ngày 30/4/1975, Trung đoàn 64 của anh đang ở khu vực Cầu Bông ( cầu An Hạ bây giờ ) thì nhận lệnh của Quân đoàn cơ động cấp tốc đánh thẳng vào Dinh Độc Lập. Phó chính ủy Quân đoàn Phí Triệu Hàm trực tiếp chỉ huy cánh quân này. Đến ngã tư Bảy Hiền do đường tắc, mũi Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 đánh theo đường Lê Văn Duyệt, mũi Tiểu đoàn 8 tiến theo đường Võ Tánh, Trương Minh Giảng. Chừng hơn 10 giờ, mũi đi đầu của Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 tiến tới khu vực phía sau Dinh Độc Lập. Vào thời gian đó, Quân đoàn 2 vẫn chưa tới Dinh Độc Lập nhưng vì khu vực phía sau Dinh Độc Lập địch lập nhiều lô cốt, ụ súng chúng chống trả quyết liệt. Cánh quân của Tiểu đoàn 7 và 9 đánh nhau ở đây mất khá nhiều thời gian nên khi vào được Dinh Độc Lập thì Quân đoàn 2 đã chiếm xong rồi. Hoá ra ngày 30/4/1975 , Quân đoàn 3 có tới 3 cánh quân đánh vào 3 mục tiêu quan trọng nhất Sài Gòn (Sư đoàn 10 có Trung đoàn 24 đánh Sân bay Tân Sơn Nhất, Trung đoàn 28 đánh Bộ Tổng Tham mưu, Sư đoàn 320 có Trung đoàn 64 đánh Dinh Độc Lập). Thế mới biết Tướng Vũ Lăng thật sắc xảo và quyết đoán , chỉ tiếc ông chưa gặp thời .

Nhắc tới cuộc chiến ở Cam Pu Chia, nhà văn Bảo Ninh thắc mắc. Anh bảo: Vừa rồi tôi có đọc bài viết của anh gửi cho tôi ( bài tôi viết về cuộc chiến ở CPC ), không hiểu mình đánh đấm thế nào mà quân mình lại hy sinh nhiều như thế nhỉ? Quân Miên có gì ghê gớm đâu! tôi thật sự không hiểu nổi! Nghe nhà văn Bảo Ninh thắc mắc , nhà văn Trọng Luân kể : Một lần tìm tư liệu để viết bài , tôi được biết suốt những năm đánh Mỹ - Ngụy, Trung đoàn 64 của tôi hy sinh khoảng hơn 800 người, thế mà đánh Miên chưa đầy 2 năm, Trung đoàn của tôi hy sinh hơn 2800 người ! Thật quá sức tưởng tượng . Với tôi người trực tiếp tham gia cả hai cuộc chiến nên tôi hiểu rõ điều hai nhà văn thắc mắc. Hoàn cảnh cuộc chiến ở CPC hoàn toàn khác cuộc chiến trước đây mà 2 anh đã tham gia. Cuộc chiến này ta không có hậu phương liền kề. Ta phải đối phó với một cuộc chiến mới, một kiểu đánh mới. Kẻ địch vừa ở phía trước, vừa ở cả phía sau. Ngày trước đánh Mỹ - Ngụy, lính ở phía sau là yên tâm, là an toàn. Còn đánh nhau ở CPC thì ở phía sau cũng không an toàn. Rất nhiều lần các bộ phận đi sau bị tập kích. Sư 10 của tôi có lần lực lượng hậu cần, vận tải, quân y đi sau bị chúng tập kích, cháy gần chục xe, bị thương và hy sinh tới dăm chục, đến cả Tư lệnh Quân đoàn đi ở phía sau cũng còn hy sinh nữa là lính. Cuộc chiến ở CPC là vậy. Một cuộc chiến mà chúng ta phải trả cái giá rất đắt.
      Lan man chuyện, chúng tôi quay sang chuyện cuộc chiến ở biên giới phía Bắc. Tôi bảo cuối năm 1985 ,Sư đoàn 31 của Quân đoàn mình cũng lên tham chiến ở Hà Giang , Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10 cũng có một tiểu đoàn lên đây tháng 3/1986 . Nhiều đồng đội Quân đoàn 3 cũng đổ máu hy sinh tại đây . Cuộc chiến ở biên giới Hà Giang kéo dài suốt từ 1984 sang tới năm 1986 mà người dân  trong nước như mình hầu như không biết gì . Sau này mới biết cuộc chiến ở đây thật ác liệt . Bộ đội ta hy sinh có tới hàng ngàn . Cũng chuyện biên giới phía Bắc . Tôi kể: tôi vừa có chuyến đi thăm tuyến vành đai biên giới phía Bắc. Khi đến Đài tưởng niệm Pò Hèn, nơi có các cô gái ở lâm trường Hải Ninh - Quảng Ninh và các chiến sỹ đồn biên phòng hy sinh khi đánh nhau với quân Trung Quốc tháng 2/1979. Đến đây thấy vắng vẻ, hiu quạnh, thương thương làm sao. Trong khi Đài tưởng niệm các cô gái ở ngã 3 Đồng Lộc quanh năm có người đến thắp hương, thăm viếng. Có thể ở đây một phần đường xá chưa thuận tiện, nhưng cái chính là sự đầu tư của Nhà nước và công tác truyền thông về địa danh này còn quá ít. Rất nhiều người dân trong nước không biết đến Đài tưởng niệm Pò Hèn . Theo tôi đây mới là nơi Nhà nước cần quan tâm đầu tư và thông tin nhiều hơn nữa để ngàn đời sau con cháu chúng ta không bao giờ quên kẻ gây ra cuộc chiến này .
     Vẫn lan man chuyện về Lính, chả mấy chốc trời đã sang chiều. Cơn mưa bất chợt làm trời Hà Nội dịu hẳn đi sau mấy ngày oi bức. Chúng tôi chia tay nhau nhưng dư âm của những câu chuyện tản mạn về Lính vẫn để lại trong lòng tôi một nỗi niềm khó tả.

