TIÊU DIỆT CĂN CỨ KLENG - KON TUM

TIÊU DIỆT CĂN CỨ KLENG - KON TUM
Căn cứ Kleng (địch gọi là Lệ Khánh) nằm trên Điểm cao 530, cách thị xã Kon Tum 22km về phía tây được Mỹ xây dựng từ năm 1965 trong hệ thống bảo vệ vòng ngoài ở Tây Nguyên (gồm Đăk Pét, Đăk Siêng, Plây Cần, Kleng, Chư Nghé, Đức Cơ và Ea Súp). Sau này, địch củng cố thành căn cứ biên phòng trọng yếu án ngữ phía Tây Nam tỉnh Kon Tum.
Trấn giữ căn cứ này là tiểu đoàn 62 biệt động quân biên phòng mà hầu hết binh lính là người Thượng đã bị tuyên truyền lừa phỉnh nên rất ác ôn và ngoan cố, cùng một trận địa pháo 105mm… tổng cộng hơn 400 tên. Tết Nhâm Tý (1972), tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu đến thăm, khích lệ binh lính ở căn cứ Kleng đã tuyên bố: “Đây là một mắt xích rất quan trọng trong hệ thống phòng ngự chiến lược liên hoàn có công sự kiên cố, vững chắc. Nếu Việt Cộng liều lĩnh tấn công vào đây nhất định sẽ thất bại, không một mảnh giáp trở về”.
Sau khi nghiên cứu thảo luận, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn 320 đã quyết định giao cho Trung đoàn 52 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Hồ Hải Nam và Chính ủy Đặng Ngọc Truy . Trung đoàn được tăng cường một số phân đội hỏa lực, công binh tiến công tiêu diệt căn cứ Kleng.
Đúng 5 giờ ngày 4-5-1972, Trung đoàn trưởng Hồ Hải Nam phát lệnh nổ súng thực hành vây lấn Kleng. Cùng lúc, các trận địa pháo chiến dịch tăng cường hỏa lực cối 82mm, ĐKZ, 12,7mm của trung đoàn bắn phá dồn dập vào căn cứ địch. Hầu hết tuyến công sự, lô cốt vòng ngoài bị pháo bắn thẳng của ta phá sập, một bộ phận quân địch và phương tiện bị diệt, phá hủy. Trong lúc pháo ta bắn, các hướng, các mũi vào vị trí chuẩn bị chiếm lĩnh trận địa, công binh dò mìn chuẩn bị đường cơ động cho xe tăng. Sau ít phút choáng váng, chỉ huy địch ở Kleng gọi máy bay các loại đến thả bom, phóng rốc két, bắn đạn 20mm xuống xung quanh căn cứ. Các trận địa cao xạ lập tức phát hỏa bắn rơi một số máy bay địch. Địch lại dùng pháo cối bắn mạnh ra ngoài, đồng thời gọi máy bay chiến lược B-52 đến ném bom rải thảm, làm một số cán bộ, chiến sĩ ta thương vong, trong đó có 3 đại đội trưởng hy sinh. Đặc biệt, lúc 9 giờ 30 phút ngày 4-5, một quả đạn từ trực thăng địch phóng xuống trúng nơi họp của Tiểu đoàn 6 làm đồng chí Phó trung đoàn trưởng và Trợ lý Pháo binh trung đoàn hy sinh, Tiểu đoàn trưởng, Chính trị viên, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 6, Trợ lý Tác chiến tiểu đoàn và một số cán bộ khác bị thương. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 6 mất sức chiến đấu. Trung đoàn phải đưa Trưởng ban Tác chiến và Trưởng ban Tổ chức xuống chỉ huy Tiểu đoàn 6, đồng thời cử cán bộ thay thế các đồng chí đã hy sinh để tổ chức bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa.
Sau 5 ngày vây lấn, pháo binh ta đã phá hủy hơn 60% công sự, lô cốt cùng một bộ phận sinh lực địch; các kho bốc cháy, trận địa pháo 105mm và phần lớn hỏa lực cối của địch bị tê liệt. Trong khi đó, các lực lượng của trung đoàn đã khống chế địch ở Chư Dom (phía đông nam căn cứ 2km), tiêu diệt bọn biệt kích thám báo ở vòng ngoài, làm chủ điểm cao 600 (phía tây căn cứ gần 3km), cầu Đăk Si (đông nam căn cứ), hình thành thế bao vây chặt căn cứ địch; bộ binh ở các hướng đã triển khai đúng kế hoạch; đường cơ động cho xe tăng đã hoàn thành; bộ phận phá hàng rào bằng bộc phá FR đã sẵn sàng. Từ thực tế đó, chỉ huy Trung đoàn 52 quyết định tiến công dứt điểm căn cứ Kleng vào sáng 9-5.
