KỶ NIỆM 44 NĂM GIẢI PHÓNG SÀI GÒN


KỶ NIỆM 44 NĂM GIẢI PHÓNG SÀI GÒN
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, đại đội 9 - xe tăng của Trung đoàn xe tăng 273 gồm 4 xe tăng ( 2 xe M48, 2 xe M41) do đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy đi cùng cánh quân của Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10 đánh từ hướng Tây Bắc vào nội đô Sài Gòn đã lập một kỷ lục xuất sắc, bắn cháy 24 xe tăng, xe bọc thép của địch ở khu vực cầu Bông (cầu An Hạ - Huyện Hóc Môn ngày nay), tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn 10 thọc sâu đánh chiếm Sài Gòn, và cũng là đơn vị xe tăng có mặt ở nội đô Sài Gòn sớm nhất trong ngày 29/4/75 (12 giờ 30 phút ngày 29/4/75 đã có mặt tại ngã 3 Bà Quẹo, cách ngã tư Bảy Hiền chừng hơn 2 km). Nhân kỷ niệm 44 năm Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, trang Lính Tây Nguyên có vinh dự được nghe Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 9 xe tăng, nguyên Tư lệnh binh chủng tăng -thiết giáp, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân kể về trận đánh này. Sau đây, mời các bạn nghe cuộc trò chuyện của chúng tôi với Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng

https://drive.google.com/file/d/1kurHLICCY4s-UuYpS70AUPNRpS8lA9dG/view?usp=drive_web
    

CHUYỆN VỀ NHỮNG CẶP ĐÔI CƯỚI NHAU Ở CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN


CHUYỆN VỀ NHỮNG CẶP ĐÔI CƯỚI NHAU Ở CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN
( Nguyễn Đình Thi )

Chiến trường Tây Nguyên là một chiến trường đặc biệt khó khăn,gian khổ và ác liệt. Thế nhưng có ai biết rằng ở một chiến trường đầy khó khăn, gian khổ và ác liệt như thế mà tình yêu vẫn nẩy nở, vượt lên cả bom đạn, đơm hoa, kết trái. Quả thực đó là những mối tình thật tuyệt vời, người ngoài cuộc khó có thể tin.
Trang Lính Tây Nguyên xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết về những cặp đôi yêu nhau và kết hôn tại chiến trường Tây Nguyên trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

1. Đám cưới đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên của những người lính là đám cưới của nhạc sỹ Đoàn Văn công xung kích Tây Nguyên - Thanh Phát với diễn viên múa Y Mau . Nhạc sỹ Thanh Phát quê ở Bình Thuận , trước ở Sư đoàn 324 , khi thành lập Đội Văn nghệ xung kích Tây Nguyên tháng 3/1967 , anh được điều về Đội . Anh là một nhạc sỹ tài hoa , anh vừa sáng tác vừa là ca sỹ . Anh diễn hề , hài rất giỏi , anh còn có biệt tài là bắt chước tiếng chim , thú rất giống . Còn Y Mau vợ anh là cô gái dân tộc Sê Đăng . Trước khi về Đội Văn Công xung kích Tây Nguyên , Y Mau công tác ở Văn công tỉnh Kon Tum . Y Mau là một cô gái xinh xắn và là cô gái trẻ nhất của Đội Văn nghệ xung kích Tây Nguyên lúc đó . Cô là diễn viên múa , đặc biệt rất giỏi biểu diễn đàn Kloongput . Chỉ với các ống nứa dài , ngắn khác nhau được xếp lên bàn rồi dùng 2 bàn tay vỗ vỗ Y Mau tạo nên một bản nhạc không lời tuyệt vời . Các tiết mục do Y Mau biểu diễn luôn được bộ đội ngợi khen , yêu thích . Sau giải phóng anh Thanh Phát và chị Y Mau về công tác tại đoàn văn công Quân khu 5 cho tới lúc nghỉ hưu . Anh chị sống bên nhau rất hạnh phúc , anh chị có 2 con trai , trong đó có một cháu sinh năm 1973 tại chiến trường Tây Nguyên . Con lớn của anh chị cũng theo nghiệp bố mẹ , hiện công tác ở Đoàn Văn công Quân khu 5 . Con thứ 2 hiện là Thiếu tá trong Quân đội . Nhạc sỹ Thanh Phát mất năm 2016.

2. Cặp cưới thứ 2 của Đội Văn công Tây Nguyên tại chiến trường Tây Nguyên đó là cặp Thanh Lịch - Xuân Cước . Chị Thanh Lịch quê ở Quảng Bình , là y tá của Viện Quân y 103 , chị vào chiến trường Tây Nguyên từ năm 1965 cùng với các y , bác sỹ của Viện 103 . Khi thành lập Đội Văn nghệ xung kích Tây Nguyên , Thanh Lịch từ Viện 211 được chuyển về Văn công Tây Nguyên . Thanh Lịch có giọng hát trời phú , cao và khỏe , được coi là Tường Vi của Tây Nguyên . Thời ở chiến trường Tây Nguyên cái tên Thanh Lịch đã để lại những dấu ấn rất đặc biệt mỗi lần chị xuất hiện biểu diễn . Sau giải phóng chị về công tác ở Nhà hát Quân đội . Anh Xuân Cước - chồng chị quê ở Sóc Sơn - Hà Nội . Trước lúc về Văn công Tây Nguyên anh là lính tiểu đoàn đặc công K37 . Anh có giọng ca rất mượt mà , những làn điệu hát chèo của anh luôn mê hồn các chiến sỹ . Anh Xuân Cước và chị Thanh Lịch cũng tổ chức cưới năm 1973 tại chiến trường Tây Nguyên . Anh chị có 2 con , một gái , một trai trong đó có một con sinh tại chiến trường . Con gái của chị cũng theo nghiệp của bố mẹ . Cháu hiện công tác ở nhà hát ca múa nhạc Việt Nam , con trai anh chị làm nghề xây dựng . Sau giải phóng anh Cước được cử đi học ở Học viện chính trị , rồi về làm công tác tuyên huấn ở Tổng cục Hậu cần với chức danh Trưởng ban . Anh chị sống với nhau rất hạnh phúc và hiện ở khu văn công Mai Dịch - Hà Nội .

3. Cặp cưới thứ 3 của Đội Văn công Tây Nguyên đó là cặp chị Mai Hoà và anh Vũ Quý . Chị Mai Hoà quê ở Hà Nội . Học xong lớp Y sỹ chị xung phong đi chiến trường . Chị vào Tây Nguyên từ năm 1965 và làm y sỹ của Viện 211 , sau chuyển về làm Y sỹ của đoàn văn công Tây Nguyên . Sau giải phóng chị về quê chồng ở Yên Bái và làm chuyên môn Y sỹ ở một cơ quan cuả tỉnh . Còn chồng chị - anh Sỹ Quý trước công tác ở Trung đoàn 40 - Pháo binh . Do có năng khiếu về âm nhạc anh được điều về Văn công Tây Nguyên từ năm 1967 và là nhạc sỹ của Đoàn . Rất nhiều bài hát do anh sáng tác được lính Tây Nguyên rất yêu thích . Anh chị cưới nhau năm 1973 tại chiến trường Tây Nguyên . Anh chị có 3 con , con trai lớn cũng theo nghiệp bố mẹ , hiện giảng dạy tại Trường Cao đẳng nghệ thuật tỉnh Yên Bái . Sau giải phóng anh Quý chuyển về quê Yên Bái công tác , làm Hiệu trưởng Trường Văn hoá nghệ thuật Yên Bái , rồi làm Phó giám đốc Sở Văn hoá Yên Bái . Gia đình anh chị Hoà - Quý cũng rất hạnh phúc .

