CUỘC TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968 Ở THỊ XÃ KON TUM

KỶ NIỆM 51 NĂM CUỘC TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968 Nhân kỷ niệm 51 năm cuộc tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của đồng chí Nguyễn Tập - nguyên Phó bí thư Tỉnh ủy Kon Tum về trận đánh này. Có thể nói cuộc tấn công của ta vào thị xã Kon Tum tết Mậu Thân 1968 tuy có giành được một số kết quả nhưng ta đã phải trả một cái giá khá đắt. 2 đơn vị chủ công đánh vào thị xã này là Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 404 của tỉnh Kon Tum bị thiệt hại nặng. Khoảng hơn 400 cán bộ, chiến sỹ của ta đã bị thương và hy sinh. Đây cũng là bài học xương máu cho ta tổ chức tấn công vào thành phố, thị xã sau này

CUỘC TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968
Ở THỊ XÃ KON TUM

Nguyễn Tập - Nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum, Nguyên Bí thư Ban Cán sự H5 Đến năm 1967, về cơ bản ta đã kiện toàn được Ban Cán sự Đảng ở thị xã Kon Tum , xây dựng được nhiều đội vũ trang công tác, có bộ phận chuyên trách bàn đạp và nội ô, xây dựng được hành lang và lõm căn cứ ở trung tâm thị xã, củng cố bàn đạp vững mạnh. Điều kiện cho tấn công nổi dậy đã có, tuy chưa được toàn diện, nhưng cũng có khả năng đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị, kế hoạch của Khu ủy Khu 5 và Bộ Tư lệnh Tây Nguyên - B3, Tỉnh ủy, Tỉnh đội Kon Tum và Ban Cán sự thị xã gấp rút triển khai kế hoạch thực hiện: Bộ Chỉ huy Mặt trận Kon Tum được thành lập, đồng chí Vương Tuấn Kiệt (Phú) - Tham mưu phó B3 làm Chỉ huy trưởng; Phùng Bá Thường - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 chủ lực làm Chỉ huy phó; Lê Tấn Nhất (Thuận) - Chính trị viên phó Tỉnh đội là Chỉ huy phó; Bùi Anh (Tiềm) - Bí thư Tỉnh ủy làm Chính ủy; Nguyễn Tập - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh đội làm Phó Chính ủy. Chỉ huy trưởng và chính ủy chỉ huy chung và trực tiếp đơn vị pháo binh. Đồng chí Phùng Bá Thường chỉ huy Trung đoàn 24 tiến đánh biệt khu 24 của ngụy. Đồng chí Lê Tấn Nhất chỉ huy Tiểu đoàn 304 tiến đánh sân bay và khu huấn luyện 42 ngụy. Đồng chí Nguyễn Tập chỉ huy cánh quân phía tây gồm Tiểu đoàn 406 đặc công tiến công vào tòa hành chính, ty cảnh sát, tiểu khu Kon Tum. Lực lượng vũ trang an ninh giải thoát nhà lao. Chỉ đạo công tác cơ sở, công tác quần chúng nổi dậy do Ban Cán sự thị xã (H5) phụ trách, đã đưa 6 cán bộ vào sông hợp pháp ỏ lõm căn cứ Trung Lương do đồng chí Nguyễn Thế Vũ chỉ huy, ngoài ra còn lập 2 đội công tác dân vận do đồng chí Lê Văn Vinh (Nhất) phụ trách đội phía tây cùng tiến vào với cánh quân phía tây, đội phía đông do đồng chí Đào Duy Tồn phụ trách, cùng tiến theo cánh quân phía Đông. Ngày 14 tháng 12 năm 1967, Tỉnh ủy và Bộ Chỉ huy Mặt trận Kon Tum cử đồng chí Trần Thanh Dân - Bí thư Ban Cán sự H5 cải trang đi hợp pháp vào nội ô kiểm tra tình hình và công tác chuẩn bị, phục vụ cho việc quyết định của kế hoạch tấn công và nổi dậy. Phương án của ta là lót một bộ phận đặc công vào nội ô trước ngày nổ súng, đưa cán bộ chỉ huy cải trang hợp pháp vào điều tra các mục tiêu, khảo sát đường ta hành quân công khai để tiếp cận mục tiêu sẽ tấn công. Ban Cán sự thị xã đã chọn một số anh chị em cơ sở ở bàn đạp lõm và căn cứ nội thị đưa cán bộ chỉ huy đi chuẩn bị chiến trường, ra vào thị xã bằng nhiều hình thức. Cơ sở đã cung cấp cho ta cả bản đồ thị xã và các mục tiêu bên trong, chuẩn bị nơi trú và đưa đón đặc công vào trú, nơi cất giấu vũ khí, vận chuyển vũ khí các nơi sẽ cất giấu phân tán cho đặc công. Ban Cán sự còn bố trí một số cơ sở đón nhận, nuôi giấu, bảo vệ và phục vụ đưa các chiến sĩ đặc công tiếp cận mục tiêu làm nhiệm vụ. Trước 30 Tết độ một tuần, không khí chuẩn bị vui Tết đón Xuân của đồng bào thị xã không kém phần nhộn nhịp như thường lệ, trong một tình cảnh phố xá binh lính, cảnh sát địch canh phòng nghiêm ngặt, xét hỏi gắt gao, nếu có ai sơ hở một tí thì bị chúng bắt vào cật vấn, phạt vạ hoặc bị giam cầm... nhưng ai nấy cũng hối hả lo cho mình có ngày vui đón năm mới. Trong khi ấy thì chúng ta có những chuyến hàng và khách đặc biệt cũng ra vào thị xã chuẩn bị cho đón “lễ giao thừa Mậu Thân”. Trên các phương tiện: đi bộ, xe máy, xe đạp, xe lam và cả xe Jeép của sĩ quan ngụy,... lần lượt vận chuyển từ nội thị ra căn cứ A25 (bàn đạp Trung Tín) và ngược lại từ A25 vào lõm căn cứ Trung Lương nội thị. Công việc lại càng khẩn trương và nhộn nhịp hơn nhiều việc chuẩn bị Tết của người dân. "Hàng” ra là mấy trăm bộ quân trang ngụy do cơ sở quyên góp mua sắm đủ cho Tiểu đoàn đặc công 406, đơn vị vũ trang thị đội và An ninh vũ trang tĩnh cải trang, thuận lợi cho việc hành quân công khai trên đường phố để dễ tiếp cận mục tiêu tấn công địch. “Hàng” vào là hơn tạ vũ khí, đạn dược được ngụy trang dưới dạng bao cà phê, lúa, ngô, than, củi, chậu cây cảnh, hoa tết... cũng được vận chuyển trên các phương tiện như trên. Tuy nhiên, cái khó nhất là hai khẩu B40 được ta bỏ vào trong hai bao than củi trên xe lam, có khách hỏi vui: “Hôm nay có quà Tết gì mà to nặng thế ông chủ...?”. “Than củi đấy, chớ có nặng chân bụi bay vào mũi...” tiếng đáp của chủ xe cơ sở Tòng Ký (tức Dư Tư Tòng). Hàng về đến đích, người nhận thất hứa nên cơ sở Tòng Ký chuyển về nhà mình cất giấu, đến tối 30 Tết giao lại cho các chiến sĩ tại quán Cao Nguyên. Hồi hộp và lo lắng nhất là hai bao “cà phê” được đưa lên xe viên trung úy pháo binh ngụy Phan Văn Trương, với đoạn đường hơn 4 cây số mà sao cảm thấy quá xa, rồi với những lời hài hước lả lơi, tình tứ của chủ “cà phê” với chủ xe làm vơi đi cơn lửa đang cháy lòng của cơ sở Bảy Lý. Cô thở phào nhẹ nhõm cất lời chào cảm ơn viên trung úy, “mìn” và người xuống xe an toàn. Cùng lúc, “hàng” của Phận, của Mười, của Tình và của nhiều đồng chí khác cũng về đích chiều 29 - 30 Tết. “Khách” là 12 chiến sĩ đặc công được ta lót vào nội thị trước hai, ba ngày để hoàn tất công tác kiểm tra việc chuẩn bị vị trí ở mục tiêu Tòa hành chính Kon Tum và làm nhiệm vụ mở đột phá khẩu, mở màn cho đợt tiến công khi đơn vị chủ công đã tiếp cận mục tiêu. Nơi trú là quán Cao Nguyên. Cái lo nhất là có hai chiến sĩ đi trên xe viên trung úy pháo binh và xe của lính Lôi Hổ, nhưng cơ sỏ vẫn khéo léo che mắt địch và bảo vệ về đến đích an toàn. Đoàn “khách” thứ hai là Tiểu đoàn trưởng đặc công Nguyễn Phi Hùng, các đại đội trưởng đặc công và Thị đội vào kiểm tra, quan sát tận mắt mục tiêu và các vị trí của từng mũi tiến công cùng xác định các con đường hành quân thuận tiện cho việc tiếp cận. Khách vào ra cũng bằng phương tiện như chuyển hàng, và trên phong cách phù hợp của từng đốì tượng như: thợ rừng, dân buôn, thương gia, nông gia, nhà giáo, công chức... Vào ra và khi làm nhiệm vụ được cơ sỏ hướng dẫn đi lại, ăn ở đều chu tất và đưa về căn cứ an toàn vào chiều 26 và 27 giáp Tết Mậu Thân. Ngoài ra, thường hay vào ra, ăn ở làm công tác là các đồng chí Nguyễn Thế Vũ, Trần Thanh Dân, Nguyễn Phô, Nguyễn Thị Thanh Vân... cũng đều được bảo vệ an toàn trong một thời gian dài vào cuối năm 1967 và đầu năm 1968. Đêm 30 Tết, cánh quân phía tây hành quân theo hành lang đã chọn, sang phía nam Đắk Cấm đi hướng tây nam lên vượt qua quốc lộ 14 - nơi đỉnh dốc cầu Đắk Cấm, vòng hướng nam vượt suối Rỏ Rẻ đi về phía đông nhập vào đường lớn trước Bệnh viện Kon Tum thẳng tới đường 14 đoạn cắt ngang, qua đường Bà Triệu, mỗi đội nhanh chóng tiếp cận mục tiêu thì cũng vừa lúc pháo giao thừa trong thị xã nổ ran. Trong lúc các chiến sĩ đang trên đường hành quân từ bên ngoài vào thị xã thì ở nội ô, tại quán Cao Nguyên đường Hàng Keo - Trung tâm của lõm căn cứ Trung Lương, mặt tiền của quán bài trí cảnh đón Tết rực rở thì bên trong của gác hai là nơi trú quân của đội đặc công và tiếp nhận vũ khí từ các hướng chuyển đến. Các chiến sĩ ta đã hoàn thành việc chuẩn bị mọi việc trong tư thế chiến đâu của người lính đặc công sẵn sàng xuất quân. Đúng giờ hẹn, “cảnh sát” Năm Diêu cùng Châu, Hòa và Muộn với trang phục là những chiếc áo dài bằng dạ ấm, bạt đi mưa... đã ngụy trang cho các chiến sĩ đặc công và che giấu vũ khí, nhất là cho súng B40, lần lượt đưa từng chiến sĩ đến vị trí ém quân an toàn. Mọi việc cho trận chiến đấu ở nội ô đã hoàn tất và đảm bảo bí mật tuyệt đối trước 12 giờ đêm 30 Tết. Khi tiếng pháo giao thừa đón Xuân của nhân dân thị xã nổ giòn, đội đặc công đã xong việc chuẩn bị của mình, thì cũng là lúc Tiểu đoàn đặc công 406 và các đơn vị chiến đấu nội thị cũng trên đường công khai hành quân tiếp cận mục tiêu, các mũi của đoàn công tác dân vận đi cùng quân đội đã vào nội thị. Ban chỉ huy trận nội thị chúng tôi đã đến vị trí xóm bệnh viện Kon Tum. Tất cả mọi diễn biến trong thời gian này, Ban chỉ huy thường xuyên nhận tin tức của liên lạc đường bộ báo về đều bảo đảm an toàn, bí mật. Thế là sự hợp đồng giữa các đơn vị chiến đấu mật tập, cường tập, bí mật và hành quân công khai, giữa trên và dưới đều ăn khớp, đúng giờ. Giờ G đã đến sau giờ giao thừa Mậu Thân, tiếng bộc phá mở màn cho chiến dịch nổ vang tại tòa hành chính tỉnh trưỏng Kon Tum, rồi liên tiếp, tiếng súng các loại của quân ta khắp nơi nổ vang thay cho tiếng pháo giao thừa của đồng bào trong đêm. Bị đánh bất ngờ, bọn địch hoảng loạn cố thủ dưới hầm, một số bỏ chạy, số ít chống cự. Quân ta lần lượt giải quyết các ổ đề kháng của địch. Điều khó khăn không lường hết là Đại đội công binh không đánh sập được cầu Đắk Bla. Trung đoàn 24 đêm ấy không đánh được biệt khu 24 ngụy nên lực lượng chủ lực mạnh nhất của địch vẫn còn nguyên, sau khi hoàn hồn chúng tổ chức phản kích. Từ biệt khu 24 và quân Lôi Hổ ở phía nam cầu Đắk Bla đã tiến quân bao vây, đánh vào các mục tiêu ta đang chiếm giữ, xe tăng, thiết giáp, bộ binh chúng phong tỏa hết các con đường ra vào thị xã. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch lúc này diễn ra quyết liệt, các chiến sĩ ta dũng cảm đánh lui các đợt phản kích của địch trên từng điểm chốt, từng đường phố , ta bị thương vong nhiều không tiến lên được, nên theo lệnh phân tán đánh nhỏ lẻ. Ta đưa thêm đội 2 vào cũng không tiến lên được. Gần 6 giờ ngày mồng 1 Tết thì liên lạc điện đài và cả đường bộ giữa Tiểu đoàn 406 và chỉ huy bên ngoài bị đứt. Qua điện đài của địch, ta biết được suốt ngày hôm ấy đến hôm sau, các tổ chức nhỏ lẻ của ta bám đánh địch và lần lượt rút ra. ở sân bay, địch không đánh được Tiểu đoàn 304 của ta, đến khi có lệnh chủ động rút về. Trung đoàn 24 của ta đêm đầu không hoàn thành nhiệm vụ, đêm sau tấn công vào biệt khu 24 ngụy, mất thời cơ và không còn yếu tố bất ngờ nên cũng chỉ đạt yêu cầu rất thấp. Hai đội công tác dân vận và cán bộ chính trị cũng được lệnh rút ra. Cuộc tấn công và nổi dậy của ta kết thúc đợt một. Ngày 4 tháng 2 năm 1968, địch bắt đầu khủng bố, trong vòng 15 ngày, chúng bắt 450 người mà chúng nghi ngờ, trong đó có 55 cán bộ, đảng viên và cơ sở của ta. Lõm căn cứ nội thị và bàn đạp bên ngoài bị đánh phá. Cơ sở còn lại không liên lạc được với lãnh đạo thị xã. Phải mất một thời gian dài ta mới khôi phục lại được cơ sở ở bàn đạp bên trong. Từ đây tổ chức cơ sở được phát triển ngày càng rộng lớn, phong trào cách mạng trong quần chúng mạnh lên. Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 ở thị xã Kon Tum nổi lên mấy vấn đề: ⁃ Một là: Ta đã đồng loạt tấn công vào các vị trí đầu não quan trọng trong sào huyệt địch, phối hợp với chiến trường trên toàn miền Nam, tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Điều đó chứng minh rằng, ta có thể đánh vào cơ quan đầu não địch, có thế tiếp cận địch mà chúng không hể hay biết dù lực lượng chúng đông đảo, đồn bốt trong ngoài dày đặc, mật vụ gián điệp cài cắm khắp nơi nhưng do chúng chủ quan, sơ hở, không được lòng dân. ⁃ Hai là: Tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ ta rất kiên cường, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Cơ sở cốt cán và nhân dân hết lòng, hết sức phục vụ cho cuộc tấn công không ngại tù đày, tra tấn, thiệt hại đến tính mạng. Cơ sở của ta ở thị xã đã dám đứng lên hành động cách mạng với tinh thần cao cả, quân và dân đã phối hợp, giúp đỡ nhau cùng tấn công địch. Điều đó cho thấy, có cơ sở, có dân thì kế hoạch tiến quân, lót quân, vận chuyển, cất giấu vũ khí và mọi công việc khác đều bảo đảm bí mật, bất ngờ và tuyệt đối an toàn. ⁃ Ba là: Qua cuộc tiến công và nổi dậy này, yếu điểm của ta cũng bộc lộ rõ: vẫn còn một số cán bộ ngại hy sinh, do dự, rụt rè nên không hoàn thành nhiệm vụ; kế hoạch của một vài đơn vị thiếu hoặc không chuẩn xác, thông tin liên lạc chiến đấu của ta quá kém, không bảo đảm nhanh cho chỉ huy xử lý tình huống; trình độ nghệ thuật chỉ huy còn non yếu; sử dụng cơ sở phục vụ chiến dịch bị bại lộ, khi có kẻ bị bắt khai báo thì bị địch đánh phá vỡ. Đặc biệt thời điểm đó có phần bất lợi, vì trên đường hành quân vào nội thị lại nhận lệnh khẩn của Bộ Tổng Tham mưu cho hoãn cuộc tấn công đêm 30, chuyển vào đêm mồng 1 Tết (nơi nào không hoãn kịp cứ thực hiện theo kế hoạch), với ta không thể hoãn, do vậy mà ý chí rụt rè, tiêu cực của số cán bộ càng tăng, hạn chế quyết tâm, không dám đánh. Đây cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế thắng lợi và gây tổn thất nhiều của lực lượng chiến đấu nội thị. Ta giành thắng lợi quan trọng, nhưng tổn thất không nhỏ. Tổn thất này ảnh hưởng đến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Tuy nhiên, thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, Mỹ càng thất bại, không thể không rút quân về nưóc, không thể gượng dậy được. Còn ta thì nhanh chóng khôi phục, xây dựng củng cố, phát triển lực lượng về mọi mặt, liên tục đánh địch trên tất cả các mặt chính trị, vũ trang, binh vận và tiếp tục tiến lên, đi đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng Kon Tum, góp phần vào công cuộc giải phóng miền Nam, thông nhất đất nước mùa Xuân 1975.
    

NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG THỂ QUÊN

NHÂN KỶ NIỆM  40 NĂM  NGÀY GIẢI PHÓNG CAM PU CHIA

        NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG THỂ QUÊN
            ( Nguyễn Thế Liêm - Trung đoàn 24 )

 Sau khi cùng các đơn vị của Sư đoàn đập tan tuyến phòng thủ của địch ở đường 7 , Trung đoàn 24 của tôi nhanh chóng tiến về phía bờ sông KongPongCham . Ngày 3/ 1-1979 , Trung đoàn đã có mặt tại thị trấn Suông -Chúp bờ sông đối diện thị xã Kong Pông Chàm, nơi đây tàn quân Pôn Pốt vừa tháo chạy, chúng đã phá huỷ đốt phá quân lương, nhà cửa trước khi rút chạy về phía thi xã Kong Pông Chàm, cả một dãy nhà cửa ven sông không còn nguyên vẹn, âm ỉ các đám cháy khét lẹt của kho lương thực, quân trang quân dụng địch đã tiêu huỷ khi rút chạy; dọc bờ sông còn sót lại ít nhà lợp lá tồi tàn sàn gỗ sát đất, bờ sông bên này nơi ta tiếp cận dốc đến sát mép nước chỉ có lối xuống phà sang sông là thoải; khi Trung đoàn đến đây, các phương tiện vượt sông như phà, thuyền đều bị chúng phá huỷ hoăc đưa đi nơi khác nhằm làm chậm bước tiến của quân ta . Trung đoàn 24 chúng tôi lúc này được Sư đoàn giao nhiệm vụ tổ chức một Tiểu đoàn được ca nô chở đánh xuôi theo dòng Mê Công từ KongPongCham về Nông Penh . Đây là một nhiệm vụ rất nặng nề và khó khăn , đơn vị chưa khi nào tác chiến theo hình thức này . Tuy vậy toàn  Trung đoàn vẫn xác định quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ . Chiều ngày 2/1/1979 , tôi từ đại đội 14 đươc gọi về ban tham mưu trung đoàn, tôi nhận ra những cán bộ thân quen vỉ hơn 1 năm chiến đấu có nhau có nhiều sự kiện mà tôi biết các anh , như  anh Cự, anh Hợi - tham mưu, anh Kha, anh Lữa - tác chiến , anh Xe, anh Trữ, anh Đáng trinh sát , một số anh cán bộ thuộc tiểu đoàn 4..  chúng tôi xem bản  đồ để nghe kế hoạch vượt sông Mê Công đánh vào thủ đô  Nong Penh-Cam Pu Chia . Chúng tôi lắng nghe và được biết có nhiều cánh quân khác cùng tiến vào giải phóng Nong Penh nên nhiệm vụ dù xa lạ nhưng cũng yên tâm vì nhiệm vụ của chúng tôi là không  đơn độc
Tôi nguyên là lính trinh sát của trung đoàn, sau đi học bổ túc pháo binh tại Trường sỹ quan Pháo binh 400 về. Tôi có  hơn 1 năm không ốm ngày nào luôn bám sát đơn vị và tham gia nhiều trận đánh của Trung đoàn nên tôi hiểu vị trí của mình khi tham gia chiến dịch này.
Dòng sông Mê Công phía trước mặt chúng tôi, nơi bến phà vượt sang Kong Pông Chàm thì đây là chỗ khúc sông hẹp nhất, giới hạn hai bờ đo được khoảng trên 1200 m, mặt nước chỗ hẹp nhất khoảng 800m,
Khoảng cách từ đây đến cầu Saigon 2 - NongPenh khỏang 60 km , nhiệm vụ của chúng tôi là đưa tiểu đoàn 4 tiếp cận theo đường sông Mê Công tiếp cận phía chân cầu( cấu bắc qua song Mê Cong nối  PNong Pênh đến Sài Gòn) tôi không nhớ tên cầu ghi trên bản đồ chỉ nhớ ghi chú Saigon2.
Khi tới cầu, vận động theo đại lộ Mi No Vông tiến vào Hoàng cung Cam Pu Chia , khi vào đến Nông Penh sẽ có các hướng dẫn bắt liên lạc với đơn vị bạn cùng nhiệm vụ
Nhiệm vụ khó khăn của  đơn vị là việc cơ động trên sông, được biết hiện lúc ấy đang điều một số phương tiện thuỷ  từ phía dưới lên, song đơn vị là  chiến trường rừng núi nay cơ động và chiến đấu trên sông nước thì mình chưa có kinh nghiệm... hơn nữa nhiều anh em quê miền núi giờ cho bơi sông để vào vị trí  chiến đấu sẽ không thuận lợi, có thể có người hy sinh trước khi vào bờ do đuối nước... Vì vậy phải luyện tập để giảm thiểu hy sinh, bảo toàn lực lượng trước khi lên bờ.
Việc luyện tập trên sông không thể tiến hành ban ngày vì mặt sông trống trải, hoả lực của địch bảo vệ bờ bên Kong Pong Chàm sẽ bắn phá , nên phải luyện tập vào ban đêm .

Những ngày nằm bên sông Mê công chuẩn bị vượt sông Mê công, tôi được giáo nhiệm vụ trong tổ vượt sông cùng Tiểu đoàn 4 , sẵn sàng theo hướng từ cầu Sai gòn2 (cầu qua sông Mê Công đã bị đánh sâp )  đánh từ hướng đông vào thủ đô PNom Penh. Tổ đặc biệt chúng tôi gồm khoảng 20 người . Trong đó có anh Hợi - Tham mưu, anh Kha , anh Lữa - tác chiến, anh Xe trinh sát và cán bộ của Tiểu đoàn 4 . Cứ tối đến tổ chúng tôi lại ra sông Mê Koong tập luyện . Ban ngày chúng tôi quan sát các vật chuẩn bên kia sông . Thành phố Kong pông Chàm hiện lên rất rõ trước măt; ống nhòm định cự hệ số 8x12 quan sát rõ từng con đường ven sông , cả chợ Kong pông Chàm lớn như chợ Đầm ở Nha Trang của nước mình vậy .Dòng sông Mê công trải rộng mênh mông....   Chiều rộng mặt nước mùa này đo trên bản đồ khoảng 800m , chiều rộng hai bờ khoảng 1200m; bờ bên thị trấn Suong-Chúp dốc, bờ bên phía thành phố Công Pông Chàm thoải, những bãi cát trắng trải dài bờ sông, vượt sông Mê cong ở đoạn này hết sức khó khăn vì địch bố phòng dày các bao cát trải khắp hướng đối diện hướng tiến của ta.mặt hướng tiến công của ta trống trải không địa hình địa vật che đỡ . Qua ống nhòm bội số 8 x12 quan sát rất rõ từng đoạn đường , từng vị trí địch bố phòng dày đặc hướng xuống mặt sông...
   Nhiệm vụ của tổ đặc biệt của tôi là cùng Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn cơ động theo dòng sông Mê công đánh thẳng vào thủ đô Nông Penh . Buổi tối nào cũng vậy chúng tôi tập tiếp cận các xuồng máy, các thuyền máy Kole , tập khởi động máy , tập lái xuồng , nhảy  xuống nước và tiếp cận bờ... Dòng sông về đêm tĩnh lặng và mênh mông, phía thành phố Koong pông Chàm  như lặng câm im lìm chờ những trận bão lửa đạn nay mai..
Chúng tôi để trần và tập, mấy chục con người cùng tập vượt sông chờ ngày xuất trận.. Nước chảy mạnh , mát lạnh .. lên xuồng bơi cách bờ khoảng 100m rồi nhảy xuống nước tiếp   cận bờ... mấy anh em quê vùng xuôi thì có lẽ đỡ hơn, tôi quê Tuyên Quang, ít bơi lội nên khoản này vất vả hơn.. Phải lựa dòng trôi vào bờ để đỡ tốn sức mà vẫn bám được đội hình  , kịp thời chỉ thị mục tiêu cho bộ đội nữa.. chợt có lúc nhớ bài học thời học sinh rằng dòng sông Mê Công vùng gần Biển hô có nhiều cá sấu, chợt ớn lạnh .. song khát vọng sống và nhiệm vụ phải hoàn thành mặc dù mình có thể hy sinh khi chưa kịp đến bờ... Mặc kệ. bên cạnh mình sẽ còn đồng đôi.. không ai bảo ai, có lẽ tất cả đồng đội đều chung suy nghĩ như mình mỗi đêm một hai tiếng tập như vậy, rồi trở lại bờ , ai về đơn vị nấy, đều đang chờ xuất phát vào trận... Trên bờ vẫn những mùi khói mùi khét cháy của các kho quân lương địch đốt cháy khi bỏ chạy . Ngày 7/1/1979 , do các hướng tiến quân của ta phát triển rất nhanh , đã chiếm được thủ đô Nông Fenh nên nhiệm vụ đánh phát triển theo sông Mê Kông vào Nông Penh của Trung đoàn 24 chúng tôi cũng thay đổi . Đánh phát triển theo đường 6 về hướng thị xã Kông Pông Thom .
   40 năm qua đã trôi qua nhưng kỷ niệm về những ngày tập vượt sông đánh vào Nông Penh  tôi vẫn không thể nào quên .