Vào lúc 3 giờ ngày 9-5, trên hướng chủ yếu phía Tây do Tiểu đoàn 6 đảm nhiệm, được pháo binh chi viện, các chiến sĩ công binh đã mở xong hai cửa mở; ta tiếp tục sử dụng bộ FR mở một cửa mở rộng hơn 6m thông qua 11 lớp rào thép gai. Dưới làn pháo chi viện, bộ binh và xe tăng ta tiến vào vị trí xuất phát tiến công.
Đúng 5 giờ, sau đòn sấm sét cuối cùng của pháo binh ta trút xuống căn cứ Kleng, từ hai hướng Tây và Tây Nam, Đại đội 9 và Đại đội 10 (Tiểu đoàn 6) được 3 xe tăng yểm trợ đã vượt qua cửa mở đồng loạt phát triển vào bên trong. Xe tăng ta dùng pháo tiêu diệt các lô cốt, hỏa điểm địch còn lại và dùng súng máy 12,7mm bắn mạnh vào hai bên sườn, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong. Địch dốc hết lực lượng cuối cùng ra phản kích, chúng điên cuồng phóng chất độc hóa học, bắn hơi cay, dùng hỏa lực và các loại súng bắn như vãi đạn về phía ta. Một số cán bộ, chiến sĩ ta tiếp tục bị thương vong. Cùng lúc đó, từ hướng Đông Nam, Đại đội 2 (Tiểu đoàn 4) sau khi tổ chức xung phong bị địch dùng hỏa lực ngăn chặn, đã nhanh chóng vòng về cửa chính ở hướng Nam, dùng bộc phá phá cổng tiến vào phối hợp cùng Tiểu đoàn 6 đánh địch. Trước sức tiến công như vũ bão của ta, quân địch chống cự yếu ớt, phần lớn bị diệt tại chỗ, số còn lại theo đường hầm chạy ra phía Đông. Đúng 6 giờ 30 phút ngày 9-5-1972, ba mũi tiến công của hai tiểu đoàn gặp nhau ở sở chỉ huy địch. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Trần Văn Quyến báo cáo về Sở chỉ huy trung đoàn ta đã làm chủ căn cứ Kleng.
Căn cứ Kleng-“lá chắn thép” cuối cùng của địch ở phía Tây thị xã Kon Tum bị đập tan đã mở ra vùng giải phóng rộng lớn ở phía Tây Nam tỉnh Kon Tum nối với hành lang vận tải chiến lược ở phía Tây, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đưa lực lượng, phương tiện kỹ thuật vào tiến công địch ở thị xã Kon Tum. Với chiến công này, Trung đoàn 52 đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba.
NGUYỄN HÙNG TẤN
Hình ảnh một góc căn cứ KLeng bị ta phá hủy
Nguyễn Sau, CP Giang và 95 người khác
27 bình luận
1 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
    

NHỚ ANH , NGƯỜI TRƯỞNG BẾN ĐÒ TRÊN SÔNG PÔ KÔ

NHỚ ANH , NGƯỜI TRƯỞNG BẾN ĐÒ TRÊN SÔNG PÔ KÔ
Mậu Kiều - E28
Năm 1972 , sau khi đánh thị xã Kon Tum rút ra , chúng tôi lại nhận nhiệm vụ mở bến đò trên dòng sông Pô Kô để vận chuyển lương thực , thực phẩm và vật tư , khí tài qua sông chuẩn bị cho các trận đánh tiếp theo . Chúng tôi ở bến DIÊN BÌNH khoảng chừng hơn một tháng thì lại nhận lệnh chuyển xuống bến dưới ĐAK MUT gọi là bến Đ29 . Để tránh bị lộ , hàng hoá , vật tư chúng tôi chỉ chở vào ban đêm còn ban ngày phải dìm đò chìm xuống sông . Một hôm có một đơn vị bạn chờ qua sông , họ nấu ăn bên bờ bên kia , khói lên quá dày , bên này chúng tôi quát sang thế nào cũng không nghe . Một lúc sau một chiếc máy bay trinh sát L19 đến , nó vè vè xung quanh khu vực phát ra khói . Với kinh nghiệm của người lính dày dạn chiến trường anh Túc - tổ trưởng bến đò bảo chúng tôi :
- Chúng mày xuống hầm trước đi nếu không trực thăng nó đến là không xuống kịp đâu !