4. Cặp cưới thứ 4 của Đoàn Văn công xung kích Tây Nguyên đó là cặp chị Tuyết Minh và anh Xuân Thọ . Chị Minh và anh Thọ đều quê ở Hà Tây cũ . Chị Minh trước đây là y sỹ của Viện 211 . Chị vào chiến trường từ năm 1965 . Do có gương mặt xinh xắn và giọng hát hay , năm 1967 chị được điều về Văn công Tây Nguyên . Ở Văn công Tây Nguyên chị vừa làm diễn viên hát , múa , vừa làm MC của Đoàn . Sau giải phóng chị về công tác ở Quân y Viện 105 . Anh Thọ chồng chị trước ở Đoàn Chèo Quảng Ninh , anh vào chiến trường Tây Nguyên năm 1968 . Sau giải phóng anh về công tác ở tỉnh đội Hà Tây . Anh chị có tất cả 4 con , các con anh chị đều đã trưởng thành . Vợ chồng anh chị sống rất hạnh phúc

5/ Đám cưới đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên được tổ chức chính thức đồng ý là đám cưới của một cán bộ cấp cao - Tham mưu phó Mặt trận Tây Nguyên - Nguyễn Đức Giá với Y sỹ Nguyễn Thị Liệu . Anh Nguyễn Đức Giá quê ở Thái Bình , lúc đó làm Tham mưu phó Mặt trận Tây Nguyên . Sau anh Giá làm Sư trưởng Sư đoàn 10 . Còn chị Nguyễn Thị Liệu quê Nam Hà cũ . Chị vào Tây Nguyên từ năm 1965 , sau đó được đào tạo Y sỹ tại Tây Nguyên rồi về làm Y sỹ ở Cơ quan Mặt trận . Anh chị tổ chức cưới nhau năm 1973 và sinh được một con tại chiến trường . Ở Tây Nguyên có nhiều giai thoại về cặp đôi này nhưng anh chị sống với nhau hạnh phúc tới cuối đời . Hiện anh Giá và chị Liệu đều đã mất .

6/ Cặp cưới thứ 6 là cặp Đồng Thị Hiển và anh Thủy . Chị Đồng Thị Hiển quê ở Bắc Ninh . Học xong lớp Y sỹ chị xung phong đi chiến trường . Chị vào Tây Nguyên từ năm 1965 cùng các cán bộ của Quân y Viện 1 . Anh Thủy - chồng chị cũng quê Bắc Ninh . Anh Thủy trước là cán bộ của Tiểu đoàn 37 đặc công . Một lần bị thương , anh về điều trị tại Viện 1 và tình yêu của anh chị nảy nở từ đó . Năm 1973 , anh chị tổ chức lễ cưới . Năm 1974 , chị sinh đôi được 2 cháu Sơn và Hà . Nuôi 2 cháu sinh đôi đã khó , nuôi ở chiến trường còn vất vả , gian khó gấp bội phần . Chính vì vậy sức khỏe của chị giảm sút nghiêm trọng tưởng không sống nổi . Sau giải phóng chị chuyển về công tác ở Viện Quân y 10 . Anh Thủy chồng chị sau này phát triển trở thành cán bộ cấp Sư đoàn . Tiếc rằng lên cán bộ cấp Sư đoàn được mấy tháng thì anh lâm bệnh nặng , nằm liệt tới 12 năm rồi mất . Còn chị giờ vẫn sống tại Bắc Ninh . Anh chị có tất cả 3 con . Con trai lớn nối nghiệp cha mẹ vào Quân đội , giờ công tác ở Học viện Hậu cần . Nhiều lúc tâm sự chị luôn kêu số chị vất vả suốt từ lúc trẻ tới lúc già .

7/ Cặp thứ 7 là cặp Dung - Quyền . Chị Dung quê tại Ninh Bình . Chị vào Tây Nguyên từ 1965 , là nhân viên khoa Hoá nghiệm của Viện 211 . Còn anh Quyền chồng chị cũng quê Ninh Bình . Anh Quyền trước ở đơn vị chiến đấu . Bị thương về điều trị tại Viện 211 và họ yêu nhau . Năm 1973 , anh chị cưới nhau và có 1 cháu được sinh tại chiến trường . Anh chị sống với nhau rất hạnh phúc .

8/ Cặp cưới thứ 8 là cặp Nguyễn Thị Tiện và Nguyễn Đình Cầm . Chị Nguyễn Thị Tiện quê ở Bắc Ninh .Chị là con gái độc nhất trong một gia đình . Cha chị hy sinh trong kháng chiến chống Pháp . Sau khi học xong lớp Y sỹ , chị xung phong đi chiến trường và là Y sỹ của đội điều trị 17 đi phục vụ chiến dịch đường 9 - Nam Lào năm 1970 . Năm 1971 , khi Sư đoàn 320 vào Tây Nguyên , đội điều trị 17 của chị cũng đi cùng Sư 320 . Trước lúc đi chiến trường chị đã có người yêu là bác sỹ . Tưởng đi một thời gian rồi về ai ngờ ở miết tới 7 năm . Phận gái ở chiến trường có người yêu thương chẳng lẽ từ chối !Chồng chị anh Nguyễn Đình Cần - quê Nghệ An , công tác ở Cục hậu cần Mặt trận . Anh bị bệnh về điều trị ở Đội điều trị 17 . Tình yêu của anh chị từ đây nảy nở . Năm 1973 anh chị cưới nhau . Cưới nhau được 3 ngày anh trở về đơn vị , năm 1974 , anh được cử ra Bắc học , chị vẫn ở chiến trường . Khi giải phóng đến lượt chị ra Bắc thì anh lại vào Nam , rồi cuộc chiến ở CPC tiếp diễn anh tiếp tục cùng Quân đoàn tham gia chiến đấu và hy sinh ở CPC ngày 3/1/1979. Từ đó chị vẫn ở vậy nuôi con . Con trai duy nhất của anh chị sau này cũng noi gương cha mẹ vào Quân đội , giờ là Trung tá , công tác ở Cục khoa học và Công nghệ Bộ Quốc phòng.