😍


    

TÂY NGUYÊN - NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

TÂY NGUYÊN - NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Đồng Thị Hiển - Nguyên Y sĩ Viện 1, Viện 211


Tháng 2 năm 1965 ngày ấy tôi còn trẻ lắm 17 tuổi, cái tuổi đang trưởng thành đang biết yêu đương xong cũng từ ngày ấy tôi rời ghế nhà trường bước chân vào quân ngũ nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.
Đây cùng là lúc máy bay giặc Mỹ bắt đầu đánh phá ra miền Bắc. Quê tôi có sân bay Kép và có ga tàu hỏa, là một ga đi lên phía Bắc của Tổ quốc. Thanh niên phụ nữ quê tôi náo nức tình nguyện vào Nam đánh Mỹ, tôi vào học y tá ở Quân y Viện 110 từ tháng 4 năm 1965 đến tháng 12 năm 1965 thì học xong và nhận nhiệm vụ đi B. Tháng Giêng năm 1966 lên đường vào một đêm đông giá lạnh, tôi được đi đoàn 2 của Viện 211 bằng xe com mảng ca mỗi xe chở 5 người.
Xe của tôi gồm có: Chú Bích, chú Lợi, anh Giả, anh Trang và tôi. Xe đến làng Ho thì nghỉ lại đón Tết ở đây. Sau vài ngày nghỉ tại làng, đoàn xe lại lên đường, đêm chúng tôi đi qua sông Bạc, xe tôi gồm 5 anh em bỗng dưng lăn 3 vòng từ trên đường xuống đến sát bệ sông thì chổng bốn bánh lên trời. Mọi người lồm cồm bò dậy, tôi buồn cười quá, tôi cười thật to thế là bị mắng. Chú Lợi, chú Bích mắng: “Sắp chết còn cười được” nhưng tôi vẫn cứ cười. Khi lái xe mở được cửa chui ra khỏi xe bắn 5 phát súng chỉ thiên thì không hiểu từ đâu nữ thanh niên xung phong đến khoảng 20 người, tôi không nhìn được rõ thế là như đàn kiến khênh bổng chiếc ô tô lên tận trên đường. Xe lại nổ máy lại tiếp tục hành quân và đi trong đêm tối, bằng những chiếc đèn gầm. Sau hai đêm đi vòng tránh sân bay Tà Không đến rạng sáng ngày thứ ba thì tới Tăng Cát Nọi bị máy bay Mỹ oanh tạc cả đoàn xe nằm lại giữa con suối, xe thì cháy xe thì hỏng. Đến chiều ai bị thương thì được cáng đi trạm xá, còn tất cả xuống xe đi bộ.
Từ ngày đó, tôi cũng không còn nhớ là bao ngày đi bộ chỉ nhớ rằng một buổi chiều bị sốt cao không đi được nữa tôi được đưa vào bệnh xá 47 của Đoàn 559. Điều trị một tuần thì hết sốt và tiếp tục hành quân theo kịp đơn vị, đến ngã ba Đông Dương thì được nghỉ lại nhận nhiệm vụ .
Khi về đến đơn vị thì gạo không có, các anh các chị đi lấy sắn 6-7 ngày mới về đến đơn vị, củ sắn đã chạy nhựa. Chú Chương bác sĩ lúc đó cứ phải đem sắn vùi xuống cát ăn dần. Còn hàng ngày phải đi lấy măng lồ ô về xào không mỡ, cứ 5 người một xoong ăn với sắn. Tôi cứ nghĩ cuộc sống thế thì làm sao sống được chắc một ngày nào đó mình sẽ phải chết, nhưng không, cứ mỗi ngày tôi một khỏe ra mỗi bữa tôi ăn 2 bát măng và một bát cơm độn sắn thế là tôi cũng đi lấy gạo được và năm 1966 cũng đã qua. Sang năm 1967, tôi được vềKhoa 40 làm chuyên môn phục vụ cho cán bộ, chiến sĩ các đơn vị ốm đau, bịthương về điều trị và ngày tháng cứ trôi đi, cuộc sống cảm thấy bình thường. Xong sang năm 1968, khi đợt tổng tấn công nổi dậy diễn ra thì cả các thủ trưởng đến y, bác sĩ đều phải đi thồ gạo, thồ thương binh.
Sáng thì thồ gạo ra các binh trạm, chiều thì thồ thương binh về, lúc đó tôi khỏe lắm, cứ 1 tạ gạo đẩy đi, chiều lại lai 1 thương binh về. Chiếc xe đạp Phượng Hoàng của Trung Quốc không phanh, dùng chân phải dép cao su làm phanh chúng tôi cho trôi dốc. Cứ ngã lại dậy thế mà không bị gẫy chân gẫy tay gì hết. Sau đợt phục vụ chiến dịch Mậu Thân, ăn Tết xong tôi được đến trường Quân y Tây Nguyên học y sĩ.
Năm 1969, học xong tôi được điều về tăng cường cho đội phẫu thuật tuyến trước Viện 1 trong lúc Viện 1 đang gặp nhiều khó khăn phải phục vụ thương bệnh binh đi đánh Strung Treng về. Tháng 4 năm 1970, tôi chính thức được về Viện 1 lúc đó đóng tại rừng Le ở bờ sông Sê Ca Sụn, trong lúc gạo không có, hàng ngày đi bắt cá sông. Có loại cá hay ăn hạt Mã Tiền, những con cá này vừa to, đen gọi là cá Mỹ châu, nếu ăn thịt cá này người cũng say.
Lúc tôi về khoa có thủ trưởng Châu là Trưởng ban và có 4 cô gái từ Strung Treng về các khoa làm hộ lý, một thời gian đi học y tá vì lúc đó thương binh, bệnh binh ít, nhân viên đi tăng gia trồng sắn, trồng rau hết năm 1970.
Sang năm 1971, chúng tôi chuyển về núi Hổ, ở cột mốc số 1 vẫn trên đất Cam-pu-chia. Do đơn vị ở trên đỉnh núi nên việc đi lại thật khó khăn, lúc đó tôi phụ trách anh em thương bệnh binh (khinh thương) đi lấy gạo từ đỉnh núi xuống đến kho thì đã trưa. Chiều về, tói mới đến đơn vị. Ngày nào ở nhà lại phải động viên thương bệnh binh đào hầm, làm nhà, đi lấy sắn về độn cơm cho thươngbinh. Nhân viên chỉ được 1 bát cơm còn ăn thêm sắn luộc nhưng cuộc sống vẫn vô tư yêu đời, tình cảm đồng đội sao thương nhau đến thế!
Sang năm 1972, đơn vị lại chuyển về H35 gần sông Pô Cô, công việc thì vất vả cơ sở chưa có gì thương bệnh binh thì đông lại phải vừa làm lán trại vừa điều trị, nhưng có một điều đáng nhớ nhất trong đời người lính nữ như tôi: Một ngày tháng 4 năm 1972 cả một đêm tôi phải đứng mổ đến 5 giờ 30 phút sáng vệ binh báo tôi phải đi xuống bản cấp cứu cho dân. Sau khi mổ xong, vệ binh đưa tôi đi khoảng hơn 2 giờ đồng hồ thì tới một bản ở sát sân bay Kleng của huyện 67 Kon Tum có một sản phụ là vợ của một anh người dân tộc làm Huyện đội phó. Khi tôi và một vệ binh đến nơi thì bà mẹ đó đã chết, còn một cháu gái khoảng 3kg đã được cắt rốn nằm gần mẹ cứ khóc ngất. Tôi có hỏi thì được biết họ sẽ cho chôn đứa bé cùng mẹ theo thủ tục của đồng bào. Khi đó trong lòng tôi vừa như choáng váng, vừa dâng lên niềm thương xót đứa trẻ vô tội. Không hiểu sao như một cái máy tôi lấy săng (khăn mổ) và những đồ đi đỡ đẻ, đỡ xong gói cháu lại, và nói tôi sẽ đem cháu về nuôi thì bố cháu nói bộ đội lấy đâu sữa nuôi cho cháu, nhưng lúc đó tôi cứ gói mang về. Chiều tôi về đến đơn vị, chính trị viên là ông Quế lúc đó mắng tôi. Công việc thì nhiều lại sắp hành quân làm sao nuôi nổi. Sau một đêm cháu đói khóc, tôi sợ quá nhưng không biết làm sao được, 5 giờ sáng tôi thấy anh nuôi dậy tôi cũng dậy xin ít nước cơm và ít đường hòa vào cho cháu uống. Cháu uống no là ngủ cho đến trưa, tôi lại xin nước cơm và sữa của thương binh cho cháu ăn, cháu cứ ăn như vậy và cũng mau lớn và tôi đặt tên cho cháu là Giáng Hương.
Ba tháng sau, dân bản nghe tin cháu còn sống thế là họ đem theo trứng gà, gạo cho cháu và cũng từ đấy tôi nuôi cháu bằng nước cơm của anh nuôi. Lúc đó có chú Cầu làm quản lý chú cho sữa, đường, nước cơm, đi khám bệnh thì tôi lại địu cháu theo đến từng phòng khám, những hôm mổ thì cháu lại ở bếp cùng với các cô các chú, cho đến cuối năm 1972 đơn vị lại di chuyển lên thị xã Tân Cảnh, Đắk Tô. Sau này lại chuyển vào Con Treo, Con Sóc - Kon Tum và cháu vẫn sống những ngày bình thường. Cho đến tháng 4 năm 1974, tôi để cháu lại đơn vị cho chú Cầu, cô Út, cô Tơ vì tôi chuyển về Viện 211 ở ngã 3 Đông Dương cho đến ngày giải phóng miền Nam và tôi cũng không được gặp lại cháu. Sau này đơn vị đi theo chiến dịch về đến Bình Dương và tôi có nghe cháu Hương được một gia đình ở Bình Dương nhận nuôi. Tháng 9 năm 1975 tôi về miền Bắc và đến nay đã nghỉ hưu, có dịp ôn lại bao truyện buồn vui, lại nhớ đồng đội, người còn, người mất; có đêm tôi không sao ngủ được nghĩ đến các đồng đội đã hy sinh hồi đó, không biết đã đưa được về quê chưa? và cháu Giáng Hương hiện nay thế nào
 Tác giả Đồng Thị Hiển

    

NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ NGÀNH QUÂN GIỚI MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN (TIẾP THEO

NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ NGÀNH QUÂN GIỚI MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN (TIẾP THEO
                                                          ( Đinh Đức Cường và Ngô Khắc Thường )
             
 
   3. “NHỆN” CHUI KÍNH NGẮM

Đó là những ngày cuối tháng 10 năm 1974 cả mặt trận đang chuẩn bị khẩn trương cho chiến dịch mùa khô thì tin báo động trời từ một đơn vị của Trung đoàn xe tăng 273: nhện chui vào kính ngắm xe tăng làm tổ không thể quan sát được. Đại đội báo cáo lên tiểu đoàn, tiểu đoàn báo lên trung đoàn.
Trợ lý vũ khí khí tài trung đoàn đi kiểm tra ngay về báo cáo lại là đúng. Lữ đoàn báo cáo ngay về Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, tiếp đó điện thoại từ Bộ Tư lệnh Mặt trận giội xuống ông Trần Thực. Ông lo lắng gọi tôi lên ông bảo:
- Trung đoàn 273 báo cáo về Bộ Tư lệnh là nhện chui kính ngắm xe tăng mà lô kính ngắm này là đích thân cậu phụ trách kiểm tra sửa chữa trước mùa mưa vừa rồi để chuẩn bị cho mùa khô này, cậu xem lại xem sơ xuất ở chỗ nào không? nếu đúng như họ báo cáo cậu sẽ bị kỷ luật nặng và tôi cũng không thoát. Ngày mai đơn vị họ sẽ mang về đây, cậu chuẩn bị biện pháp xử lý đi.
Tôi báo cáo với ông:
- Chuyện này lạ thật, em không tin là có thật, vì chính tay em làm và kiểm tra kỹ từng cái một, em hiểu tầm quan trọng của nó. Nếu đúng em sẽ chịu một mình không để liên lụy đến anh và anh em đâu.
Lúc này tôi cũng chưa biết làm sao và lo cả đêm không ngủ được. Kỷ luật chiến trường là rất nặng.
Hôm sau đơn vị mang kính ngắm đến, tôi kiểm tra cẩn thận từ bên ngoài thấy không có vết tháo mới nhưng thấy bồ hóng bếp còn bám vào kính ngắm mặc dù đã được lau chùi qua và còn thấy cả túi ni lông đựng gạo của Trung Quốc bị chảy ra dính vào thân kính ngắm, tôi đưa mắt vào ông kính và đã biết rõ thủ phạm.
Tôi hỏi: Các đồng chí mang kính ngắm về bảo quản ở đâu?
- Dạ đại đội trưởng em bảo trời mưa không lắp vào xe, mà cho vào túi ni lông dầy buộc chặt lại để lên gác bếp cho khỏi bị ẩm.
Thế là đã rõ lính tăng sợ để ở ngoài xe hơi nước sẽ làm hỏng kính ngắm nên cho vào túi ni lông và để trên gác bếp, lửa cháy to nóng quá nên các thấu kính bị nhả nhựa loang, ra như hình con nhện, anh em không biết điều đó và không có kinh nghiệm quan sát lên cứ tưởng là vậy, thật hú vía.
Sau khi phân tích tôi cho tháo ra thì đúng như vậy.
Anh Trần Thực bảo cho lập biên bản ngay vậy là khuyết điểm không phải do xưởng mà do trung đoàn, song 5 cái kính ngắm này bị hỏng 5 chiếc xe tăng sẽ không chiến đấu được ăn nói làm saò với Bộ Tư lệnh.
- Tôi cười bảo: Anh yên tâm đi em sẽ xử lý cho, trên xe công trình xa của ta có nhựa dán kính quang học, em sẽ đích thân làm cho anh xem.
Tôi cho anh em bộ phận quang học, tập trung làm ngay. Nhìn đôi bàn tay tôi vê đôi thấu kính tròn xoe khi thao tác trên bếp còn mọi người "phục sát đất". Sau khi sửa chữa xong giao cho đơn vị, anh Thực phấn khởi lắm, anh nói với tôi: Ta phải soạn ra quy trình bảo quản vũ khí khí tài trong điều kiện của ta để các đơn vị thực hiện chứ không thế này có ngày mang vạ anh ạ.
Anh Thực điện về báo cáo với trên, chuyện này sau này anh em được một trận cười vỡ bụng...

4. PHÁT MINH TỪ NGHỊCH NGỢM

Trong quá trình chiến đấu các loại pháo mặt đất rung giật rất mạnh, qua nhiều trận đánh và khí hậu bất thường các khung kính có vạch khắc (chữ thập) của Liên Xô và Trung Quốc chế tạo làm bằng sợi kim loại nhỏ xíu bị đứt rất nhiều không có vạch chữ thập thì không lấy chuẩn được. Không có dây kim loại thay thế, tôi đã tìm đủ cách như kiểm tra sợi tóc của tất cả anh em, ai sợi bé nhất nhổ lấy thay cho khung chữ thập song, dù sợi bé nhất khi cho vào phóng đại lên cũng to gấp ba bốn lần sợi kim loại cũ và như vậy sai số sẽ lớn và sợi tóc bằng sừng một thời gian sẽ chùng ra võng xuống làm cho độ sai số càng tăng không cẩn thận pháo binh sẽ "đấm lưng" bộ binh như chơi. Nhưng vẫn phải dùng tạm để phục vụ chiến đấu khi chưa tìm ra vật liệu thay thế.
Một buổi sáng, tôi thức dậy chạy vội ra rừng để "xả e" tôi nhìn thấy một màng nhện độc vằn xanh, loại nhện to như đầu ngón tay cái màu xanh rất độc bị nó cắn đau như bò cạp đốt, con nhện đang bắt một con bướm to bị sa vào lưới của nó. Quan sát thấy con nhện mà cả cái màng nhện rung lên chùng xuống với một sự đàn hồi rất tốt và một ánh chớp lóe lên trong đầu. Tôi liền chạy về mở cửa xe lấy cái panh và một ống nhôm ra, tôi dùng panh gắp sợi tơ trắng đục căng trên hai mép ông nhôm độ dính của sợi tơ rất tốt. Tôi liền về xe và ngồi vào làm luôn một khung kính chữ thập, sau khi dán keo vào tôi dùng đầu panh đẩy sợi tơ đang võng xuống, buông tay ra nó lại trở về vị trí cũ; tôi đưa vào kính lúp kiểm tra thì ngoài sức tưỏng tượng và mong đợi sợi tơ đạt chuẩn một cách không ngờ, bây giờ còn kiểm tra độ chịu rung giật của nó nữa, tôi cầm khung nhôm vỗ thật mạnh các kiểu mà sợi tơ vẫn chắc chắn như không. Tôi reo lên gọi anh Ngô Khắc Thường đến và trình bày, anh Thường mừng lắm, đây là vấn đề mà hai anh em tôi đau đầu nhất đã được giải quyết. Sau đó tất cả các kính ngắm được lắp bằng tơ nhện được tôi và anh em ghi số cẩn thận để theo dõi; qua nhiều trận đánh các kính ngắm quay về song không có cái nào đứt dây cả, tôi nói đùa là bây giờ cần thì ta lại bán dây cho Liên Xô. Những sợi tơ nhện rừng Tây Nguyễn đã theo đàn "voi" của chúng tôi đi suốt chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và sau này còn tung hoành ở đất Cam-pu-chia mà ít người biết được. Thật là một điều kỳ diệu.