Nghe lời anh , mấy anh em chúng xuống hầm trước còn anh vẫn đứng ở trên để quan sát . Anh Túc vừa nói xong thì đã thấy trực thăng địch kéo đến , chúng lượn một vòng rồi bắn xối xả xuống khu vực có khói bốc lên , bỗng chúng bắn một quả Rốc két sang bên này sông chỗ chúng tôi ở . Quả đạn trúng ngay vào cái dây leo to trên nóc nhà , phát nổ . Anh Túc chưa kịp xuống hầm bị một mảnh đạn găm vào đầu , óc văng ra ngoài và một mảnh cắt đứt luôn dây võng làm anh ngã xuống nền nhà . Hai tiếng sau anh Túc mất , tức quá tôi mới chửi đổng sang bên kia sông :
- Tiên sư chúng mày , bảo chúng mày không nghe làm chúng tao bị vạ lây !
Lạ quá chẳng thấy họ trả lời tưởng họ cũng đứt hết rồi . Lo mai táng cho anh Túc xong , chờ cho trời tối chúng tôi mới vớt đò lên rồi bơi sang sông để đón họ , định bụng sẽ chửi cho họ một trận cho đỡ tức , khi sang đến nơi , chúng tôi lên bờ , đến nơi khi sáng có anh em bộ đội mình đun nấu nhưng rất lạ là chẳng thấy ai , chỉ thấy mùi khét lẹt của bom đạn và những cành cây trúng đạn rơi lả tả . Thế đấy không biết họ có sao không nhưng chúng tôi thì mất người chỉ huy bến . Thật là đau xót ! Gần 50 năm đã trôi qua nhưng không lúc nào tôi nguôi thương nhớ về anh , một người đồng đội , một người anh kính yêu . Tôi chỉ biết anh quê ở Hà Tĩnh cũng không biết rõ anh thuộc huyện nào ? Không biết giờ phần mộ anh giờ ở đâu để tôi có thể đến được thắp cho anh một nén hương .
Bạn, Thi Nguyễn Đình, Nguyễn Sau và 97 người khác
36 bình luận
1 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
    

SÔNG PÔ KÔ

TÂY NGUYÊN - NHỮNG ĐỊA DANH KHÔNG THỂ NÀO QUÊN
SÔNG PÔ KÔ
Nguyễn Đình Thi
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước , những người lính Tây Nguyên không ai có thể quên một con sông xinh đẹp vào bậc nhất Tây Nguyên và luôn gắn bó với những người lính Tây Nguyên , đó là sông PÔ KÔ .
Sông Pô Kô là một con sông ở phía tây tỉnh Kon Tum . Sông dài khoảng 320km , bắt nguồn từ dãy Ngọc Linh vùng núi ở huyện Đắk Glei, chảy theo hướng Bắc - Nam qua huyện Ngọc Hồi, đổi hướng Tây Bắc - Đông Nam qua huyện Đắk Tô, đổi hướng Bắc - Nam làm thành ranh giới tự nhiên giữa Đắk Tô với Đắk Hà, giữa Sa Thầy với Đắk Hà, giữa Sa Thầy với thành phố Kon Tum rồi hợp lưu với sông Đak Bla gọi là sông Sê San . Rồi từ đó đổ sang Cam Phu Chia vào sông Mê Kông.
Do địa hình dòng chảy là vùng rừng núi nên sông có nhiều mỏm đá nên có nhiều ghềnh , thác . Có những con thác rất đẹp như thác Y A LY . Lòng sông không rộng lắm . Vào mùa mưa nước sông PÔ KÔ đục ngầu , cuồn cuộn chảy . Vào mùa khô , sông trong xanh có vẻ hiền hoà hơn . 2 bên bờ sông quanh năm cây xanh ngắt rủ xuống dòng sông trông thật đẹp . Trong những năm chiến tranh ta thường tổ chức đưa bộ đội và hàng hoá qua con sông này do vậy con sông này cũng là trọng điểm đánh phá ác liệt của địch . Sông PÔ KÔ đã đi vào sử sách và thơ ca như bản anh hùng ca của Tây Nguyên kiên cường , bất khuất . Giờ ở xa PÔ KÔ mỗi lần nhắc đến sông PÔ KÔ những người lính Tây Nguyên ai cũng thấy nao nao một nỗi nhớ.