9/ Cặp cưới thứ 9 là cặp Hạnh - Trưng . Đây là đám cưới gặp nhiều trắc trở . Hạnh và Trưng cùng vào chiến trường với Viện 211 từ năm 1965 và cùng công tác ở khoa Hoá nghiệm của Viện . Lúc đi chiến trường chị em phụ nữ của Viện ai cũng nghĩ vào chiến trường một thời gian rồi ra Bắc , không ngờ cuộc chiến làm cho họ ở tới 8 năm . Suốt 8 năm , bất chấp khó khăn , gian khổ , bất chấp đạn bom , tình yêu của Hạnh - Trưng vẫn không hề thay đổi , họ càng yêu thương nhau hơn . Do hoàn cảnh chiến trường ngặt nghèo , Viện lúc đó đang có phong trào 3 khoan : Khoan yêu , khoan cưới và khoan chửa , thành ra cặp đôi Hạnh - Trưng nhiều lần đề nghị vẫn chưa được tổ chức chấp nhận , mãi tới khi Hạnh có chửa , tổ chức mới đồng ý . Mặc dù chấp nhận cho cặp đôi này thành vợ chồng nhưng Chính ủy của Viện cho rằng làm như vậy là vô tổ chức , kỷ luật , đặt tổ chức vào việc đã rồi nên rất khoát không tới dự cưới và yêu cầu Viện trưởng cũng không tới dự . Không những thế Chính ủy Viện còn dặn chủ nhiệm khoa Hoá nghiệm chủ trì lễ cưới hôm đó : “ không tuyên bố công nhận 2 đồng chí lấy nhau “. Tuy vậy Viện trưởng Lê Cao Đài vẫn tới dự , anh em trong Khoa hóa nghiệm vẫn tổ chức cho họ một đám cưới vui vẻ , đầm ấm , có liên hoan và còn làm cho họ một ngôi nhà riêng . Cặp Hạnh - Trưng cũng có một cháu được sinh ở chiến trường và họ sống với nhau cũng rất hạnh phúc

10/ Cặp cưới thứ 10 là cặp của một cán bộ cấp cao , Đại tá Thái Bá Nhiệm và Y sỹ Kinh . Ông Thái Bá Nhiệm quê ở Quảng Bình . Ông vào Tây Nguyên tháng 3/1966 . Lúc cưới y sỹ Kinh ông là Thường vụ Đảng ủy , Chủ nhiệm chính trị Mặt trận Tây Nguyên . Đây là đám cưới của một cán bộ có chức sắc cao nhất ở Tây Nguyên lúc đó và có lẽ là một cán bộ có chức sắc cao nhất của cả nước cưới vợ ở chiến trường . Sau này ông Thái Bá Nhiệm là Uỷ viên Trung ương Đảng - Bí thư tỉnh Quảng Bình . Trước lúc cưới y sỹ Kinh ông đã có 2 đời vợ , nhưng cả 2 đều đã mất . Y sỹ Kinh cũng quê Quảng Bình , cô đi Thanh niên xung phong từ năm 1965 , sau đó được chuyển về Viện 211 , cô được đào tạo y tá rồi y sỹ ở Tây Nguyên . Gần cuối năm 1973 , y sỹ Kinh và ông Thái Bá Nhiệm tổ chức cưới . Năm 1974 , y sỹ Kinh được ra Bắc điều trị bệnh ở Viện Quân y 108 và mất tại đây . Ông Thái Bá Nhiệm và y sỹ Kinh không có con chung với nhau . Ông Thái Bá Nhiệm cũng đã mất năm 2015 .

11/ Cặp cưới thứ 11 là cặp Lộ - Chúc . Chị Lộ quê ở Gia Lâm - Hà Nội . Cô là Y tá của Đội điều trị 17 . Năm 1970 , cô cùng đội điều trị 17 đi phục vụ chiến dịch đường 9 - Nam Lào . Cuối năm 1971 , cô và Đội điều trị 17 đi cùng Sư đoàn 320 vào Tây Nguyên . Anh Chúc chồng cô cũng là Y tá của Đội điều trị 17 . Cặp đôi này yêu nhau từ năm 1971 , khi cả 2 cùng hành quân vào Tây Nguyên . Năm 1974 , cặp đôi này làm lễ cưới và có một con sinh ra ở Tây Nguyên . Sau giải phóng 2 vợ chồng về quê chồng ở Thái Bình sinh sống và lập công ty kinh doanh buôn bán phụ tùng ô tô rất phát đạt .

12/ Cặp cưới thứ 12 là cặp Loan - Ban . Nguyễn Thị Loan quê ở Hà Tĩnh , đi Thanh niên xung phong từ năm 1965 . Năm 1966 , cô được chuyển về Viện 211 rồi được đào tạo Y tá rồi Y sỹ . Chồng cô Y sỹ Ban cũng công tác cùng khoa Mổ với cô . Cặp đôi này cưới nhau năm 1974 .

13/ Cặp cưới thứ 13 là cặp Xuân - Khâm . Nguyễn Thị Xuân quê ở Hà Tĩnh , đi Thanh niên xung phong năm 1965 , năm 1966 được chuyển về Viện 211 . Cô được đào tạo Y tá rồi Y sỹ ở Tây Nguyên . Anh Khâm - chồng cô cũng quê Hà Tĩnh , là cán bộ Quân lực của Viện 211 . Năm 1974 , cặp đôi này tổ chức cưới và có tất cả 4 người con , trong đó có một cháu sinh ở chiến trường . Cặp đôi này sống với nhau rất hạnh phúc và hiện giờ sống tại thành phố Play Cu .

14/ Cặp cưới thứ 14 là cặp Hiếu - Trường . Y sỹ Hiếu quê ở Hà Tĩnh , đi thanh niên xung phong năm 1965 , năm 1966 được chuyển về Viện 211 . Hiếu là cô gái trẻ , xinh xắn , thường được khen là hoa khôi của Viện 211 . Anh Trường chồng Hiếu quê ở Nam Hà cũ . Anh công tác ở khoa Dược . Hiếu - Trường cưới nhau năm 1974 và cũng có một con sinh tại chiến trường . Cặp đôi này sống với nhau cũng rất hạnh phúc .

15/ Cặp cưới thứ 15 là cặp Huệ - Tân . Lương Thị Huệ quê ở Hà Tĩnh . Đi thanh niên xung phong năm 1965 , sau đó được chuyển về Viện quân y 211 năm 1966 . Ở Viện 211 , Huệ được tổ chức cho đi học Y sỹ . Nguyễn Minh Tân quê ở Hưng Yên . Vào chiến trường cùng Trung đoàn 28 năm 1968 , chiến đấu bị thương rồi chuyển về công tác ở Cục chính trị Mặt trận Tây Nguyên . Huệ và Tân cưới nhau năm 1973 và có 2 cháu được sinh đôi ở chiến trường . Huệ - Tân có tất cả 3 con , các cháu đều trưởng thành , con lớn sinh ở chiến trường vừa tốt nghiệp Phó Tiến sỹ y khoa tại Nhật Bản . Huệ và Tân sống với nhau rất hạnh phúc. Xin bật mí với bạn đọc , Huệ chính là em dâu của tác giả bài viết này . Chú thím tôi có 2 con , trong đó chỉ có Tân là con trai , khi Tân đi chiến trường cả nhà đều rất lo lắng . Cuối năm 1974 , Tân đưa vợ và 2 con từ chiến trường ra . Chú tôi mừng khôn xiết nói “ nhà mình thật phúc lớn , đi 1 không mất mà còn về 4 “
                                                                                                                         
                                                                                                            - Hết -


    

KÝ SỰ ĐƯỜNG 7 - CÚ ĐIỆN THOẠI BẤT NGỜ

Vừa qua trang Lính Tây Nguyên có đăng loạt bài KÝ SỰ ĐƯỜNG 7 của bạn Cao Phương Giang - Cựu chiến binh Trung đoàn 64 - Sư đoàn 320 . Trên đường 7 những ngày tháng 3 năm 1975 không chỉ có những trận đánh , ở đó còn có nhiều câu chuyện rất cảm động , đầy ắp tình người . Hôm nay trang LTN đăng tiếp một bài của bạn Quách Sơn , lính trinh sát Sư đoàn 320 , chúng tôi rất mong các bạn Sư đoàn 320 viết tiếp các câu chuyện xảy ra trên đường 7 năm 1975 để KÝ SỰ ĐƯỜNG 7 ngày càng phong phú