    

CHUYỆN VỀ NGÀNH QUÂN GIỚI MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN


Những năm đánh Mỹ - Ngụy, chiến trường Tây Nguyên ở xa hậu phương nên việc sửa chữa quân khí gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng với tinh thần vượt lên mọi khó khăn để chiến thắng quân thù, các cán bộ, chiến sỹ ngành Quân giới Tây Nguyên đã say mê nghiên cứu và đã có những đóng góp quan trọng vào chiến công của quân và dân Tây Nguyên. Trang Lính Tây Nguyên trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc những mẩu chuyện về ngành Quân giới Tây Nguyên của đồng chí Đinh Đức Cường và Ngô Khắc Thường - Nguyên cán bộ Ban Quân giới Mặt trận Tây Nguyên .
1. SẢN XUẤT MÌN ĐỊNH HƯỚNG VÀ BỘC PHÁ ỐNG
Từ năm 1968 căn cứ vào tương quan lực lượng ở chiến trường Tây Nguyên - B3, là tác chiến chủ yếu đánh địch hành quân cơ động và co cụm tạm thời. Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên giao cho X53 tập trung nghiên cứu sản xuất các loại mìn định hướng: ĐH7, ĐH10, ĐH20... các loại bộc phá ống 3kg, 5kg, 7kg và các loại quân cụ hỗ trợ khác, đã giúp cho bộ đội ta đánh địch hành quân và co cụm trong công sự tạm thời rất tốt. Từ năm 1968 đến năm 1971, xưởng (X53) đã sản xuất hàng nghìn mìn định hướng, bộc phá ống và quân cụ, đồng thời sản xuất một số chi tiết, phụ tùng thay thế cho súng, pháo và khí tài quang học.
Đến năm 1971, bộ đội chủ lực của ta đã mạnh dạn lên, địch không dám hành quân đánh vào vùng giải phóng của ta mà co cụm trong các đồn bốt, cứ điểm có hàng rào dây thép gai kết hợp với công sự bê tông và bao cát bao bọc rất kiên cố. Ta đã đánh hàng rào bằng các loại bộc phá ống 5kg, 7kg, và mìn định hướng ĐH20 xong kết quả không phá được các lớp hàng rào hỗn hợp của địch, bao gồm hàng rào "cũi lợn", hàng rào chữ A, hàng rào lò xo kết hợp có bề rộng nhiều khi đến 30m. Vì sức nổ của bộc phá và mìn không đủ sức cắt đứt dây thép rất dai, chúng đàn hồi như lò xo tung lên lại bật xuống. Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên giao cho X53 nghiên cứu, sản xuất loại mìn phá rào này, do Ban Quân giới B3 trực tiếp chỉ đạo.
Các đồng chí Nhàn, Hoán được giao chịu trách nhiệm kỹ thuật; sau nhiều ngày đêm nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng dù có tăng lượng thuốc nổ lên thì chỉ có thế làm đứt một phần các sợi dây thép gai vì chúng mềm và bùng nhùng không bị căng cứng nên ít chịu tác động của sóng xung kích và chúng được kết nối với nhau liên hoàn trải trên diện rộng nên không thể thổi bay tất cả dù có cho tăng chất nổ lên nữa.
Vậy muốn cắt đứt hàng rào này, phải nhờ sóng xung kích và vật cắt kết hợp có độ cứng và sắc cao, sau khi nghiên cứu chúng tôi cho anh em đi nhặt các mảnh bom và đầu đạn pháo về cho vào lò rèn nung đỏ chặt ra để nguyên cạnh sắc sau đó tôi thật già, và xếp vào trong mìn định hướng đem thử nghiệm kết quả các mảnh bom, đạn nhờ sóng xung kích văng đi như một lưỡi dao sắc cắt đứt các dây thép ngọt lịm. Thế là đã có hướng.
Chúng tôi tiếp tục điều chỉnh lượng thuốc nổ và vị trí góc đặt của các mảnh bom trong mìn định hướng, cho phù hợp với hàng rào của địch để các mảnh cắt có tác dụng nhiều nhất. Cuối năm 1971 thí nghiệm đã thành công mỹ mãn được Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên công nhận.
Cuối năm 1972, khi ta đánh địch tại cứ điểm Plây Cần đợt 2, ta chính thức đưa loại mìn định hướng này vào sử dụng. Đơn vị sử dụng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 Sư đoàn 10 do đồng chí Tạ Oanh làm Đại đội trưởng tiến hành mở cửa mở, kết quả là toàn bộ số hàng rào dây thép gai bị thổi bay và đứt sạch với chiều rộng khoảng l0m, góp phần cho bộ đội của ta đánh địch. Trận đó Sư đoàn 10 đã tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Plây Cần của địch nhanh chóng, ta ít thương vong. Sau này một sĩ quan ngụy đã thú nhận: Chúng tôi nghĩ các ông không có thứ gì có thể thổi bay hàng rào của chúng tôi như thế, nên đã chủ quan.
Tiếp đó, chúng tôi đã sản xuất loại mìn MĐH35 có thể thổi bay bất cứ loại hàng rào nào của địch, được Bộ Tư lệnh Mặt trận khen ngợi và các đơn vị rất tin tưởng.
Một lần đi công tác gặp một đơn vị bộ đội hành quân, chúng tôi vượt lên và ngồi nghỉ, một lúc sau đơn vị đó hành quân tới, trời mưa đường trơn một anh ngồi bệt xuống thở dốc cạnh chúng tôi, làu bàu: Tay nào nghĩ ra cái loại mìn MĐH35 này đánh thì tốt nhưng nặng quá. Nó thử đến đây gùi quả mìn này xem?
Mấy anh em tôi im lặng nhìn nhau, sau đó về báo cáo lại với cấp trên và bàn cách để giảm trọng lượng quả mìn. Sau đó chúng tôi nghĩ ra làm thành hai nửa quả mìn riêng biệt khi vào trận thì ghép lại thành một để bộ binh đỡ nặng được anh em rất khen ngợi.
2. SỬA CHỮA CÁC LOẠI SÚNG, PHÁO
Trong quá trình chiến đấu cơ động liên tục trong địa hình rừng núi, vũ khí, khí tài luôn bị hư hỏng bởi nhiều nguyên nhân.
Một là: 100% các loại súng máy cao xạ 12,7mm trên xe tăng cơ động từ Bắc vào Tây Nguyên đều bị hư hỏng bởi hai nguyên nhân chính là: - địch đánh phá, và quá trình cơ động trong rừng bị các cành cây ngáng gãy và hư hỏng, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Trần Thực – Xưởng trưởng (X114), chúng tôi đã khôi phục toàn bộ số súng máy trên xe tăng đảm bảo chiến đấu tốt.
Hai là: Cũng do quá trình cơ động từ miền Bắc vào Tây Nguyên bộ phận hành quân của pháo cao xạ 37mm bị rơ mòn, sinh lắc ngang làm cho quá trình cơ động trên đường đi pháo không đi thẳng theo xe kéo mà luôn chuyển hướng lắc sang hai bên, có lúc xoay ngang làm cho xe kéo gặp rất nhiều khó khăn, có khi phải dừng để xử lý tình huống. Nguyên nhân chủ yếu là do một chi tiết mà anh em quen gọi là (bàn tay ếch) của bộ phận chuyển hướng bị rơ mòn quá lớn, trong lúc phụ tùng thay thế không có mà sản xuất mới thì các xưởng quân giới Tây Nguên chưa đủ máy móc thiết bị và trình độ để sản xuất. Qua nghiên cứu, kỹ sư Ngô Khắc Thường - Xưởng phó X114 đề xuất bằng cách tiến hành hàn đắp chi tiết cũ sau đó đưa lên máy bào thay cho máy sọc để gia công rãnh then hoa. Đề xuất này được Ban chỉ huy X114 đồng ý và cho tiến hành làm thử, kết quả là khi thay vào pháo hành quân bình thường. Sau đó chúng tôi đã xử lý hàng loạt đảm bảo cho loại pháo này hành quân cơ động, chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên từ năm 1972 đến khi giải phóng miền Nam.
Cuối năm 1972 đầu năm 1973 lần đầu tiên miền Bắc chi viện cho Mặt trận Tây Nguyên một bộ xe công trình xa 5 chiếc của Liên Xô gồm:
- Xe công trình xa kiểm tra, sửa chữa tên lửa 9K11 và 9M32, 9M32M mà ta quen gọi là A72 và B72.
- Xe công trình xa kiểm tra sửa chữa quang học.
- Xe công trình xa kiểm tra sửa chữa ra-đa.
- Xe công trình xa kiểm tra sửa của máy chỉ huy.
- Xe công trình xa kiểm tra, sửa chữa cơ khí.
Có xe hộ tống đi kèm, với một đội ngũ cán bộ kỹ thuật được đào tạo bài bản từ miền Bắc vào do Trung úy kỹ sư Chu Hiển làm Đoàn trưởng mang mật danh B3-S9 tăng cường cho B3, từ đây sẽ làm cho cục diện bảo đảm kỹ thuật Mặt trận Tây Nguyên thay đổi, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo đã xuống tận nơi kiểm tra động viên anh em.
Tôi nhớ lúc hành quân vào đến; đèo Phu La Nhích chiếc xe công trình xa quang học do tôi phụ trách, Nguyễn Văn Linh lái xe đi đầu khi vượt đèo gần đến đỉnh xe bị dệ xuống mép tà ly âm do một hố bom cũ công binh lấp bị lún. Linh lái xe ga mạnh để chiếc xe vọt lên thì nghe bụp một cái khói mù mịt ở đầu xe, chiếc xe chết máy nằm khự lại, kiểm tra thì xe bị bục đệm nắp máy đường bị tắc vô cùng nguy hiểm hàng đoàn xe nằm phơi trên đèo.
Một đại đội trưởng công binh dẫn mấy chiến sĩ đến, sau khi xem xét hạ lệnh:
- Các đồng chí rời xe để đánh chiếc xe này xuống vực thông đường cho cả đoàn xe vượt đèo ngay.
Đoàn trưởng Chu Hiển lúc đó vẫn ở cuối đoàn, không hiểu sao lúc đó tôi lại hăng đến thế. Tôi quay ra tuyên bố:
- Các đồng chí có biết cái xe này là gì không? Cả mặt trận mới có một chiếc xe duy nhất đấy, chúng tôi biết đoạn đường bị ùn tắc là rất nguy hiểm, xong chiếc xe này phải giữ bằng được, hãy điện về binh trạm đi. Đồng chí đại đội trưởng công binh thấy vậy cũng chờn, đi điện về binh trạm khi biết tầm quan trọng của chiếc xe này anh em công binh tức tốc cho bạt ta luy để cho đoàn xe cắt qua về trạm kế tiếp. Đoàn chúng tôi xuống đèo nghỉ lại phía dưới chờ xe tới sửa chữa xong, hai hôm sau xe tôi mới xuống đèo. Trong hai ngày đó các cô thanh niên xung phong thay nhau mang cơm nước cho tôi và lái xe Linh, nhưng ở trên đèo mấy ngày không tắm giặt là cực hình khó chịu nhất mà tôi trải qua khi vào chiến trường.
Khi chúng tôi vào đến vị trí tập kết mà xưởng vừa chuyển đến được mấy hôm, đồng chí Trần Thực ra đón chúng tôi thật xúc động. Ông quay sang bảo anh nuôi:
- Hôm nay có anh em ngoài Bắc vào, cậu cho thịt chú lợn để chiêu đãi anh em cho "mát" ruột nhé.
Bọn tôi mừng quá, bao ngày hành quân toàn ăn lương khô, đồ hộp háo thật. Đến bữa ăn chỉ thấy mỗi xoong sắn dính mấy hạt cơm và một xoong lõng bõng toàn nước có mấy miếng bí xanh nhạt thếch và một đĩa lá sắn ngâm chua không mắm muối. Đồng chí Uông là anh nuôi người Hà Tây bảo với chúng tôi:
Hôm nay thủ trưởng mới quyết định thịt con lợn này để dành mãi đấy các ông ạ, rồi các ông sẽ biết ngay thôi mà.
Anh em trong đoàn tôi không ngờ lại thế, mấy cậu lái xe “đầu têu” bỏ về xe thế là cả đoàn về xe lấy gạo, đồ hộp còn trên xe ra nấu ăn ngay, khi ăn xong cậu Linh rửa nồi úp cả nửa nồi cơm còn dở xuống ngay bạt lá khô bên cạnh. Đồng chí Trần Thực thấy thế đi ra, ông cúi xuông bê vầng cơm cháy lên lắc đầu nhặt sạch lá, bẻ một miếng cho vào miệng và bê tảng cơm về nhà bếp giao cho anh nuôi. Cái hình ảnh ấy cứ theo tôi cho đến hôm nay khi tôi viết những dòng này, khi ông đã về thế giới bên kia, ông đã để lại cho tôi và những chàng lính cậu một bài học sâu sắc nhất.
Tối ấy họp với đoàn, ông đã nói hết cho anh em hiểu, tiêu chuẩn ở đây mỗi ngày một người một lạng gạo, muối thì luôn thiếu, chúng tôi đã nộp hết số gạo thực phẩm còn trên xe để đơn vị dùng chung cũng tạm thêm được ít ngày và bắt tay vào chuẩn bị cho những ngày gian khổ nhất của chiến trường.
(Còn nữa)
    

NGÀNH XE MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN NHỮNG NĂM KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