Hình ảnh: Sông Pô Kô Tây Nguyên
    

HỒI ỨC VỀ MẶT TRẬN VỊ XUYÊN – HÀ TUYÊN

HỒI ỨC VỀ MẶT TRẬN VỊ XUYÊN – HÀ TUYÊN
Ngày 18/ 7/84, chúng tôi những sinh viên đại học Bách Khoa khóa 24 vừa ra trường nhận được lệnh lên đường nhập ngũ cùng các anh em tân binh quận Hai Bà Trưng vì vùng biên giới Vị Xuyên – Hà Tuyên đang rực lửa. Tháng 3/1986 Tiểu đoàn 6-E24-F10-QĐ3 chúng tôi nhận lệnh tăng cường cho Sư 31-QĐ3 đang chiến đấu trên mặt trận Vị Xuyên. Với tên chiến dịch A3 Sông Lô. Trong đó có 16 anh em mới qua Đại học.
Sau hai ngày hành quân bằng ô tô , chúng tôi đã tới Hà Giang . 50 chiến sĩ C9 tách ra được huấn luyện cùng với một đơn vị đặc công. C12 vào làng Pinh cùng 1 khẩu đội 12,7 lên Pa Hán. C11 lên nóc hang Dơi. C10 và Dbộ lên Cốc Nghè, một khẩu đội DKZ sang điểm cao không tên anh em thường gọi là Phong lan.
Sau thời gian củng cố công sự, chỗ ăn ở, chúng tôi làm nhiệm vụ vận tải bộ cho các đơn vị phía trước như gùi gạo, nước, thực phẩm, gỗ, bê tống chống hầm… mà anh em vẫn đùa là ăn cơm với rơm (củ cải khô), mùn cưa (ruốc cá)… sau đó có tăm (gỗ chống hầm), kẹo lạc (thanh bê tông thẳng), vừng vòng (thanh bê tông cong) tráng miệng.
Sau 1 tháng huấn luyện bổ xung , C9 vào lên dũi địa đạo tại Cô Ích, Đồi đài.Ở đây anh em C9 nằm chốt và làm quen với địa đạo để đánh mở cửa cho chiến dịch.
Sinh hoạt thành nếp bên cạnh công tác hàng ngày chúng tôi còn kiếm rau, kiếm củi, hái chè ở mấy nhà dân do chiến tranh không có người ở. Đời sống sinh hoạt trên mặt trận tuy thiếu thốn nhưng cũng được quan tâm đến những nhu cầu nhỏ trong điều kiện chiến tranh. Mặt trận bố trí có báo cho mọi người đọc và người cắt tóc cho chiến sỹ ngay cạnh đường lên 812.
Tháng 4/1986 , tôi xuống nắm tình hình thương binh của đơn vị tại Nà Cáy trên đường từ Làng Ping qua Nà Cáy, ve bò lổm ngổm trên đường nhựa hát inh tai. Trên đường, đi đâu cũng được anh em vồn vã với câu cửa miệng “đồng hương”: đồng hương có vào không lên xe đi, đồng hương ghé chỗ tôi chơi, đồng hương vào ăn cơm… như anh em trong một nhà vậy. Có lần ra Hà Giang, 2 anh em không có giấy tờ gì ngoài 2 mẩu giấy ra vào khu A bé như vé xem phim nhưng cũng được chị Liên ở nhà khách tỉnh bố trí cho 1phòng hơn 40 giường có cả đèn và quạt và có cả các anh công an, bảo vệ thăm hỏi, chuyện trò ấm áp như người thân.
Tháng 5/1986 , tôi và mấy anh em tháp tùng Chính trị viên Tiểu đoàn đi thăm các đơn vị đóng rải rác quanh ngã 3 Thanh Thủy. Trên đường vào hang Dơi chúng tôi được các “bạn” bên kia chiến tuyến bắn hàng ngàn loạt súng lớn, súng nhỏ chào mừng. Chớp đầu nòng lập lòe như đèn làm nhớ Hà Nội quá. Kẹt hơn tiếng cùng lính tải, chúng tôi quyết định cứ đi bừa. Vừa lội qua suối Thanh Thủy sang hang Dơi, pháo địch chuyển làn bắn ngay suối trước cửa hang. Hôm sau mới được biết có thám báo đạp đổ khẩu cối 60 dựng ngoài hầm chốt. Anh em mình tưởng địch lên nên bắn tín hiệu gọi pháo chụp. Phía địch cũng tưởng ta tấn công lên dội hỏa lực nhiệt tình lên nóc hang dơi, trận pháo dập này kéo dài 3-4 giờ.