KÝ SỰ ĐƯỜNG 7 - CÚ ĐIỆN THOẠI BẤT NGỜ


Chiều tối nay nhận được cuộc điện thoại nhìn vào máy rất nhiều số mình đoán chắc bọn lừa đảo quốc tế đây, nhưng cứ gọi mấy lần , phía bên kia có tiếng người phụ nữ nói tiếng miền Nam , tôi mạnh dạn bấm máy: alô ! Vâng tôi nghe đây ! và thế là chị đó nói một mạch liền, anh ơi sao em mời anh và gia đình sang chơi mà anh không sang , rồi tiếng mếu máo trong tiếng suỵt soạt vì khóc , anh ơi ! anh là ân nhân của gia đình em, cuộc đời này cha mẹ sinh ra em một lần và anh sinh ra em một lần thứ 2, anh ơi em nhớ mãi ngày 18 tháng 3 năm 1975 đó anh đã cứu cả gia đình em ở trong rừng sâu, đã 2 ngày chạy loạn lên rừng 2 vợ chồng em và 4 đứa con bị lạc trong rừng vừa đói , vừa khát một đứa con đã chết vì khát và đói may sao gặp được anh giải phóng và anh là người bắt em dẫn anh đến chỗ vợ chồng em vừa đào bới cát để định vùi con xuống nhưng gặp các anh giải phóng em đã bỏ con và chạy trốn, khi em dẫn anh đến với đứa con bé đã chết và anh bê cháu lên rồi anh rót vào mồm con hớp nước và thế là một lúc sau con em nó chép miệng và sống lại, thế rồi anh nấu cháo cho gia đình em ăn và anh bảo phải từ từ chưa ăn cơm được hãy ăn cháo đã và suốt ngày hôm đó anh đeo ba lô súng đạn và anh đưa con em lên trên ba lô và cứ thế đi suốt buổi để đưa cả gia đình em về nơi tập kết những người dân tị nạn chạy từ Tây Nguyên về cheo reo, anh chia tay gia đình em và hành quân đi tiếp sau đó vài hôm gia đình em được xe của giải phóng chở về nhà ở thị xã Kon Tum và một năm sau gia đình em có người bảo lãnh sang Mỹ, từ đó đến ngày trời sui đất khiến em về thăm quê và vô tình gặp được lại anh ở khách sạn tại Sài Gòn, anh nhớ không lúc đó anh đang ngồi ở tiền sảnh khách sạn em đi qua và ánh mắt nhìn nhau em đã nhận ra anh là anh giải phóng năm 75 đã cứu cả gia đình em từ cõi chết TRỞ VỀ, câu đầu tiên em hỏi anh có phải đã từng tham gia trận chiến ở Cheo Reo năm 75 không, và thế là em ôm lấy anh và nói ân nhân của em đây rồi, lúc đó em nói với anh rằng gia đình em đã sang định cư ở Mỹ và mời anh sang chơi để vợ chồng em được đền đáp, và em nói giờ đã đến lúc phải lên sân bay để bay sang Mỹ và em biếu anh 1 ngàn đô la ấn vào tay anh nhưng anh không nhận mà anh chỉ cầm 1 trăm để đáp lại sự tri ân của em thôi, anh ơi chúng em cũng già và anh cũng già rồi anh hãy cố gắng thu xếp để sang Mỹ chơi với gia đình em anh nhé , mình cảm ơn em gái và nói rằng anh bị huyết áp , tiểu đường nên không dám đi xa đâu, thôi ơn trời đã tìm được nhau để nói lời cảm ơn và trao gửi vậy là đủ lắm rồi, anh xin cảm ơn em và gia đình bên đó nếu về Việt Nam hãy về Bắc Ninh để thăm gia đình anh và quê hương anh em nhé...
Cú điện thoại của người phụ nữ làm tôi nhớ lại câu chuyện đã xảy ra cách đây 44 năm trên đường 7
Ngày 18/3/75 , chúng tôi cùng Sư đoàn hành quân từ Gia Lai xuống Cheo reo để chặn đứng việc rút quân của quân đoàn 2 ngụy từ Tây Nguyên chạy theo đường 7 về tập kết ở thị xã Cheo reo, khi rút chạy địch mang theo cả gia đình cùng chạy theo vì vậy lượng xe và người dân cùng với xe quân xa của địch lên đến hàng vạn người, xe tăng xe GMC xe khách xe lam xe máy nói một cách đúng nhất là một tập đoàn xe và người hỗn hợp cùng rút chạy trên con đường 7 dài hàng mấy km, sau khi bị chặn đánh và chiếc cầu vượt qua sông Ba bị đánh sập thì toàn bộ số xe và người bị ùn đặc lại ở đó, lính thì vứt bỏ súng mang theo vợ con chạy tản sang 2 bên rừng lực lượng địch chống lại thì bị ta tiêu diệt và bắt làm tù binh, sau khi đã làm chủ hoàn toàn thị xã thì tổ trinh sát của chúng tôi được nhận nhiệm vụ cắt rừng hành quân cấp tốc đi xuống Tuy Hòa Phú Yên để chuẩn bị chiến trường cho sư đoàn sẽ xuống đánh chiếm thị xã Tuy Hòa Phú Yên, tổ trinh sát của chúng tôi có 3 người cắt rừng đi thì bỗng thấy có tiếng người í ới ở dưới khe suối, chúng tôi sẵn sàng chiến đấu ngay và tiếp cận tới nơi có tiếng người nói đó khi đến gần tôi nhìn thấy một người đàn ông mặc áo lính và một người phụ nữ cùng với 2 đứa trẻ con, người đàn ông đang dùng 2 bàn tay bới cát ở lòng con suối cạn chắc để tìm nước cho gia đình uống, tôi mở khóa an toàn súng và hô to giơ tay lên, 2 vợ chồng run rẩy lập cập giơ tay lên và miệng ấp úng lạy ông giải phóng chúng tôi là dân chạy từ Kon Tum về đến đây thì bị pháo kích và bị chặn lại gia đình tôi chạy lên rừng đã 3 ngày đói khát không có nước uống một đứa con bé đã chết khát tôi đang đào cát để mong tìm được nước cho vợ con vừa nói ông ta vừa rút ở túi áo ra căn cước để chứng minh là dân thường từ Kon Tum chạy xuống, tôi cầm tờ căn cước xem xong và bảo anh chị cứ yên tâm chúng tôi không giết dân đâu và bảo vợ chồng người dân dẫn đến nơi đứa con bé bị chết, lúc này tôi mới nhìn 2 bàn tay của ông ta ngón tay đều chảy máu các đầu ngón tay tướp ra rỉ máu bởi đào cát tìm nước, khi dẫn đến nơi cháu bé nằm tôi sờ người cháu vẫn thấy ấm môi khô thâm đen nhưng vẫn còn cử động khẽ tôi bế cháu lên và lấy bi đông nước rót mấy giọt vào cái miệng đã khô khốc và thâm đen đó thì chỉ một lúc cái miệng đó đã chóp chép và đôi mắt từ từ mở ra, tôi bảo anh Lưỡng đồng đội của tôi pha cho bé tý đường vào nước và khi tôi đổ nước