                                 Đại tá PHẠM CANG

Tháng 10 năm 1967, ban xăng xe Tây Nguyên ra đời. Tôi được bổ nhiệm làm phó ban, rồi trưởng ban. Nhưng lúc đó cả chiến trường Tây Nguyên chưa có một chiếc ô tô nào, chỉ toàn xe đạp thồ. Đến tháng 11 năm 1967, mới mua được hai xe Lan Rơve của tư thương Cam-pu-chia. Đây là 2 xe đầu tiên của chiến trường Tây Nguyên (anh em gọi là xe Lăng bụi tre). Lực lượng xe cơ giới của B3 phát triển khá nhanh, đến năm 1968, toàn chiến trường đã có các binh chủng kỹ thuật, pháo binh, cao xạ, đã có 84 xe gồm nhiều nhãn hiệu khác nhau. Đặc biệt có 11 xe tăng lội nước PT76, của Đại đội xe tăng 16. Nhân lực có 116 lái xe, 15 đồng chí lái ca nô và 15 đồng chí thợ sửa chữa xe do đồng chí Khánh phụ trách. Như vậy, từ năm 1965, tôi đã có mặt ở chiến trường Tây Nguyên và bền bỉ bám trụ cho đến 1975 tính ra là 10 năm. Ai đã từng ở Mặt trận B3, từng trải qua những mùa mưa mới thấy được hết sự gian khổ của người lính. Bệnh tật, sốt rét rừng và đói, là chuyện thường ngày. Đói khủng khiếp, đói vàng mắt. Vào mùa khô, xe chạy được thì cán bộ, chiến sĩ ở Tây Nguyên mới được no. Trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, mới biết tình người, tình đồng chí thật quý vô cùng. Chúng tôi chia nhau từng củ khoai, củ sắn, mẩu thuốc vụn. Thèm thuốc quá, phải hút cả râu ngô. Tôi nhớ hồi đó, tôi thường nhờ anh Chấc người ở Ninh Hòa, Khánh Hòa là Đại đội trưởng C141 (Đại đội xe đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên) mang mấy bộ đồ đi đổi thuốc. Sau này gặp, nhắc lại chuyện là nhận ra nhau ngay. Không chỉ đói, và thiếu thốn đủ thứ, B3 còn là một chiến trường không kém phần ác liệt. Địch mở nhiều chiến dịch lớn hòng tiêu diệt các đơn vị chủ lực của ta, cắt đứt hành lang chi viện theo đường mòn Hồ Chí Minh. Trong đó điển hình là chiến dịch Plei Me tháng 10 và 11 năm 1965. Nhiệm vụ vận tải hậu cần cho Mặt trận rất cấp bách, tôi và anh Tổ ở bộ phận kế hoạch phải tìm một con đường ngắn nhất và an toàn nhất. Chúng tôi rất vui mừng vì anh Kiều Tổ là cán bộ hậu cần đầu tiên, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba, vì là người đã có công soi đường, tìm ra con đường đó.
Sau Tết Mậu Thân 1968, địch đã hoàn hồn và quay sang càn quét dữ dội. Để bảo toàn lực lượng, toàn bộ xe tăng và xe pháo hạng nặng cùng các loại binh khí, khí tài không chuyển về hậu cứ được, phải đào hầm cất giấu. Các Trường Quân chính, Trường Thiếu nhi dân tộc, Trường Đào tạo y sĩ và cán bộ, chiến sĩ bệnh tật, ốm yếu đều được chuyển ra miền Bắc. Các đơn vị còn lại đều được chuyển vê khu cầu Lầy, nằm sát biên giới Cam-pu-chia, là trung độ tuyến hành lang chiến lược qua Tây Nguyên, nối liền với cửa khẩu VQ5, để học tập và tăng gia sản xuất, sắn (củ mỳ) là cây rất dễ trồng và rất thích hợp với vùng đất Tây Nguyên. Các đơn vị được giao chỉ tiêu mỗi người trồng 500 gốc. Nhưng Trung đoàn 66 đã trồng mỗi người 1.000 gốc. Các cơ quan ở Mặt trận B3 đều thành lập bộ phận chỉ huy tăng gia sản xuất. Bộ Tư lệnh B3 thành lập Ban sản xuất do đồng chí Đặng Văn Lục làm Trưởng ban. Mỗi lần xuống đơn vị kiểm tra, anh Lục không tài nào đếm được số lượng chính xác gốc sắn đã trồng. Anh liền nghĩ ra một sáng kiến, người đi kiểm tra rẫy sắn của các đơn vị phải mang theo một bó lạt (chẻ từ cây nứa) đã đếm trước, mỗi bó 500 sợi, cứ một gốc sắn lại cột một sợi giây. Cách này có vẻ hơi "thủ công", nhưng khá chính xác. Sau khi tổng hợp, đơn vị có cá nhân không đạt chỉ tiêu sẽ bị phê bình nặng, cán bộ phụ trách bị giáng chức và phải kiểm điểm trong chi bộ. Thời kỳ đó, lương thực của B3 chủ yếu là sắn, còn gọi là "cơm to". Còn "cơm nhỏ" là gạo dành cho bệnh xá, cho người ốm. Mặc dù anh em rất tự giác, nhưng vẫn phải kiểm tra chặt chẽ và kỷ luật nghiêm khắc. Nếu không, sẽ không có gì ăn để bám trụ. Ngày ấy, anh em hay nói vui "ăn để mà sống, chứ đâu phải sống để ăn".
Cuối tháng 2 năm 1971, xe ô tô không chạy được từ cánh Nam ra cánh Bắc. Để đảm bảo nhu cầu vật chất cho chiến dịch, phải vận chuyển bằng xe đạp thồ. Các đơn vị vận tải bộ được cấp khoảng 100 chiếc. Từng đoàn xe đạp thồ nối đuôi nhau đông vui như trẩy hội. Sức chở ngày càng được nâng cao, từ 100kg/xe lên 150kg/xe, vậy mà vẫn chưa bảo đảm nhu cầu cho chiến dịch. Trong cái khó ló cái khôn. Ban Xăng xe có sáng kiến, tháo rời 2 chiếc xe ô tô ra từng bộ phận, giao cho bộ đội vận tải khiêng, vác qua đèo cao, dốc đứng. Đến đoạn có đường xe thồ, thì anh em mở rộng thêm đường, lắp xe vào chạy. Xe Gaz chạy suốt đoạn đường từ trạm Q8 đến Qll dài khoảng 20km. Xăng dầu phải mua từ Cam-pu-chia, vận chuyển bằng đương bộ về cung cấp cho xe chạy. Đã có 2 đồng chí hy sinh bị xăng đốt cháy. Trong khu rừng rậm gần biên giới Cam-pu-chia, từng đoàn người xuôi ngược nối tiếp nhau đi giữa ban ngày, lại có tiếng máy nổ của xe ô tô, thấy thật khí thế. Đúng là "Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù".
Trong năm 1971, Bộ tiếp tục bổ sung cán bộ kỹ thuật và trang bị cho chiến trường Tây Nguyên. Ban Xăng xe B3 được bổ sung hai kỹ sư ô tô, là các anh Lê Hồng Thái; Nguyễn Văn Minh và một số cán bộ kỹ thuật: các anh Cương; anh Hải; anh Quân; anh Xoa... Anh Nguyễn Văn Nhã và anh Tường phụ trách xăng dầu, còn anh Hồng phụ trách xe đạp. Thêm một Tiểu đoàn vận tải ô tô 827 do anh Nàm phụ trách và một đại đội ô tô ở cánh Bắc. Thêm một trạm tiểu tu ô tô, một trạm tiểu tu xe xích và một Trạm sửa chữa xe đạp thồ. Như vậy lực lượng vận tải do hậu cần quản lý có gần 600 chiếc xe đạp thồ, 23 ca nô các loại, tập trung ở cánh Trung và trên 106 xe ô tô các loại ở cánh Bắc, kho chứa xăng dầu khoét sâu trong lòng núi, lắp đặt bế sắt to ở cánh Bắc một kho và ở cánh Nam một kho. Đến thời điểm này, đường vận chuyển ta còn mở rộng sang hướng đoàn 671 (Cam-pu-chia). Tuyến cơ giới kết hợp đường sông và đưòng bộ dài khoảng 300km.
Mùa mưa năm 1971, công tác hậu cần gặp nhiều khó khăn. Bộ Tư lệnh B3 cử tôi và anh Nguyễn Khoách mang theo máy bộ đàm 15W, cùng 5 chiến sĩ bảo vệ đi đến đồn điển cao su ở Bản Lung Cam-pu-chia bắt liên lạc Đoàn 671. Sau khi xác định tọa độ điểm đến trên bản đồ, chúng tôi xuyên rừng từ căn cứ B3 đến đồn điển cao su ỏ Bản Lung, tỉnh Monđunkiri nước Cam-pu-chia. Hơn 10 ngày đêm vất vả, khi bắt được liên lạc với người của Đoàn 671 mới cho một số anh em về hậu cứ xin lực lượng mở đường xe thồ, dài khoảng 30km. Đoàn 671 do ông Dũng (Dũng méo) Phó Tư lệnh B3 phụ trách đóng ở khu rừng ngoại ô thị xã Strung Treng, tiếp nhận hàng viện trợ của miền Bắc và mua hàng từ Phnôm Pênh, chuyển ra bằng xe máy. Tôi và anh Khoách ở lại. Anh Khoách phụ trách kế hoạch, tôi phụ trách công tác vận tải hàng. Nhờ sự giúp đỡ của một số Việt kiểu ở đó, chúng tôi đã thuê được 2 xe tải lớn chở hàng tập kết ở bờ sông Xêrêpốc. Còn bờ sông bên kia cũng có một tiểu đoàn vận tải bộ, tiếp nhận và dùng nhiều phương tiện khác nhau đưa hàng vể binh trạm Trung. Sau khi ta giúp bạn giải phóng Bản Lung, địch bỏ chạy để lại một số phương tiện. Trong đó, có cả xe khai thác gỗ của dân, chúng không dám quay lại lấy xe. Tôi tổ chức thu hồi trên 20 xe. Để đảm bảo có hai xe chạy thường xuyên, chúng tôi có phương châm hỏng đâu thay đó, râu ông nọ cắm cằm bà kia, miễn là xe chạy được. Trong hoàn cảnh khó khăn lúc ấy, nhìn xe chạy mà cười ra nước mắt. Việc làm tuy nhỏ, nhưng đã chuyển hàng về kho của Binh trạm Trung, nhanh hơn và nhất là giảm được gần một tiểu đoàn vận chuyển bộ. Đầu mùa khô năm 1972 tôi về lại đơn vị, cùng với ngành Xe B3 chuẩn bị kỹ thuật cho nhiệm vụ mới.
Mùa xuân năm 1972, với khẩu hiệu "Trường Sơn chuyển mình, Pô Cô dậy sóng", xe tăng, xe tải phủ kín lá ngụy trang, len lỏi trên những con đường mới mở vượt núi, băng đèo. Bộ đội hành quân bí mật đêm ngày, theo kế hoạch. Ngày 24 tháng 4 năm 1972, cứ điểm Đắk Tô, Tân Cảnh bị tiêu diệt. Cờ giải phóng tung bay trên các công sở và các tòa nhà chính của thị trấn, địch hoang mang. Bộ đội ta đánh đuổi địch đến chân cầu sắt cách thị xã Kon Tum không xa. Ngành xe chúng tôi phấn khởi lắm. Đường 18, rồi đường 14 được giải phóng rộng thênh thang. Phải có nhiều xe chạy, thì cả miền Nam mới mau giải phóng. Nghĩ như vậy, nên không cần ai động viên: Cán bộ, thợ, lái chúng tôi đều sục sạo, lùng tìm xe máy khắp nơi, tranh thủ lôi kéo cho bằng được về đơn vị. Thời ấy đã có xe hệ 2 do các nước tư bản sản xuất nhưng mà có được học đâu mà biết cách sử dụng, sửa chữa mò mẫm mãi rồi anh em thợ, lái cũng sử dụng được, tuy không thành thạo lắm. Cuối cùng, toàn ngành cũng thu được trên 20 xe. Trước mắt, trang bị cho mỗi Ban một xe Jeep chạy cái đã, rồi sẽ tính sau. Nhiều dụng cụ máy móc khác sửa chữa đỡ khó khăn hơn. Nghe một lái xe ở chế độ Sài Gòn nói, trong các loại xe GMC có loại rất hiện đại, có thể chạy được cả xăng và dầu. Nhưng bản thân anh này cũng không biết rõ nguyên lý cấu tạo hoạt động ra sao? Tính tò mò, tôi bảo anh em đổ xăng chạy thử xem ra sao. Xe chạy đi, chạy lại trên đường 14 chưa được 10km thì chết máy, đề không nổ, đẩy không đi, kéo cũng không chạy, nhiệt độ máy rất cao, đành phải tháo trục truyền mới kéo về được. Sau ngày giải phóng Sài Gòn, tôi mới được anh Vinh kỹ sư của Cục ô tô giải thích, loại xe này có bộ phận điều chỉnh trị số ốc tan kích nổ, không cần tia lửa điện, nhưng chỉ sử dụng cấp bách khoảng 5km thôi.
Chiến trường B3 có độ ẩm cao, thời tiết khắc nghiệt, xe để trong hầm phân tán khắp nơi. Các đơn vị đóng quân xa cách nhau từ một đến vài ngày đường đi bộ. Gian khổ cơ cực vô cùng, nhưng chúng tôi vẫn làm tốt nhiệm vụ. Vì so với các đơn vị chiến đấu ngày đêm ở phía trước có thấm thìa gì đâu. Khó đến mấy, thiếu thốn đến mấy cũng phải khắc phục bằng được. Đơn vị có 26 xe xích kéo pháo Đ74. Loại xe ATC-59 của Liên Xô thì ít bị hỏng bộ phận ly hợp. Còn xe xích của Trung Quốc K-60 thì thường hỏng bộ phận này. Anh Tuyển kỹ sư đã mày mò nghiên cứu, dùng ly hợp xe Liên Xô lắp thế vào xe Trung Quốc thành công. Mừng quá, anh em chuyển cho nhau điếu thuốc lá Điện Biên còn sót lại ỏ cốp xe. Má phanh xe URAN mòn hết đinh tán, phanh không ăn, vật tư không có để thay. Anh em lái xe đề nghị anh Tuyến chủ nhiệm xe 234, dùng gỗ Bằng Lăng thay thế, vì quá bức xúc mà nghĩ quẩn thế thôi, cuối cùng cách tốt nhất là lấy má phanh trước đổi cho phanh sau chạy tạm. Bình điện yếu khởi động xe không nổ được, thì dùng nhiều bình đấu lại hoặc lấy bình điện tốt của xe này, để nổ cho xe khác, cứ thế cho đến khi hết xe thì thôi.
    