Đúng sinh nhật bác 19/5, tôi được ngủ tại “Khách sạn Hà Nội gió” trên nóc hang dơi, đối diện với điểm cao 6A, phòng tuy dài 3-4 cái phản, nhưng hẹp chỉ kê được 1 phản đơn và được chào đón bởi lễ tân là 1 chú chuột. Chú chuột thân thiện chạy lăng xăng từ đầu đến chân rồi bày tỏ tình cảm bằng một nụ hôn ở ngón chân tôi nhưng chắc vội vì thời chiến lên để lại cả dấu răng.
Sáng 21/5 chúng tôi vượt sông Lô lên Pa Hán. Đã ai được đi cầu dây chìm trong nước sông Lô chưa. Súng phải khoác vào người, chân dò dẫm trên sợi dây thép chìm dưới sông còn 2 tay bám vào sợi dây thép phía trên, tùy con nước có thể ướt từ nửa ống quần hoặc bụng trở xuống. Nhìn dọc theo sông thấy đường tải lên 1509 và mấy hầm pháo địch đang nhòm mình. Leo lên Pa Hán, đi trên triền núi nhìn không gian thoáng đãng, tĩnh mịch thỉnh thoảng có tiến súng vang vọng giữa các vách núi, vừa đi vừa liên tưởng đến chuyện An Đéc Xen khi đứng trên cao nhìn xuống và không khỏi mỉm cười, chắc chẳng bao giờ có cảm giác thư thái như lúc đó. Đứng ở Pa hán nhìn rõ các điểm cao đang tranh chấp như 6A, 6B, Cô Ích, Đồi Đài, Cây chuối… cùng con đường lên cửa khẩu Thanh Thủy không một bóng người với không gian trầm lắng, tạo cho ta một cảm giác lâng lâng. Lúc xuống núi, được anh em tiễn bằng nhạc nhảy Dísco 86 thực hiện bằng nhạc cụ 12,7 ly thật hào hùng.
Tháng 6 mưa tầm tã. Nhiều hầm bị sập. Kho bê tông trên đường lên 812 sập, từ sáng sớm anh em đào bới nhưng đến tối mịt mới tìm thấy 2 đồng chí hy sinh trong đó có 1 ở phố Thụy Khuê làm gia đình 1 đồng đội của tôi tưởng là con mình đã mất. Địa đạo dũi được 126m mưa sập một số chỗ lộ cột chống và hầm sập nhiều, vận tải bộ mùa mưa khó khăn nên chúng tôi được lệnh rút.
Trong giai đoạn bàn giao chuyển quân, pháo địch bắn không ngớt. May mắn thay, suốt 4 tháng trên chốt, cả tiểu đoàn tôi chỉ bị thương và xây sát 56 người trong khi mặt trận vẫn có bình quân 1 ngày 1 người hy sinh. Như anh em nói, đấy là nhờ lúc hành quân lên gặp tới 3 đám ma, bà con đi đưa đám ai cũng giơ tay chúc các con đi may mắn và do mưa sập hầm, chiến dịch chưa mở chúng tôi đã nhận lệnh rút. Về đến đơn vị cũ, tôi vẫn nhớ còn nhớ mãi khi đồng đội hỏi muốn gì và chiêu đãi tôi nửa luống rau muống trong đồn điền rau sau nhà với bát nước chấm bù cho 4 tháng không có rau trên chốt.
Các năm sau khi ra quân gặp nhau, phần lớn vẫn là những câu chuyện đáng nhớ trên chốt, nơi giữa sinh và tử mọi người như anh em một nhà. Có lẽ đó là sức mạnh vô địch của quân đội ta mà không vũ khí nào thay thế được.
Hơn 30 năm sau, chúng tôi mới có dịp quay lại chiến trường xưa. Vẫn núi, vẫn sông, vẫn suối đấy, nhưng đã nhìn thấy những mái nhà, những người dân sinh sống trên mảnh đất này. Đỉnh 6A, 6B xưa như 1 lò vôi nham nhở, trắng xóa, đá vụn lạo xạo dưới chân, không 1 bóng cây thì giờ đây đã xanh trở lại. “Sống bám đá, chết hóa đá hóa thành bất tử”. Bao máu xương của những chiến sỹ đã ngã xuống nơi đây đang hồi sinh mảnh đất này.
Hà Giang 7/2016
Quốc - quân lực tiểu đoàn 6, e24, f10, QĐ3
(d62-f411 tại mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên năm 1986)