đường cho bé uống được lúc thì cháu đã ngồi được và nở nụ cười gượng gạo và ánh mắt vẻ thăm dò những người nào đang ở cùng cha mẹ bé đây, sau khi bé tỉnh lại thì chúng tôi tìm củi để nấu cháo cho gia đình họ ăn bởi vì nếu cho họ ăn cơm hay lương khô luôn thì sợ họ sẽ chết vậy chúng tôi mới nấu cháo để họ ăn, khi ăn cháo xong tôi mới lấy toàn bộ số băng mang theo của 3 anh em ra băng vết thương 10 đầu ngón tay của ông ta và những bàn chân toe toét máu của cả gia đình chạy mấy ngày trên rừng mà không còn giày dép, khi băng xong chúng tôi bảo bây giờ anh chị phải cố gắng đi còn mấy đứa bé thì chúng tôi mỗi người mang một đứa để lên trên ba lô và cắt rừng đi ra ngoài đường số 7 để đến nơi tiếp nhận dân tị nạn của huyện đang tổ chức ở gần thị xã Cheo reo, lại thêm gần một ngày trèo đèo lội suối mang ba lô súng đạn gạo nước rồi đứa bé trên lưng nữa mỏi mệt vô cùng nhưng cũng đến được nơi để trao cho cán bộ dân sự họ đón gia đình, khi chia tay họ ôm chặt lấy chúng tôi và 2 vợ chồng lại ngồi xuống bái lạy và khóc cùng lời cảm ơn ông giải phóng, tôi ôm lấy mọi người và kéo họ đứng dậy và chúc bình an, chúng tôi lại hối hả cắt rừng để đi tiếp hàng trăm km nữa để về với núi chóp chài Tuy Hòa nằm lưng chừng núi với những bụi cây lúp xúp che không kín người, bên trên đỉnh núi là đại đội hải quân của địch đóng bên dưới chân núi là dân của vùng địch kiểm soát, ngày nằm chúi ở đó đêm xuống núi và đi vào trong sân bay cùng dinh tỉnh trưởng, ty cảnh sát ngụy, sau một tuần trinh sát , sáng 1 tháng 4 dẫn bộ binh mình tiến vào đánh chiếm các mục tiêu và đến 11 giờ trưa ta đã làm chủ và giải phóng hoàn toàn thị xã Tuy Hòa, để rồi lại tất tả lên xe xuôi đường 14 về giải phóng Sài Gòn, thế rồi một ngày tháng 3 năm 2013 tôi vào lại Sài Gòn để tham gia chương trình vì bạn xứng đáng để lấy tiền giúp gia đình đồng đội ở Thái Nguyên nghèo khổ bệnh tật và cái duyên trời sắp đặt đến để cho tôi và người phụ nữ là vợ là mẹ của gia đình mà ngày trận đánh thị xã Cheo reo tôi cứu sống lại được gặp nhau, đó là buổi sáng khi sắp đến giờ để vào trường quay của đài truyền hình chơi tôi ngồi chơi uống nước ở ngoài tiền sảnh của khách sạn , tôi đang nói chuyện với mọi người ở đó thì có một người phụ nữ ăn mặc sang trọng đi qua và người đó dừng lại nhìn tôi và nghe tôi nói chuyện, và rồi tôi cũng nhìn bà đấy bà đấy nhìn tôi và tôi không ngờ người phụ nữ đó đi đến gần hơn và hỏi, xin phép ông cho tôi hỏi có phải ngày xưa năm 1975 ông có tham gia trận chiến ở Cheo Reo không ạ, lúc đó tôi đang mặc quân phục để chuẩn bị vào đài truyền hình quay chương trình vì vậy bà ta biết tôi là bộ đội ngày xưa, tôi trả lời bà ta đúng rồi bà ạ sao bà lại biết vậy, và cứ thế là bà ta chạy đến sát tôi nói nếu không nhầm thì đúng là ông và 2 ông giải phóng nữa đã cứu cả gia đình em ở giữa rừng bị lạc đói khát, tôi ngỡ ngàng mất vài giây và định thần lại rồi tôi nói, đúng rồi chị ơi ngày đó chị và anh cùng 3 đứa con đang lạc ở trong rừng mấy ngày và tôi còn nhớ chị đưa tờ giấy căn cước là chị ở Kon Tum cơ mà, chỉ đợi có vậy chị ta ôm chầm lấy tôi và vừa khóc vừa nói anh đúng là ân nhân của gia đình em rồi, em cứ đi tìm mà không tìm được mấy chục năm qua anh có biết không, sau hôm anh cứu gia đình em đưa về cho huyện gia đình em ở đó 2 hôm rồi được đưa trở lại Kon Tum và sau mấy năm gia đình em được đi sang Mỹ theo quy định của Mỹ và Việt Nam lúc bấy giờ, bây giờ vợ chồng em đang sống ở California đây là số điện thoại của em tiếc quá em đã phải đến giờ lên phi trường để bay sang Mỹ, em về thăm Kon Tum được tháng rồi về Thắp hương cúng giỗ ông bà. Bây giờ em phải đi xe đã đón rồi, anh cho em gửi anh 1 ngàn đô la để tạ ơn và mời gia đình anh sang Mỹ chơi để vợ chồng cùng các con em được có cơ hội trả ơn anh, tôi nói với bà đấy rằng đúng là trời đã cho chúng ta gặp nhau và hứa sẽ cố gắng hết sức thu xếp sang chơi nhưng số tiền này tôi không nhận mà tôi sẽ nhận 1 trăm để làm tin và cũng là vật kỉ niệm, người phụ nữ đó lên xe cánh tay vẫy vẫy tôi và vợ chạy theo cùng giơ tay vẫy lại, tôi sực nhớ ra sắp tới giờ vào đài truyền hình htv9 để lên sóng rồi, và tôi quay trở lại phòng chuẩn bị quần áo và đợi mấy người đồng đội ở Sài Gòn đến để cùng lên xe đi vào trong trường quay, hôm đó tôi chơi rất xuất sắc , tôi vui tôi đọc thơ tôi hát quan họ trên trường quay cùng với MC Trấn Thành và mấy trăm khán giả, buổi chơi chương trình hôm đó có những tràng cười và cũng có nhiều nước mắt cả trường quay cùng khóc bởi những số phận của những người lính trinh sát đánh Mỹ gian khổ ác liệt về đời thường họ bị bệnh tật và nghèo đói, không biết vì vong linh của đồng đội hay niềm vui vừa gặp được người mà mình đã cứu sống cả gia đình ngày chiến trận hay vì mình chịu khó học hỏi để rồi kết quả hôm đó mình được gần 70 triệu đồng để giúp gia đình đồng đội và cũng là số tiền đạt được cao nhất từ trước đến giờ.
Hôm qua lại nhận được điện thoại từ Mỹ gọi về khóc mếu trách cứ và cảm ơn nữa rồi lại hứa rồi sẽ thu xếp để sang chơi và những tiếng sụt sịt lại ở đầu máy bên kia và dặn lại nhất định ông phải sang nhé...vâng nếu trời cho khỏe vợ chồng mình sẽ sang mà...
    