NGUYỄN TRUNG DU - CON NGƯỜI VÀ THƠ TRÊN TRANG LÍNH TÂY NGUYÊN

NGUYỄN TRUNG DU - CON NGƯỜI VÀ THƠ TRÊN TRANG LÍNH TÂY NGUYÊN


Cùng bạn đọc thân mến !
Nếu ai đã từng đọc & yêu mến trang Lính Tây Nguyên, hẳn không thể không biết về cô giáo Nguyễn Trung Du, một thành viên của ban quản lí trang, một người bạn, một người chị, một người em của bao bạn đọc nói chung & cũng là một người em gái thân thương của những người lính Tây Nguyên chúng tôi, của trang Lính Tây Nguyên.
Vâng ! Quả đúng là vậy. Chúng ta bắt gặp hình ảnh một “Em gái Trung đoàn” ( Tên biệt danh chúng tôi dành cho chị ) trên trang FB cá nhân Nguyễn Trung Du nói riêng và trang Lính Tây Nguyên nói chung, một người phụ nữ tuổi ngoài bốn mươi đôn hậu, duyên dáng với nụ cười rất tươi .
Ở bài viết này, chúng tôi không đề cập tới vẻ đẹp tươi tắn và rất có duyên của chị mà muốn nói tới tâm hồn của chị qua hai mảng đề tài: Hình ảnh người lính Tây Nguyên & tình yêu trong thơ của chị.
Trước hết là mảng đề tài hình ảnh người lính Tây Nguyên.
Cánh lính Tây Nguyên chúng tôi nói riêng và bao bạn đọc nói chung mỗi khi đọc những bài thơ của chị không thể không trầm trồ khen ngợi những bài thơ đầy ắp tình người:
“ Em chưa một lần khoác lên mình áo lính
Nhưng trong em chất lính có lâu rồi
Khi anh vào chiến trường em còn ở trong nôi
Chiến tranh đi qua em vẫn là cô bé”
Ôi ! Lời tự giới thiệu sao mà khiêm tốn, vừa nhẹ nhàng, vừa êm ái đến như vậy. Cánh lính chúng tôi không thể không ngạc nhiên và tự hỏi thầm:
“ Em chưa một lần khoác lên mình áo lính
Nhưng chất lính trong em có tự bao giờ
Có phải chăng từ những vần thơ
Trong sách giáo khoa và đi vào giáo án.”
Tháng 6/2016, chị có dịp cùng đoàn Phòng Giáo dục và Đào tạo Phù Ninh, Phú Thọ vào thăm Tây Nguyên, chị đã làm bài thơ “ Tây Nguyên một thuở” . Đọc xong bài thơ, những người Lính Tây Nguyên chúng tôi thật sự xúc động trước một tâm hồn dạt dào chất lính. Những cụm từ “ anh đưa em”, “ anh dắt em” cộng với những địa danh Đắc Tô, Tân Cảnh, Măng Bút, Măng Đen..và những hình ảnh đặc trưng của Tây Nguyên như sông Sa Thầy, Pô Kô, Sê San, hoa Pơ lang, Dã quỳ...lần lượt xuyên suốt bài thơ khiến người đọc cứ ngỡ là một CCB lâu lắm rồi chưa được trở lại chiến trường xưa, nay được trở lại nơi mình đã sống và chiến đấu mới thốt lên được những vần thơ nồng nàn và cháy bỏng như vậy.
Anh đưa em về thăm lại Tây Nguyên
Thăm chiến trường xưa một thời máu lửa
Giữa cánh rừng cao su vẫn căng tràn dòng nhựa
Đồng đội mình đã nằm lại nơi đây…
Hơn bốn mươi năm vết thương sẹo đã lấp đầy
Những con sông vẫn đầy vơi theo mùa nước
Nhưng nỗi đau chẳng thể nào nguôi được
Bao đồng đội mình chưa trở lại quê hương”
Sự thay da đổi thịt của mảnh đất Tây Nguyên bởi những con đường nhựa thẳng tắp mịn màng, bởi những cánh rừng cao su, hồ tiêu rộng lớn, hay hoa Dã quỳ vàng ươm, hoa Pơ lang đỏ thắm vẫn không làm mờ đi được những gian khổ, đau thương, mất mát năm xưa. Chỉ có những người lính thực thụ mới cảm nhận được điều này. Vậy mà cô giáo Nguyễn Trung Du của chúng tôi đã có một sự đồng cảm thật sự sâu sắc và xúc động.
Năm 2017, chị có dịp vào Buôn Ma Thuột tham dự buổi lễ cầu siêu cho các anh linh liệt sĩ do đồng dội Ngô Duy Chuyên các CCB Buôn Ma Thuột tổ chức, chị gửi đăng bài “Giỗ trận tháng Ba”
“ Tôi lại về giỗ trận tháng Ba
Đồng đội gặp nhau trong nhạt nhòa hương khói
Trời Tây Nguyên cao xanh vời vợi
Lần từng tấm bia nghèn nghẹn gọi tên người”
Hình ảnh “gặp nhau trong nhạt nhòa hương khói” khiến người đọc cảm thấy ngậm ngùi. Những lần gặp gỡ trước thì tay bắt mặt mừng, những cái bắt tay nồng thắm, những nụ cười rạng rỡ, những vòng tay ôm chặt bởi bao ngày xa cách vậy mà hôm nay...
Phải chăng những làn khói hương nhạt nhòa đang lan tỏa kia chính là những sợi dây vô hình kết nối những người còn sống và những người đã mất hay nói một cách khác đấy là những tín hiệu thông tin kết nối giữa cõi âm và cõi dương giống như mạng lưới thông tin kết nối giữa các đơn vị trên cùng mặt trận thuở nào ! Tháng Ba, tháng gợi lên trong lòng người lính Tây Nguyên biết bao kí ức. Tháng của bước ngoặt lịch sử và cũng là tháng đau thương, mất mát. Mất mát quá lớn đối với trung đoàn đặc công 198 khi đánh sân bay Hòa Bình. Mất mát quá lớn ở tiểu khu Đắc Lắc đối với tiểu đoàn 6 trung đoàn 24. Chính vì vậy chị đã phải thốt lên:
“ Anh Tám, anh My, anh Oánh, anh Khải ơi
Chúng tôi về giữa cuộc đời, các anh nằm trong đất
Hôm nay gặp nhau tay trong tay nắm chặt
Nghe tim mình quặn thắt nỗi đau xưa”
Trong bài “ Kí ức tháng Tư”, chị cũng thể hiện một nỗi lòng trăn trở:
“ Ai đã từng đi qua tháng Tư
Sẽ không quên những ngày khói lửa
Giữa thẳm sâu một vùng quên, nhớ
Luôn hiện về kí ức tháng Tư”
Cũng như tháng Ba, tháng Tư đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người lính Tây Nguyên nói chung và cô giáo Nguyễn Trung Du nói riêng. Dường như chị cũng hòa mình vào đoàn quân đang trên đà thắng lợi:
“ Giải phóng Tây Nguyên các anh lại lên đường
Đánh Lữ dù 3 trên đèo Ma Đơ Rắc
Đường 21 ghi tên đèo Phượng Hoàng lẫm liệt
Chiến thắng lẫy lừng xương máu cũng nhiều thêm”
Mạch thơ của chị dường như một sợi dây vô hình theo sát bước chân người chiến sĩ. Đoàn quân bách chiến bách thắng đi tới đâu, mạch thơ của chị cũng đi tới đó.
Khi thì:
“ Tiến về thành đô qua Đồng Xoài, Bình Phước
Dầu Tiếng, Lâm Đồng, Di Linh, Bảo Lộc
Đến Ba Ngòi rồi còn tổn thất máu xương”
Khi thì:
“ Ai đã từng qua quốc lộ 22
Không thể quên trận Đồng Dù ác liệt
Sư 320 yểm trợ cho sư 10 quyết tiến
Về Sài Gòn giải phóng thành đô”
Trang Lính Tây Nguyên mỗi khi đăng bài thơ của chị, bạn đọc mỗi khi đọc bài thơ của chị không thể không thốt lên những lời thán phục, một cô giáo, một người chiến sĩ , một hồn thơ tràn đầy cảm xúc, chứa chan tình người.
Ở mảng đề tài thứ hai, chúng ta lại bắt gặp một hồn thơ lãng mạn và bay bổng với những hình ảnh minh họa thu hút người đọc. Cũng như đề tài về người lính, mỗi khi làm về thơ tình, chị lại dành hết tâm huyết vào hình ảnh trong tự nhiên để nắm bắt cái hồn, cái sắc của thế giới tự nhiên để đưa vào trong thơ.
“Bài thơ "Vô tình" chị của khiến người đọc đặt câu hỏi: Vô tình” hay “ hữu ý “ đây ? Một hồn thơ lai láng, một hồn thơ dạt dào như vậy mà “lơ đãng” đến vô tình được sao? Không đâu, đấy là cái cớ, cái duyên, cái khéo để dẫn dắt người đọc đi từ những sự vật, hiện tượng tưởng nhu vô tri nhưng lại được thổi hồn vào một cách rât hữu tình.
"Vô tình cơn gió lướt qua
Để cho tiếng sao ngân nga lưng trời
Vô tình giọt nước đánh rơi
Để cho hạt ngọc rạng ngời mắt ai
Vô tình tia nắng sớm mai
Nhòm qua khe cửa để ai thẫn thờ"
Những hình ảnh trong thơ chị nhẹ nhàng, lãng mạn, thanh thoát biết nhường nào. Tứ thơ, hình ảnh thơ, cảm xúc
cứ hòa quện vào nhau thành một vòng tròn quấn quýt, vương vấn người đọc. Vô tình ư ? Lẽ thường vô tình là người ta không để ý tới một sự việc nào đó mà không nhận biết được, đằng này, vô tình gì mà lại nắm bắt được cơn gió ven hồ, tiếng sáo lưng trời hay giọt nước, tia nắng, câu nói ỡm ờ...À thì ra đấy là cái cớ, cái tâm hồn rất thơ, rất lãng mạn mà chị muốn thể hiện.
Trong bài “ Gửi nắng cho anh” chị cũng dãi bày một tâm trạng, một hồn thơ rất lãng mạn. Hai mươi bốn câu thơ với đủ các loại nắng: nắng vàng, nắng heo may, nắng tháng năm, nắng hường...nắng nào người đọc cũng thấy nhẹ nhàng, bình dị rất thật,rất chân tình như chính con người chị.Mỗi một cái nắng chứa đựng một tâm trạng, một trạng thái mà chỉ riêng chị mới có. Trong cái nắng vàng có sự bẽ bàng của ngày xưa, có đường đi muôn nẻo, có đục trong của mỗi con người. Nắng heo may có bóng chim câu vụt thoáng trên cao. Nắng tháng năm thiêu cháy cả đêm rằm. Trong số những cái nắng mà chị thể hiện, có một cái nắng rất đặc biêt, cái nắng ấy có hình, có khối, rất nhẹ nhàng, rất dài và nhỏ mà ta có cảm tưởng giơ tay đón lấy được ấy là sợi nắng dây:
“ Gửi anh một sợi nắng dây
Em đem buộc chặt tháng ngày thênh thang”
Hình tượng đến thế là cùng! Bao nhiêu cái nắng chị gửi vào đó tất cả những tâm tư, tình cảm của mình để rồi chia sẻ cho mọi người. Thi vị đến nhường nào. Riêng chỉ có một cái nắng chị xin được giữ lại ấy là cái nắng của chiều hôm qua:
“ Gửi anh chút nắng hôm qua
Em đem gói lại để mà nâng niu
Còn đây chút nắng cuối chiều
Phần em giữ lại bấy nhiêu cho mình”
Có thể nói đoạn thơ cuối bài toát lên tình cảm thắm thiết nhất, chân thành nhất. Hai câu cuối bài khép lại bài thơ sao mà hay đến thế, hay đến mức không tưởng:
“ Còn đây chút nắng cuối chiều
Phần em giữ lại bấy nhiêu cho mình”
Khi bình bài thơ "Gửi nắng cho anh", Bạn FB Nhà thơ lão nông đã viết: "Nắng của Nguyễn Trung Du mùa nào cũng đẹp. Cái đẹp còn tỏa sáng trong con người em - một cô giáo duyên dáng, dịu hiền. Cái ắng trong tay em thật ấm áp, dễ chịu, kế cả cái ắng tháng năm". Quả đúng như vậy! Đọc thơ Nguyễn Trung Du, ta nhận thấy một sự khiêm nhường bình dị nhưng tràn ngập tình yêu thương, lòng vị tha đáng quý trọng biết nhường nào.
Bao nhiêu bài thơ được đăng tải, bấy nhiêu tình cảm của chị dành cho những người lính Tây Nguyên chúng tôi, dành cho bao bạn bè gần xa trên cả nước. Cảm ơn cô giáo Nguyễn Trung Du, cảm ơn người em gái đã góp phần chắp cánh cho trang Lính Tây Nguyên của chúng tôi thêm bay bổng và đầy thi vị.
Nhân dịp kỷ niệm 36 năm ngày Nhà giáo Việt nam, trang Lính Tây Nguyên xin đăng bài bình thwo của anh Nguyễn Sau - Thành viên BQL trang như một bó hoa tươi thắm, một lời chúc tốt đẹp nhất gửi tới cô giáo Nguyễn Trung Du - "Em gái Trung đoàn"
                                                                                       Nguyễn Sau - E66 - F10

Nguyễn Trung Du vinh dự được diện kiến Trung tướng Nguyễn Quốc Thước

Nguyễn Trung Du thăm Trung tướng Ma Thanh Toàn tại tư gia

Nguyễn Trung Du được Tiến sĩ Luật tặng cuốn sách: tạ Đình Đề - Hững góc khuất cuộc đời
Nguyễn Trung Du nơi ngôi trường cô đang công tác

    