Từ trái sang: Nhà văn Bảo Ninh, nhà văn Trọng Luân, Nguyễn Đình Thi

    

ANH HÙNG - LIỆT SỸ TRẦN MINH SUNG

KỶ NIỆM 71 NĂM  NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SỸ ( 27/7/1947 - 27/7/2018 )

ANH HÙNG - LIỆT SỸ TRẦN MINH SUNG
                                         Nguyễn Đình Thi

Liệt sỹ Trần Minh Sung sinh năm 1956 , người dân tộc Mường ở xã Trung Sơn , huyện Yên Lập , tỉnh Phú Thọ , thuộc Trung đoàn 24 , Sư đoàn 10 , Quân đoàn 3 . Sung là anh cả trong một gia đình có tới 9 anh em . Trình độ văn hoá chỉ có lớp 4 nhưng trước lúc nhập ngũ , Sung là giáo viên dạy vỡ lòng ở thôn , vì ở quê Sung thời điểm đó văn hoá lớp 4 cũng là cao lắm rồi . Nhà đông anh em lại là anh trai cả , các em còn bé lít nhít , trong đó có tới 3 người em bị mù bẩm sinh nên dù mảnh khảnh , nhỏ con song việc gì cũng đến tay Sung , từ làm ruộng , đi rừng , rồi việc nhà , Sung tỏ ra rất đảm đang . Sung rất giỏi săn bắn và đánh bẫy . Em trai Sung kể : Thời ấy quê em nhiều thú rừng lắm . Lợn rừng , Hươu , Nai có lần về tận gần nhà , có hôm anh Sung đánh bẫy được cả con nai . Tháng 4/1974 , Sung nhập ngũ . Sau 6 tháng huấn luyện ở Miền Bắc , đầu tháng 1/1975 , Sung vào tới chiến trường Tây Nguyên và bổ sung về đại đội 2 của tôi , lúc đó tôi là Chính trị viên phó Đại đội , còn Sung là chiến sỹ B40 . Sung mảnh khảnh , hiền lành và ít nói . Trận đầu tiên Sung tham chiến là trận cùng đại đội tôi đánh vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 địch ở thị xã Buôn Ma Thuột . Đây là một trận đánh rất ác liệt . Sáng ngày 11/3/75 , khi đang đánh theo trục đường 429 tiến về Sở chỉ huy Sư đoàn 23 thì một xe bồn chở xăng của địch chắn ngang đường trúng đạn , bốc cháy dữ dội buộc đại đội tôi phải đánh vòng sang bên trái đường 429 . Đây là khu vận tải của Liên đoàn 350 . Chiếm được khu vận tải , đại đội tôi đánh ngoặt ra trục đường 429 để tiến về Sư bộ Sư 23 . Khi ra tới gần đường 429 , Trần Minh Sung phát hiện một khẩu đại liên của địch đang bắn như vãi đạn chặn quân ta từ hướng đường 429 tiến lên . Do từ phía sau tiến đến , và do tiếng súng giữa ta và địch bắn nhau loạn xạ nên tên địch bắn đại liên không phát hiện ra Trần Minh Sung đang ở phía sau mình . Sung giương B40 lên định bóp cò nhưng vì tên địch quá gần và ngay phía sau lưng Sung có bức tường nhà , nếu bắn B40 luồng lửa phía sau hất lại rất nguy hiểm . Nghĩ vậy , Sung quăng khẩu B40 xuống đất , bê vội hòn đá to như hòn gạch cạnh chỗ đứng , choảng mạnh vào đầu tên địch . Tên địch chết tại chỗ. Lập tức Sung quay ngược khẩu đại liên về hướng địch xiết cò , diệt thêm nhiều tên địch , hỗ trợ cho quân ta từ phía sau tiến lên chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 23 . Sau trận này Sung được tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng 3 . Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra . Cuối tháng 12/1977 , Sung cùng đơn vị ra Mặt trận với cương vị Tiểu đội trưởng . Trong vòng chưa đầy 3 tháng chiến đấu (từ cuối tháng 12/1977 đến tháng 3/1978 ), từ cương vị tiểu đội trưởng , Trần Minh Sung đã được bổ nhiệm giữ chức đại đội trưởng đại đội 10 - tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 . Đêm 29/2/1978 , Tiểu đoàn 6 của Trần Minh Sung vào chốt giữ ở bản PLon - CPC . Địch dùng cả một Trung đoàn bao vây . Chúng cắt đứt đường liên lạc từ phía sau lên và tấn công liên tục vào các vị trí chốt của Tiểu đoàn . Riêng chốt của Đại đội Sung chúng tấn công liên tục suốt ngày đêm , Sung vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị đánh bật các đợt tấn công của địch , giữ vững trận địa . Ngày 3/3/1978 , chốt của Đại đội 9 ở phía trên cùng của Tiểu đoàn bị địch vây tròn 3 ngày liền và có nguy cơ bị chúng tiêu diệt hoàn toàn . Vũ khí , lương thực , nước uống không thể tiếp tế lên được . Trong khi đó địch vẫn tiếp tục hò hét tấn công lên với ý đồ bắt sống lực lượng Đại đội 9 còn lại . Trần Minh Sung lúc này được Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu Sờ giao cho nhiệm vụ tổ chức một lực lượng phối hợp với C11 và C12 lên giải vây cho Đại đội 9 . Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn vì quân địch đã chiếm được nhiều vị trí chốt của ta , mặt khác lực lượng địch lúc này rất đông . Tình hình lúc đó không phải không có người dao động , kể cả cán bộ , nhưng Sung không sợ nguy hiểm , dẫn đầu đội hình xông lên chiến đấu . Khi tiến cách chốt Đại đội 9 chừng gần 100m thì số anh em đi cùng Sung hầu hết bị thương và hy sinh , chỉ còn lại anh và 2 đồng chí , anh động viên anh em và gom hết số vũ khí súng đạn của anh em bị thương và hy sinh lại tiếp tục chiến đấu . Lúc thì Sung dùng M79 , lúc thì Sung dùng B40 , B41 , lúc thì dùng AK đánh trả quân địch , diệt hàng chục tên . Lúc này Sung cũng dính đạn địch , bị thương ở vai , ở chân máu ra nhiều nhưng anh không hề nào núng , vẫn tiếp tục nổ súng đánh trả quân địch .Trận chiến kéo dài hàng tiếng đồng hồ , mỗi lần địch xông lên lại bị Sung đánh bật trở lại . Biết không thể bắt sống được Sung , địch tập trung hỏa lực ĐKZ bắn trực tiếp vào nơi Sung đang nổ súng và anh đã anh dũng hy sinh . Trong vòng hơn 1 tháng , trên cương vị đại đội trưởng ( từ tháng 2/1978 đến 3/3/1978 ) anh đã chỉ huy đại đội bắn cháy 2 xe tăng , diệt 150 tên địch , thu hơn 20 súng , bản thân Trần Minh Sung diệt 21 tên , thu 4 súng . Sau trận đánh này anh được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 2 . Ngày 28 tháng 8 năm 1981 , Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Liệt sỹ Trần Minh Sung.
37 năm yên nghỉ tại nghĩa trang Tây Ninh, năm 2015, Liệt sỹ Trần Minh Sung đã được chính quyền huyện Yên Lập đưa về yên nghỉ tại nghĩa trang quê nhà. Chỉ tiếc sau giải phóng, mãi tới năm 1977, trong đợt ra nhận quân ở Hà Nam Ninh, Sung chỉ được ghé qua nhà đúng 2 đêm, 3 ngày, chưa kịp cưới cô người yêu từ lúc chưa nhập ngũ mà 2 gia đình đã ăn hỏi rồi trở về đơn vị chiến đấu và hy sinh.

NĐT

Ảnh: LS Trần Minh Sung