KÝ SỰ ĐƯỜNG 7


Cuộc rút chạy của Quân đoàn 2 Ngụy vào tháng 3/1975 có thể coi là cuộc rút chạy thảm bại nhất trong cuộc chiến ở Đông Dương của địch. Chỉ trong vòng hơn chục ngày, hàng vạn tên địch cùng rất rất nhiều phương tiện chiến tranh của chúng đã bị ta tiêu diệt và phá hủy. Để các bạn hiểu rõ trận đại thắng của ta trên đường 7, trang Lính Tây Nguyên xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc KÝ SỰ ĐƯỜNG 7 của bạn CP Giang - nguyên cựu binh Trung đoàn 64 - Sư đoàn 320.

KÝ SỰ ĐƯỜNG 7
CP Giang - cựu binh Trung đoàn 64 - Sư đoàn 320

Chập tối ngày 16/3/75 , Sư đoàn 320 nhận một mệnh lệnh khẩn cấp từ Bộ Tư lệnh Chiến dịch . Bằng mọi biện pháp nhanh chóng tổ chức lực lượng tiến ra đường 7 , chặn không cho Quân đoàn 2 địch rút chạy về đồng bằng ven biển miền Trung . Mệnh lệnh còn nhấn mạnh nếu chậm trễ để địch chạy thoát sẽ có tội với lịch sử . Trong khi đó đội hình Sư đoàn 320 đến ngày 15/3/75 bố trí như sau:
- Trung đoàn 9 đang đánh địch ở phía Kênh Săn.
- Trung đoàn 48 đang ở Cẩm Ga - Thuần Mẫn.
- Trung đoàn 64 (thiếu tiểu đoàn 9) đang đánh địch ở vùng Đạt Lý - Buôn Hồ.
Đây là đội hình hết sức phân tán, muốn liên kết lại để tác chiến đội hình cả Sư đoàn trong một thời gian ngắn là hết sức khó khăn.
Trong 3 trung đoàn thì Trung đoàn 64 bọn tôi là đơn vị gần nhất đến đường 7, đường di tản của địch. Hiện tại, trong 3 tiểu đoàn của trung đoàn thì gần nhất chỉ có tiểu đoàn 9 đang hoạt động trên đoạn đường tắt từ Thuần Mẫn đi Cheo Reo (khoảng 20km đến Cheo Reo), còn tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 vẫn đang hoạt động ở Buôn Hồ, cách Cheo Reo khoảng 60 km. Bọn tôi chưa tham gia đánh lớn trận nào đang háo hức lắm, nhưng cũng thấm mệt rồi, cứ tối hành quân đi, ban ngày lại hành quân về, cò cưa trên đoạn đường quen này cũng chán quá. Bây giờ viết lại thì thế thôi, chứ tôi dám chắc rằng, ngày 15/3/75 ngay cả Sư đoàn cũng chưa biết kế hoạch di tản, chứ chưa nói gì đến cỡ cán bộ tiểu đoàn, đại đội hay lính tráng bọn tôi.
Thế là dù chưa thua hẳn trên hướng Phước An , địch quyết định bỏ cao nguyên, đó là định mệnh cho chế độ Sài gòn.
Đến 20 giờ ngày 16 tháng 3, lệnh truy kích mới được ban bố. Tiểu đoàn 9, trung đoàn 64/sư đoàn 320 là đơn vị đang đứng chân trên đường 7 từ Thuần Mẫn -Cheo reo, gần đội hình di tản của địch nhất nên được lệnh hành quân cắt rừng suốt đêm để lập một chốt chặn ở phía Nam thị xã Cheo Reo. Gần như lập tức, tiểu đoàn 9 đã bắt đầu cơ động luôn. Bỏ lại mọi thứ cồng kềnh, Tiểu đoàn hành quân thần tốc ngay trong đêm; cắt rừng vòng qua thị xã. Để bảo đảm tốc độ, tiểu đoàn đã đi đến một quyết định táo bạo: cho bộ đội đốt nứa, đốt quai dép dự trữ và tất cả những thứ có thể thắp sáng để soi đường. Gần trưa ngày 17, dù chạy bộ vượt qua núi chót vót nhưng bằng nỗ lực phi thường Tiểu đoàn 9 đến vị trí tác chiến trên đường 7 từ cầu Sông Bờ đến chân đèo Tô Na đúng thời hạn.
Mọi nỗ lực đều nhằm tới một điểm đến: thung lũng Cheo Reo, nơi các chiến sĩ tiểu đoàn 9 đang nổ những phát súng đầu tiên vào đội hình đang rút chạy của địch, phải đương đầu với lực lượng địch đông hơn hàng trăm lần. Đối tượng chính của tiểu đoàn 9 là địch cả hàng vạn quân đang ùn ùn tháo chạy cùng đội hình xe tăng, xe thiết giáp của địch đang tìm mọi cách tràn qua khu vực chốt chặn. Có thể nói, tiểu đoàn 9 xông ngay vào đội hình đối phương, tả xung hữu đột, 1 chọi 100, 1000 luôn; đại đội 9, đại đội 10 triển khai đội hình ngay trên mặt đường, xông thẳng vào đội hình xe tăng, thiết giáp dày đặc của địch, vừa đánh vừa chiếm vị trí có lợi, hình thành những điểm chốt chặn. Đại đội 11 bố trí phía sau để sẵn sàng cơ động chi viện cho cả hai hướng. Những trận đánh diễn ra rất ác liệt giữa bên ta kiên quyết chốt chặn và quân địch đường cùng, tìm mọi cách tháo thân. Địch lợi dụng vỏ thép dày, khả năng cơ động cao, cùng đường “dũi” bừa vào tất cả mọi nơi, mọi lúc, có trường hợp tăng cán luôn lên lính, lên, lê xe cơ giới cùng chạy hòng tràn qua đội hình chốt chặn của ta. Chúng phối hợp mọi lực lượng, sử dụng hỏa lực tối đa, mở đường máu. Tất cả các bộ phận của tiểu đoàn 9 từ cán bộ chỉ huy đến nuôi quân, y tá, thông tin, trinh sát… đều trực tiếp đối mặt với xe tăng địch. Cầu Sông Bờ bị ta cắt đứt, xe pháo bộ binh các sắc lính ùn lại, chật kín bờ sông.
Nhân chứng sống tiểu đoàn 9 mà tôi thường xuyên gặp gỡ. Đó là Nguyễn Vi Hợi, anh hùng LLVTND, thường gọi là anh hùng đường 7, chỉ trong ngày 17, với cương vị là tiểu đội trưởng anh đã bắn quả B40 đầu tiên chặn đoàn tăng trên đường 7… trong trận này anh bắn cháy 6 xe tăng, diệt 21 địch… đến trận Phú Yên anh còn bắt sống chuẩn tưởng Trần Văn Cẩm… Bây giờ anh nghỉ hưu ở gần tôi đây, ngay trong Thành phố Vĩnh Yên. Đó là Nguyễn Xuân Thạch, lúc đó là liên lạc đại đội 9… sau lên tới phó phòng bảo vệ Quân đoàn 3, giờ nghỉ hưu gần chợ Vồ - Gia Khánh- Tam Dương. Thỉnh toảng chúng tôi vẫn gặp nhau uống chén rượu nhạt và lần nào cũng nhắc lại trận đánh oai hùng ngày 17+18/3/75 từ cầu Sông Bờ đến chân đèo Tô Na
Trên hướng Buôn Hồ (đơn vị tôi)
Chiều 17-3, chúng tôi đang ở khu vực Đạt Lý thì được lệnh cơ động gấp về Nam Cheo Reo. Lệnh phát ra. Tất cả hành quân. Ồn ào, vội vã tràn ra đường 14. Xe ô tô cả loại ZIL, cả MONO cả GMC ào, tơi tả ngụy trang vàng khè bụi bặm đón. Nhưng chỉ có tiểu đoàn 7 được lên xe chạy ngược về hướng bắc. Còn bọn tôi hành quân bộ. Cứ thẳng đường 14 mà đi, mà chạy.
Tủi cho tiểu đoàn chủ công quá. Hơn 5 giờ chiều đoàn xe lúc nãy quay lại đón chúng tôi. Thì ra là đoàn xe chạy cuốn chiếu đến một làng cũ của đồng bào đã bị đốt cháy bên đường thì dừng lại. Chắc được chừng tiếng đồng hồ thì tất cả giật mình vì pháo bắn. Đạn rơi trên sườn núi đá khói ngèn nghẹt. Tiếng nổ vang vọng bên này sang bên kia oang oang. Đến đây mặc dù tối trời tối, tôi vẫn gặp thằng Nguyễn Đa Bình, đồng hương, pháo thủ của trung đoàn pháo 54. Chúng nó đang giá pháo ngay bên đường để bắn vào thị xã Cheo Reo đang hỗn loạn. Tiếng nổ vừa rồi là tiếng đầu nòng pháo ta, quả đạn trên núi là địch phản pháo. Từ đây về Cheo Reo còn khoảng chục km. Chúng tôi được lệnh xuống xe chạy bộ suốt đêm theo đường rừng vòng qua Cheo Reo, mà đường vòng thì phải qua núi. Được cái đường đi đã có sẵn, vì bọn d9, d7 vừa hành quân qua mà. Kệ, cứ vì đi vừa ngủ. Đã hơn mười ngày tác chiến. Đi liên tục, không có một đêm ngủ tròn giấc, không có một nơi trú quân lấy nửa ngày. Chân sưng, mắt hõm. Đường bằng đã hết, chúng tôi bây giờ mới bắt đầu trèo núi, lúc ấy là 8 giờ tối. Mười hai giờ đêm chúng tôi mới lên đến đỉnh núi. Nhìn xuống thung lũng Cheo Reo lửa đỏ rực, đạn vạch nhằng nhịt. Cả thung lũng như quả cầu lửa. Trên cao nghe chỉ thấy tiếng súng lớn, thủ trưởng bảo đại quân ta gồm trung đoàn 48, trung đoàn 9 đã đuổi tới nơi rồi. Mẹ kiếp, leo lên đã khó, lúc tụt xuống khó hơn nhiều. Trời sáng thì chúng tôi xuống chân núi. Từ đây ra đường số 7 còn vài km nữa. Rừng thưa, bằng phẳng toàn cây khộp và đầy đá. Suối thì cạn cả. Sáng ra tôi mới biết tiểu đoàn tôi hành quân đuổi địch cùng trung đoàn bộ. Gớm, toàn các thủ trưởng đi trận toàn mang súng ngắn. Chỉ nghe tiếng cán bộ các cấp giục rối rít suốt đường hàng quân...