THƯƠNG NHỚ ĐỒNG ĐỘI NGUYỄN XUÂN KHANG

THƯƠNG NHỚ ĐỒNG ĐỘI NGUYỄN XUÂN KHANG
Liệt sỹ Nguyễn Xuân Khang
Sau 43 năm yên nghỉ tại nghĩa trang Buôn Ma Thuột , Nguyễn Xuân Khang quê ở Minh Bảo - Trấn Yên - Yên Bái, thuộc Đại đội 1 - Tiểu đoàn 4 - Trung đoàn 24, người đã hy sinh trong trận đánh vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy ở thị xã Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975 đã được gia đình và đồng đội đưa về quê yên nghỉ. Trưa 12/11 /2018, khi nghe tin gia đình Khang vào Buôn Ma Thuột đưa Khang về quê, anh em đồng đội E24 ở Buôn Ma Thuột đã vội vã đến ngay nghĩa trang BMT để tiễn đưa Khang. Khi đến nghĩa trang thì được tin gia đình Khang vừa đưa Khang đi rồi. Tưởng nhớ người đồng đội năm xưa, trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu 2 bài viết về Nguyễn Xuân Khang - một bài của bạn học với Khang và một bài của đồng đội cùng chiến đấu với Khang hôm 10/3/1975 ở thị xã BMT, như một nén tâm nhang để tưởng nhớ người đồng đội yêu quý Nguyễn Xuân Khang.
Bài 1. Người viết: CP Giang
Tôi vừa nhận được tin từ vợ chồng người em trai của Liệt sĩ Nguyễn Xuân Khang cho biết: gia đình đang trên đường vào Buôn Ma Thuột để cất bốc hài cốt liệt sĩ. Dự kiến ngày 14/11/2018 sẽ viếng LS tại gia đình. Đến 13 giờ ngày 15/11/2018, Đảng ủy và chính quyền địa phương sẽ tổ chúc truy điệu và an táng hài cốt LS tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnhYên Bái.
Với Nguyễn Xuân Khang, tôi vừa là bạn đồng hương, bạn đồng học (từ lớp 4 đến hết lớp 10), đồng thời là bạn đồng ngũ. Khi vào đến Tây Nguyên tôi được bổ sung về Sư đoàn 320, còn Khang được bổ sung về Sư đoàn 10. Lần gặp nhau cuối cùng của chúng tôi là tại Tân Kim, Phú Bình, Bắc Thái, đã hơn 45 năm rồi.
Nhớ bạn trong nhạt nhòa nước mắt. Tôi treo lại bài viết về LS Nguyễn Xuân Khang coi như một nén tâm hương, tưởng nhớ về người bạn học thông minh, tài hoa, người đồng đội dũng cảm nhưng bạc mệnh. Bài viết này đã được đăng trang trọng trong cuốn “Ký ức tuổi học trò”, cuốn hồi kí của cựu HS khóa 1969-1972 trường phổ thông cấp 3A Yên Bái.
Bài viết này cũng thay cho lời mời các bạn đồng ngũ, các cựu chiến binh, các bạn đồng học về quê hương để chúng ta cùng tri ơn liệt sĩ, đón liệt mẹ
* * * *
Câu chuyện về Liệt sĩ NGUYỄN XUÂN KHANG (1955-1975)
Nguyễn Xuân Khang là học sinh lớp B, khóa học 69-72 Trường Phổ thông cấp 3A Yên Bái. Hồi đi học, bạn bè thường gọi là “Khang con”, để phân biệt với Trần Mạnh Khang (Khang lớn). Nguyễn Xuân Khang là học sinh giỏi các môn xã hội, đặc biệt là có năng khiếu về văn học, thơ ca. Những năm cấp 1, cấp 2, Khang học tại trường phổ thông cấp 1, 2 xã Minh Bảo, Huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Tốt nghiệp phổ thông, Khang nhập ngũ, huấn luyện tân binh ở đại đội 2, Tiểu đoàn 90, Sư đoàn 304B, Quân khu Việt Bắc. Sau thời gian huấn luyện, Khang đi B trong Đoàn 3016 vào B3 Tây Nguyên. Vào đến mặt trận, Khang được bổ sung về Đại đội 1, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, trực tiếp tham gia chiến đấu, bảo vệ vùng giải phóng Bắc Tây Nguyên.
Suốt năm 1974, Nguyễn Xuân Khang đã tham gia chiến đấu, bảo vệ vùng giải phóng ở Đắc Tô – Tân Cảnh, tỉnh Công Tum (Bắc Tây Nguyên).
Đầu năm 1975, Sư đoàn 10 lật cánh hành quân về hướng nam mặt trận, bố trí ở phía nam thị xã Buôn mê Thuột, chuẩn bị tham gia chiến dịch Tây Nguyên.
Trong trận then chốt mở đầu chiến dịch Tây Nguyên, Tiểu đoàn 4 (d4/e24/fBB10), đơn vị của Khang được BCH mặt trận Tây Nguyên lựa chọn là đơn vị phối thuộc cho Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 có nhiệm vụ thọc sâu, tiến công thị xã Ban Mê Thuột từ hướng tây tây nam...Tiểu đoàn 4 được phối thuộc 1 Đại đội xe tăng T-54, 1 đại đội xe bọc thép K-63 của Lữ đoàn xe tăng 273, thực hành tiến công chọc thủng phòng tuyến mạnh nhất của địch ở BMT, dùng sức mạnh hợp đồng binh chủng (bộ binh, xe tăng, pháo binh…) thọc sâu qua khu vực trung tâm thị xã, khu vực Ngã 6, tiến công khu truyền tin và khu vận tải, áp sát căn cứ SCH Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 ngụy.
Sáng ngày 10/3/1975, Nguyễn Xuân Khang là tiểu đội phó Tiểu đội chủ công, đã chiến đấu dũng cảm, vượt qua tuyến phòng ngự của lực lượng biệt động quân VNCH ở vòng ngoài thị xã, nhanh chóng giải phóng trung tâm thị xã - khu vực Ngã 6. Đến khoảng trưa 10/3, khi Tiểu đoàn 4 đột kích xung phong đánh chiếm Trung tâm Truyền tin của SCH Sư 23 ngụy, địch kháng cự điên cuồng. Tổ xung kích của Khang có 3 người, sau khi 2 đồng đội trong tổ hi sinh, Khang đã cầm cờ xung phong lên cắm cờ, đánh chiếm mục tiêu. Vào thời khắc đơn vị hoàn thành nhiệm vụ thì bạn Khang của chúng ta bị trúng đạn thẳng và hi sinh ngay trên nóc hầm Trung tâm truyền tin SCH Sư 23 ngụy vào buổi trưa ngày 10/3/1975. Tấm gương hi sinh anh dũng của Nguyễn Xuân Khang được phổ biến đến các đơn vị tham gia trận Ban Mê Thuột, động viên tinh thần chiến đấu của bộ đội.
Nguyễn Xuân Khang được truy phong quân hàm trung sĩ ngay trên trận địa, được Nhà nước công nhận là LIỆT SĨ, được truy tặng Huân chương chiến Công giải phóng hạng 3.
Bài 2. Người viết: Duy Chuyên Ngô
Thôi không đủ duyên tiễn bạn: Liệt sỹ Nguyễn Xuân Khang hành hương về quê mẹ Yên bái .
Tôi treo mấy tấm hình chụp chiều nay thay cho nén nhang thơm cầu Trời Phật gia hộ cho hương linh Nguyễn Xuân Khang siêu thoát .
Nhớ lại , đêm 10/3 năm ấy Đại đội 3 chúng tôi chiếm giữ khu truyền tin và lập chốt chặn địch ngang đường Mai Hắc Đế .
“ ...Khói súng , khói bom đạn khét lẹt , sặc sụa quyện với máu đồng đội , tôi không thể nào khóc được nữa .
Xác bạn đồng đội C3, C1 ... Nguyễn danh Tám chết quỳ gục đầu vào cột cổng , Phan quý Dương trúng đạn cuộn người giữa đường Mai hắc Đế , Lê Văn Giao chết rồi mà thân xác vẫn dính chặt vào rào kẽm gai bùng nhùng , Bùi đức Chín , Võ Văn Lai , Hà Văn Nghĩa , Nguyễn Văn Khang , Trịnh Sơn Then , Phạm văn Thành , Nguyễn phong Phú ... nằm xếp lớp lên nhau từ cổng vào đến cột cờ khu truyền tin của địch . ..
Gần sáng , anh em C3 chúng tôi bắt sống được tên tù binh cùng chiếc xe dép . Xe thì vẫn nổ máy , bốn bánh trúng đạn xẹp lép . anh em vận tải chưa vào đưa tử sỹ ra . Tôi Lo địch trong trung tâm thị xã phản kích ra bạn tôi trúng đạn lần nữa . Thương các bạn , tôi bắt tên tù binh lái xe chở xác bộ đội khỏi khu truyền tin , nó từ chối với lí do xe bể bốn bánh không chạy được . Căm phẫn trào lên tôi dí súng vào đầu hắn gào lên với nó : mày có lái xe hay ăn đạn ? nó quỳ xuống chân tôi van lạy , xin tha tội , xin chạy .
Thế là , Tôi và Toản ( Nguyễn văn Toản - liên lạc C3) cùng anh em c3 lần lượt kéo rồi khênh xác bạn lên xe Zép . Tôi nhớ Toản ngồi dí súng vào lưng tù binh bắt nó lái xe bể cả bốn bánh chở đầy xác người và chở năm sáu chuyến thì trời sáng .
( Ngô Duy Chuyên - nguyên Chính trị viên phó Đại đội 3 hôm đánh Sư đoàn 23 Ngụy ở thị xã BMT )
Đồng đội Ngô Duy Chuyên bên phần mộ Nguyễn Xuân Khang tại nghĩa trang BMT trưa 12/11/2018
    

CHUYỆN VỀ NGƯỜI LÍNH MỘT MÌNH GIỮ CHỐT

CHUYỆN VỀ NGƯỜI LÍNH MỘT MÌNH GIỮ CHỐT
Võ Duy Khoái - Trung đoàn 24

Sau bữa cơm tối nhìn lên tivi thấy Ca sỹ Trang Nhung đang hát bài “Trái tim người chiến Sỹ” nhạc của Trần Viết Được : Cuộc đời người chiến sỹ giản dị thật đáng yêu, một túi lương khô, một tấm vải dù, một đôi dép cao su……” bỗng nhiên tôi nhớ lại câu chuyện 46 năm về trước tại Dốc Nứa bên suối Gia Nhiên , dưới chân núi Chư Pa có độ cao 1.127m so với mặt nước biển thuộc tỉnh Gia Lai . Nơi đây là Phẫu tiền phương của Trung đoàn 24 . Gặp nhau tôi không nhận ra Thuấn , trừ hàm răng trắng , còn toàn thân nhuộm màu đất đỏ . Ôm lấy Thuấn tôi bảo :
- Sao bảo Đại đội 9 của mày hy sinh hết rồi !
Thuấn cười nói : Em chết sao được, khi đi chiến đấu em đã hứa với Mẹ : Giải phóng xong con sẽ về , đi mạnh, về lành .(nghĩa là khi đi thì mạnh khỏe, khi về thì lành lặn) . Khi nào về con mua một chiếc xe xích lô , hàng ngày ra bến xe Niệm Nghĩa chở khách lấy tiền nuôi mẹ …”. Điều mong ước của người lính chiến ở nơi bom rơi đạn nổ là như vậy đấy. Nguyễn Văn Thuấn - Tiểu đội trưởng đại đội 9 , Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên. Người một mình một chốt , 7 lần chặn đứng các đợt tấn công của địch lên chiếm chốt của ta trong ngày 5/6/1972 .
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Thuấn sinh ngày 25 tháng 6 năm 1953 , tại Dư Hàng - Lê chân - Hải Phòng , ngày 08 tháng 1 năm 1971 , Thuấn nhập ngũ khi chưa đủ 18 tuổi , ở D7, F350, sau một thời gian bổ xung về C9/D3 /E42 - Quân khu Tả ngạn .Ngày 03/11/1971 , cả đơn vị E42 từ Tràng An - Đông Triều hành quân tới Ga Tiền Trung (Hải Dương), đêm đó lên tàu vào Nam chiến đấu . Từ Quảng Bình, đơn vị hành quân qua SePon ( Lào), qua Ngã ba Đông Dương thì dừng lại ăn Tết nguyên đán Nhâm Tý (1972). Tết trên đường đi chiến dịch không vui, nhưng khá đầm ấm, mỗi người được nửa điếu thuốc lá của Bác Tôn gửi tặng , một chiếc kẹo Hải Hà . Tới Tây Nguyên đơn vị vào vị trí chiến đấu ngay . Ngày 01 tháng 6 năm 1972 , Trung đoàn 24 nhận nhiệm vụ cắt đường 14 , không cho địch chi viện bằng đường bộ từ Gia Lai lên Kon Tum để tạo thuận lợi cho các đơn vị của ta đánh chiếm thị xã KonTum . Đại đội 9 - tiểu đoàn 3 được giao nhiệm vụ chốt cắt giao thông tại Km 28 .Cách đó không xa có trận địa pháo của địch liên tục bắn vào chốt của ta . Máy bay L19, U ti ti, OV10 lượn suốt ngày để phát hiện trận địa của ta. Cùng với đó là liên tục các đợt ném bom rải thảm của máy bay B52 xuống khu vực trận địa chốt của tiểu đoàn 3 . Trước quá nhiều bom , pháo của địch , thương vong của bộ đội ta khá lớn . Nhiều trận địa chốt của ta không còn một ai . Ngày 05/6/1972 , chốt đại đội 9 của Thuấn chỉ còn 6 người trong đó có anh Hiệp là Đại đội phó . Với quyết tâm mở thông đường chi viện cho lực lượng của chúng ở Kon Tum . Suốt từ sáng tới chiều , địch dùng xe bọc thép M113 cùng bộ binh liên tục tấn công vào chốt của đại đội 9 . Cứ sau mỗi lần ném bom , bắn pháo , bộ binh chúng lại hò hét xông lên , nhưng chúng đều bị đánh bật trở lại . Lần thứ 7 , chúng lại tiếp tục dùng xe thiết giáp M113 cùng bộ binh tấn công vào trận địa . Không sợ nguy hiểm , Thuấn nhô lên khỏi giao thông hào dùng B40 của đồng đội đã hy sinh bắn thẳng vào chiếc xe M113 của địch . Chiếc M113 trúng đạn bốc cháy làm bộ binh địch không dám xông lên . Đánh vỗ mặt ở phía trước không được , chúng tổ chức một lực lượng vòng về phía sau chốt của đại đội 9 hình thành 2 mũi tấn công . Do ít người , không phát hiện được mũi vòng phía sau của địch nên đại đội phó Hiệp và các đồng đội đều dính đạn M72 của địch hy sinh . Lúc này Thuấn phát hiện được lực lượng địch ở phía sau chốt của Thuấn nấp sau một bụi le đang nã đạn về phía Thuấn . Bấp chấp nguy hiểm , Thuấn dùng B40 bắn thẳng về toán địch này . Tiêu diệt toàn bộ bọn địch ở đây . Giằng co với địch , đến 15 giờ chiều trên chốt của đại đội 9 lúc này chỉ còn một mình Thuấn . Mặc dù lúc này đã bị thương ở mặt và ở chân , tuy không nặng nhưng lúc này Thuấn gần như kiệt sức . Tuy vậy Thuấn vẫn không nản chí , lo sợ . Anh bám theo giao thông hào của trận địa , bắn bên Đông một loạt, chạy sang Nam ném lựu đạn, chạy sang Bắc bắn B41, chạy sang Tây bắn đại liên . Cứ như vậy một mình Thuấn tiếp tục chiến đấu . Thấy tiếng súng từ trận địa của ta vẫn liên tục nổ quân địch tưởng trên chốt của ta còn nhiều người , chúng không dám xông lên . Khoảng 5 giờ chiều thì địch rút quân . Do suốt cả ngày quần nhau với địch . Vừa căng thẳng , vừa mệt mỏi phần vì mất máu do viết thương , Thuấn nằm thiếp đi trên trận địa . Buổi tối , trinh sát cùng anh em vận tải bò lên chốt chuyển thương binh , Liệt sỹ về phía sau , phát hiện Thuấn còn sống đang nằm cùng các Liệt sỹ . Thuấn được cáng về phẫu tiền Phương. Cảm động trước tấm gương chiến đấu kiên cường của Nguyễn Văn Thuấn , ngay buổi tối hôm đó Trung đoàn phó Đinh Xuân La đã xuống tận phẫu thăm và động viên Thuấn . Trung đoàn cũng đã phát động phong trào thi đua học tập gương chiến đấu của Nguyễn Văn Thuấn . Sau trận đánh này Nguyễn Văn Thuấn được tặng Huân chương chiến công Hạng Nhất và bằng Dũng sỹ diệt xe cơ . Anh vinh dự được đi dự Đại hội thi đua xuất sắc của Mặt trận Tây Nguyên năm 1972 . Ngày 08 tháng 11 năm 1972 , Nguyễn Văn Thuấn vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam .
Cuộc chiến cứ cuốn hút những người con của Đất Cảng Anh hùng . Trưa ngày 11/3/1975 , tôi và Thuấn lại gặp nhau tại Sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy ở thị xã Buôn Ma Thuột , lúc đó tôi là B trưởng C2 / D4 /E24 , đơn vị đánh chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy , còn Thuấn là Chính trị viên Đại đội 3 /D4 , cùng đánh vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 . Với quân hàm Trung tá , công tác tại phòng Tuyên huấn Quân Đoàn 3 , Thuấn được cấp trên cho nghỉ hưu năm 1991. Ngày 04/11/2018 , Ban Liên Lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 24 tại Hải Phòng tổ chức Gặp mặt truyền thống kỷ niệm 47 năm ngày lên tầu vào Nam chiến đấu ( 03/11/1971-03/11/2018) tại Cát Bà . Gặp Thuấn tôi vẫn đùa hỏi : - Xích Lô của mày còn mới hay đã hỏng rồi ? ( ở cái tuổi 70 nhưng cứ gặp nhau là chúng tôi xưng hô mày tao chi tớ). Đùa thế rồi chúng tôi lại ôm nhau thân thiết như ngày nào sống chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên .
….”Tây nguyên ơi ! ai một lần tới đó
Suốt cuộc đời nhớ lại vẫn thương nhau…”