Đến ngày 18 /3 , ý định tác chiến của Sư đoàn 320 đã rõ, bao vây chặt quân địch trong thị xã Cheo Reo - Phú bổn, dùng eBB48, eBB9 và các đơn vị xe tăng, hỏa lực pháo binh…đột phá từ hướng tây, tây nam và tây bắc, dùng eBB64 khóa chặt, như kiểu buộc miệng túi để tiêu diệt chúng . Đến sáng 18/3 , đội hình cả trung đoàn 64 đã vòng qua thị xã, khóa chặt địch từ cầu sông Bờ đến đèo Tô Na. Từ sáng, những trận đánh diễn ra rất ác liệt giữa tiểu đoàn 9 và mới được tăng cường tiểu đoàn 7 đã kiên quyết chốt chặn đường 7 , quân địch đường cùng, tìm mọi cách tháo thân vì không còn con đường nào khác. Muốn sống, chỉ có cách duy nhất là đột kích qua chốt của chúng tôi. Địch lợi dụng khả năng cơ động của xe tăng , xe bọc thép “dũi” bừa vào tất cả mọi nơi , kể cả bộ binh , xe dân sự và dân chúng di tản cùng để hòng tràn qua đội hình chốt chặn của ta. Tất cả các bộ phận của tiểu đoàn 9, 7 từ cán bộ chỉ huy đến nuôi quân, y tá, thông tin, trinh sát… đều trực tiếp đối mặt với xe tăng địch. Đến sáng 18 tháng 3, không một chiếc xe tăng, xe thiết giáp nào của địch lọt qua tuyến chốt chặn của tiểu đoàn 9. Xe địch bị bắn cháy nằm bẹp trên đường, trên cầu, có chiếc bị bắt sống, đường tháo chạy của đoàn quân địch hoàn toàn tắc nghẽn. Quân địch vẫn còn bị nhốt chặt ở thung lũng Cheo Reo. Còn chúng tôi, cả tiểu đoàn 8 mờ sáng thì xuống đến chân núi, tiếng nổ pháo tăng , B40, B41, ĐKZ, súng con kết hợp tiếng gầm rú của xe tăng , xe thiết giáp thành mớ hỗn độn từ đường 7 vọng vào không ngớt, càng lúc càng rõ. Thông báo, d9 cần chi viện gấp, d7 đã bước vào tác chiến, còn bọn tôi chạy và chạy, nhanh lên, nhanh lên, thời cơ được tính bằng phút, sớm phút nào, ta và đồng đội ta đỡ đổ máu phút đó. Khi còn cách đường 7 khoảng 1 cây số thì bất chợi từ hướng tây, bên trái đội hình hành quân, xuất hiện khoảng 1 chi đội xe tăng M48, M41, M113 cùng một cánh bộ binh đủ các sắc lính lớn của địch chọc thẳng vào đội hình hành quân của tiểu đoàn tôi. Khẩn trương quá, vừa quẳng ba lô xuống là nổ súng ngay. Cả tiểu đoàn thành hàng ngang, cách đều dài vài cây số. Đội hình chiến đấu nào bố trí theo kiểu “tao ngộ chiến” (bất ngờ đánh địch khi gặp địch). Chúng tôi hành quân trong đội hình tiểu đoàn bộ, nên toàn lính thông tin, vận tải, truyền đạt, quân y, phục vụ. Hỏa lực chỉ có tiểu liên và súng ngắn. Dù đang rất hoang mang, địch cũng nhanh chóng phát hiện ra đoạn phòng ngự của tiểu đoàn bộ là đoạn yếu nhất. Cũng may, ngay loạt đạn đầu tiên, vì bất ngờ nên đại đội 7 bắn cháy 2 xe, đạn trong xe nổ ầm ĩ, khói mù mịt, đội hình xe thiết giáp lùi về phía sau tìm hướng đột kích thì lại vấp phải bộ đội c5, c6, c8 và các đơn vị hỏa lực trực thuộc trung đoàn. Thần hồn nát thần tính, cứ gặp ta ở đâu, địch lại lùi lại, chứ nó mà cố đột kích thì chắc bọn tôi không giữ nổi. Đến chiều, tôi mới hiểu, địch tiến công phía trước thì phía sau là gia đình vợ con, của cái của chúng nên chúng không dám liều, cố tìm chỗ ta sơ hở để vọt qua, cố tránh giao chiến. Lúc này, Anh Kiên tiểu đội trưởng đảm nhiệm liên lạc trưởng mạng VTĐ, cạnh tiểu đoàn trưởng và phái viên của trung đoàn tên Mão. Còn tôi ôm khẩu tiểu liên là để bảo vệ tổ đài. Tình hình khẩn trương quá, tôi ôm AK dựa lưng vào chính trị viên phó tiểu đoàn, hai anh em 2 khẩu AK hai hướng bảo vệ chỉ huy và bảo vệ thông tin trưởng mạng. Chỗ bọn tôi dừng lại nằm ở mép một khoảng chống, có tầm quan sát rộng. Chợt chính trị viên phó tiểu đoàn ra hiệu, tôi thấy thấp thoáng mấy chục sắc lính bên kia khoảng trống, khoảng 20-30 tên lố nhố, may mà không có tăng. Anh Quýnh ra hiệu khi có lệnh của anh mới được nổ súng. Tôi vội nhảy lên độ dăm bước rồi nằm bẹp bên gốc một cây khộp, nhưng đen quá, đúng chỗ có tổ kiến vàng. Mẹ kiếp, kiến cắn đau quá, nhưng đành cố chịu. Vừa