Ảnh: Nguyễn Văn Thuấn người đứng thứ 3 từ trái sang chụp cùng đồng chí Võ Đông Giang - phó đoàn quân sự 4 bên của ta ở sân bay Tân Sơn Nhất trưa 30/4/75 . Đ/c Võ Đông Giang đứng cạnh Thuấn ( người thứ 4 từ trái sang )
    

CHUYỆN CẮM CỜ Ở BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN ĐỘI SÀI GÒN SÁNG 30/4/1975 .

CHUYỆN CẮM CỜ Ở BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN ĐỘI SÀI GÒN SÁNG 30/4/1975
(Nguyễn Đình Thi - Ghi theo lời kể của Đại tá Võ Hồng Kháng - nguyên Tham mưu phó Trung đoàn 28 - Sư đoàn 10)

Tầm gần 10 giờ, vừa tổ chức cắm cờ ở cổng chính số 1 Bộ Tổng tham mưu xong , mấy anh em chúng tôi còn đang đứng quan sát , xác định đâu là toà nhà chỉ huy của Bộ Tổng tham mưu Ngụy thì chiếc xe thiết giáp chở đồng chí Vũ Đình Thước - Tham mưu phó Sư đoàn cùng đồng chí Đỗ Công Mùi - Trung đoàn phó lao đến . Thấy tôi , anh Đỗ Công Mùi nói ngay :
- Anh Kháng ! Cờ đâu ? Cho tổ chức cắm cờ ngay !
Tôi quay sang anh Lê Công Vững - Chính trị viên Đại đội 10 hỏi cờ . Anh Vững cho biết Đại đội chỉ có một chiếc cờ . Chiếc cờ này vừa cắm ở ngoài cổng rồi . Hiện không còn chiếc cờ nào cả . May quá lúc đó Tham mưu phó Sư đoàn Vũ Đình Thước có mang theo một chiếc cờ , đang để ở xe bọc thép K63 . Ông lấy vội ra đưa cho tôi . Đúng lúc đó thì hỏa lực 12ly8 của địch từ trên nóc toà nhà Bộ Tổng tham bắn xuống . Tôi lệnh cho xe bọc thép dùng 12ly7 bắn về phía khẩu 12ly 8 của địch . Tiếng súng im . Tôi , anh Vững cùng 2 đồng chí chiến sỹ của C10 cầm cờ chạy ngay về phía toà nhà chính Bộ Tổng tham mưu Nguỵ . Tới toà nhà , nhìn các phòng làm việc đều thấy đóng cửa , không gặp một ai . Toà nhà khá rộng nên loay hoay mãi mới tìm được cầu thang bộ . Tìm được cầu thang ,4 anh em chúng tôi chạy gấp lên trên . Khi tới vị trí cột cờ của địch trên nóc toà nhà , tôi nói với anh Vững cho hạ cờ ngay . Lá cờ ba sọc của địch được kéo xuống và tháo ra nhưng khổ nỗi lại không treo được cờ của ta . Vì cờ của địch to , cờ của ta nhỏ nên không luồn cán vào được để treo cờ . Loay hoay chưa biết lấy gì làm cán . Nhìn quanh . Tôi phát hiện gần chỗ tôi đứng có một cây ăng ten có thể làm cán cờ được . Tôi vội chạy đến , dùng dao găm chặt đứt ăng ten này . Rồi chọn một đoạn chặt làm cán . Có cán cờ , tôi cùng anh Vững làm động tác luồn cán , buộc dây và treo cờ . 2 chiến sỹ có súng AK làm nhiệm vụ bảo vệ . Tầm 10 giờ 20 phút , lá cờ giải phóng của ta đã được 4 anh em chúng tôi treo lên đúng vị trí cột cờ của địch tại nóc toà nhà Tổng hành dinh Bộ Tổng tham mưu Ngụy . Treo cờ xong , tôi giao nhiệm vụ cho 2 đồng chí chiến sỹ ở lại đó làm nhiệm vụ bảo vệ cờ . Đứng trên nóc toà nhà Bộ Tổng tham mưu nhìn Sài Gòn mênh mông , rộng lớn , nhìn xuống dưới , bộ đội và xe tăng ta lúc này đã vào đầy cả sân phía trước toà nhà . Một niềm vui thật không sao kể xiết đối với tôi . Tôi không thể ngờ mình lại có được vinh dự đặc biệt này . Đây thực sự là những giây phút hạnh phúc nhất trong cuộc đời chiến binh của tôi.
 Lá cờ của Trung đoàn 28 được đồng chí Võ Hồng Kháng - Tham mưu phó Trung đoàn , đồng chí Lê Công Vững - Chính trị viên C10/D3/E28 cùng 2 chiến sỹ cắm ở cột cờ chính giữa toà nhà BTTN Ngụy lúc 10 giờ 20 phút ngày 30/4/75


 Đại tá Võ Hồng Kháng và Nguyễn Trung Du

    

CHUYỆN VỀ CHIẾC XE TĂNG 377 ANH HÙNG

CHUYỆN VỀ CHIẾC XE TĂNG 377 ANH HÙNG
                                        Nguyễn Đình Thi - Sư đoàn 10

Những năm còn chiến tranh , nếu bạn đi trên đường 18 thuộc vùng giải phóng tỉnh Kon Tum , cách thị trấn Tân Cảnh chừng 8 km về phía Tây , ở phía bên phải sân bay Phượng Hoàng bạn sẽ thấy một hình ảnh vô cùng xúc động - một chiếc xe tăng của ta mang số hiệu 377 của đại đội xe tăng 7 - Tiểu đoàn xe tăng 297 - Mặt trận Tây Nguyên ( lúc này Trung đoàn xe tăng 273 chưa thành lập ) bị địch bắn cháy . Phần đuôi xe tăng chờm khoảng 1m lên miệng một hố bom to . Khẩu súng máy 12ly7 nòng vẫn nghếch lên trời . Xung quanh chiếc xe tăng 377 là 7 xe tăng M41 của địch cũng bị cháy rụi . Chiếc gần nhất cách xe tăng 377 khoảng 100m , chiếc xa nhất cách xe 377 chừng hơn 200m . Có điều lạ là 3 xe tăng M41 của địch bị xe tăng 377 bắn cháy đều nằm khá gần nhau , nòng pháo của cả 3 xe tăng này vẫn hướng về chiếc xe tăng 377 . Hình ảnh này cho ta thấy sự mưu trí và quả cảm như thế nào của xe tăng 377 trước bầy xe tăng địch . Trong lịch sử chiến đấu của bộ đội tăng , thiết giáp Việt Nam chưa có một trận đấu tăng nào giữa ta và địch lại lập được kỷ lục cao như vậy . 1 chọi 10 và bắn cháy 7 . Đây thật sự là một huyền thoại . Theo cuốn Lịch sử Lữ đoàn xe tăng 273 - Quân đoàn 3 , diễn biến trận đánh như sau : Tầm hơn 11 giờ ngày 24/4/1972 , sau khi Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 37 đặc công chiếm được căn cứ Sư đoàn 22 địch ở thị trấn Tân Cảnh thì cánh quân của Trung đoàn 1 - Sư đoàn 2 đánh chiếm căn cứ Đắc Tô 2 ( căn cứ của Trung đoàn 47 - Sư đoàn 22 ) , cách Tân Cảnh chừng hơn 8km lại gặp nhiều khó khăn . Trung đoàn 1 không phát triển lên được mà còn đang bị bộ binh và xe tăng địch phản kích , bao vây có nguy cơ bị tiêu diệt . Trước tình hình trên , Tư lệnh Mặt trận Cánh Đông - Nguyễn Mạnh Quân lệnh cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 - Phùng Bá Thường và Tiểu đoàn Trưởng tiểu đoàn xe tăng 297 khẩn trương điều ngay 3 xe tăng vừa cùng Trung đoàn 66 - Sư đoàn 10 đánh chiếm căn cứ Sư đoàn 22 , lên Đắc Tô 2 chi viện gấp cho cánh quân của Trung đoàn 1 . Mặc dù vừa làm chủ căn cứ 42 , chưa kịp nghỉ ngơi , chuẩn bị . 3 xe tăng của Đại đội 7 gồm xe 377 , 354 , 369 và 1 xe pháo cao xạ tự hành ZSu57 - 2 số 022 của Đại đội 53 đã gấp rút lên đường . Xe tăng 377 do Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển chỉ huy lúc này ở phía ngoài cửa mở căn cứ 42 , sau khi nhận lệnh , Nguyễn Nhân Triển lập tức cho xe nổ máy nhằm hướng Đắc Tô 2 tiến , không kịp chờ 2 xe 354 và 369 . Trên đoạn đường dài chừng hơn 8km từ căn cứ 42 tới Đắc Tô 2 , xe 377 vừa đi vừa chiến đấu . Dùng 12ly7 bắn trả máy bay địch và tiêu diệt nhiều toán lính địch ở 2 bên đường . Chừng hơn 12giờ , xe 377 tới Đắc Tô 2 , phát hiện bộ binh và xe tăng địch đang tấn công dữ dội vào cánh quân Trung đoàn 1 . Không chờ 2 xe sau . Nguyễn Nhân Triển lập tức cho xe lao vào tấn công . Thấy xe tăng ta xuất hiện , bộ binh địch hoảng sợ bỏ chạy nhưng máy bay địch lại bu vào ném bom xe 377 . 10 xe tăng M41 của địch đang cùng bộ binh của chúng dồn ép Trung đoàn 1 , giờ quay sang bao vây tấn công xe tăng 377 . Tình thế lúc này cực kỳ nguy hiểm , xe 377 đã nằm gọn trong vòng vây của 10 xe tăng địch . Nguyễn Nhân Triển bình tĩnh thông báo tình hình với 2 xe tăng đi sau , đồng thời cho xe 377 lao thẳng vào cả bầy xe tăng địch . Vừa bắn , vừa tránh . Ngay phút xung trận đầu tiên xe 377 đã bắn cháy 3 xe tăng địch . Sau khi đơn độc tả xung , hữu đột bắn cháy tới chiếc xe tăng thứ 6 thì xe 377 cũng bị trúng đạn . Anh em bộ binh kể lại : sau khi xe tăng 377 bị trúng đạn , mọi người vẫn thấy một quả đạn nữa được bắn ra từ xe tăng này , diệt thêm một xe tăng địch . Cả kíp xe 4 người của xe tăng 377 , gồm trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển , lái xe Cao Trần Vịnh , pháo thủ Nguyễn Đắc Lượng , nạp đạn Hoàng Văn Ái đều đã hy sinh . Khi làm công tác tử sỹ , các chiến sỹ Tiểu đoàn xe tăng 297 thấy mấy nắm cơm mà anh nuôi phát cho các anh từ tối hôm trước vẫn còn nguyên , nhưng đã bị cháy đen . Hoá ra cả đêm trước đưa xe tăng vào vị trí chiến đấu , sáng ra lại nổ súng tấn công ngay cho tới tận lúc hy sinh tất cả 4 người vẫn chưa ai kịp ăn . 2 xe tăng 354 và 369 đi sau khi nhận được thông tin từ xe tăng 377 đã nhấn ga , tăng hết tốc lực để kịp chi viện cho xe tăng 377 , nhưng khi tới đầu căn cứ Đắc Tô 2 thì phát hiện xe tăng 377 đã bị địch bắn cháy . Ngay lập tức 2 xe 354 và 369 đã lao chiến đấu . Bắn cháy thêm 2 xe tăng M41 . Sau một giờ chiến đấu , xe 354 và 369 cũng bị máy bay địch bắn hỏng . Được sự chi viện của xe tăng . Bộ binh Trung đoàn 1 tiếp tục phản kích đánh chiếm các mục tiêu còn lại tại căn cứ Đắc Tô2 . Tầm 15 giờ , ngày 24/4/1972 , Trung đoàn 1 đã làm chủ căn cứ Đắc Tô 2 . Nắm cơm cháy của 4 chiến sỹ xe tăng 377 hiện giờ được trưng bày tại bảo tàng binh chủng tăng - thiết giáp . Ghi nhận chiến công đặc biệt xuất sắc của tập thể xe tăng 377 , ngày 9 tháng 2 năm 2009 , Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký quyết định truy tặng danh hiệu cao quý ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN cho tập thể xe tăng 377 . Giờ đây xe tăng 377 được đưa về trưng bày tại Khu di tích lịch sử chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh ở ngay ngã 3 Thị trấn Tân Cảnh thuộc huyện Đắc Tô - Kon Tum . Chỉ tiếc là những chiến sỹ trên chiếc xe tăng này mới thật sự là những người ANH HÙNG nhưng đến nay vẫn chưa được truy tặng danh hiệu ANH HÙNG.


Xe tăng 377 của ta bị địch bắn cháy
Xe tăng 377 hiện trưng bày tại Khu di tích lịch sử Đắc Tô - Tân Cảnh