đoạn, chính trị viên phó tiểu đoàn nổ súng, hiệu lệnh rồi, tôi xiết cò, từng điểm xạ ngắn, dài về phía đám lính mới xuất hiện. Vì bất ngờ, mấy thằng đi đầu ngã rụi, còn chúng nằm bẹp xuống bắn trả loạn xạ. Chưa bao giờ tôi thấy hăng máu thế, tôi bắn liên hồi, nòng súng nóng bỏng. Chính trị viên phó tiểu đoàn nháy mắt khen, thằng này khá. Phổng mũi, tôi càng hăng hơn. Dừng bắn thì chúng tôi ném lựu đạn. Thú thực từng hồi vào nam chiến đấu, tôi bắn thì nhiều rồi nhưng ném lưu đạn thì hôm nay là lần đầu tiên. Có bao nhiêu đạn, lựu đạn anh em tiểu đoàn bộ dồn hết cho bọn tôi dùng. Cũng may nghe tiếng nổ và có lệnh của tiểu đoàn, lính đại đội 5 vòng lại giải cứu cho BCH tiểu đoàn, giải cứu bọn tôi. Có lực lượng tăng viện, bọn tôi tổ chức xuất kích ngắn, hòng đẩy chúng ra xa. Bọn tôi xung phong, vừa chạy vừa bắn, tôi còn kịp thấy xác mấy người lính cộng hòa, vẫn còn có cả một vài tên bị thương kêu la ầm ĩ. Xung phong lên, thì thấy có tiếng kêu to “xin hàng, chúng tôi xin hàng”, và thấy thấp thoáng cờ trắng, khăn mặt vẫy vẫy. Chúng tôi tiến lên đến lòng khe cạn thì trời ơi, đông đặc người, cả lính, cả dân, cả người già, cả phụ nữ, trẻ con… Lệnh dừng hỏa lực ngay lập tức. Tù binh nhiều quá, lô lốc, đủ loại quân phục, đủ loại vũ khí, súng ngắn, súng dài…Họ tự tập hợp thành từ nhóm, tự giao nộp vũ khí và tình nguyện bị bắt làm tù binh. Chúng tôi gom tất cả xuống dãy hố bom cũ, bên vỉa đất trũng, chờ lệnh. Bên kia lòng suối cạn, cơ man nào là dân, có lẽ đấy là người nhà đám tù binh mới bị bắt, họ luôn giữ một khoảng cách có thể quan sát, chắc họ chờ xem quân giải phóng đối xử với tù binh thế nào?Từ bấy đến chiều, thỉnh thoảng lại chạm địch, lại nổ sung, lại bắt tù binh… Quần lộn. Phải nói là quần lộn, ta địch xen kẽ nhau, ta cứ nổ súng là lại lũ lượt tù binh. Đến chiều, tiểu đoàn đã bắt được mấy trăm tù binh, số từ binh đã nhiều gắp mấy lần quân số tiểu đoàn và theo đó là người nhà của họ. Thế là, đến chiều, xung quanh tiểu đoàn bộ hình thành một trại lính khổng lồ, cả ta, cả địch lẫn lộn. Có khác, ta là chủ, ta là người chiến thắng. Vấn đề bây giờ là nước uống, hàng ngàn con người mà chỉ có mấy vũng nước cạn đến bụng cân, bây giờ cạn và đã đục ngầu những bùn. Muốn có nước sạch, trinh sát tìm được ngoài suối lớn cách chỗ tạm dùng chừng nửa cây số. Quân y chữa thương cả ta, cả địch, cả dân, nhộn nhịp. Trinh sát dẫn dân đi lấy nước cho tù binh. Họ bảo, họ chạy trên cao nguyên, đã 2 ngày chưa gặp nước, may mà được bắt làm tù binh, có nước là sống rồi. Đến chiều tối, tôi được lệnh mang máy 2w cùng tổ trinh sát của tiểu đoàn đi sâu vào trong núi, thu gom dân và lính về để họ không phải chết đói, chết khát và không bắn giết lẫn nhau để tranh giành nguồn nước, cướp vũ khí, của cải lẫn lộn của nhau. Thật là một ngày quá khủng khiếp, ngoài sức tưởng tưởng của tôi. Là người trực tiếp chứng kiến không biết bao nhiêu cảnh đau lòng mà không lời nào miêu tả hết. Và thú thực tôi cũng không có ý định kể hết những gì tôi chứng kiến. Thật đau lòng, vì chúng ta là đồng loại, cũng là con người nhân hậu.Tiểu đoàn 8 được lệnh không di chuyển ra đường 7 nữa thay đổi nhiệm vụ: tổ chức chốt chặn ngay trong rừng, kết hợp bảo vệ SCH và khối trực thuộc Trung đoàn vừa làm dự bị cho lực lượng ngoài đường số 7. Nhưng thực ra đường 7 đã bị cắt đứt, chiến sự ngoài đường 7 tạm lắng thành thử địch toàn tìm đường rừng vòng qua chốt thì gặp bọn tôi, nên cánh rừng bên đường nơi bố trí tiểu đoàn 8 lại trở thành điểm nóng, bọn tôi đánh nhau suốt ngày là vì thế...
Trời tối dần. Tiếng nổ vẫn đì đoành quanh đây, lúc gần lúc xa. Chắc lính Việt Nam cộng hoà đi lạc vào chỗ bố trí chốt của ta, lại nổ súng, lại bắt tù binh. Tiểu đoàn 8 chúng tôi được lệnh bố trí lại. Đại đội 7 được điều ra đường số 7 để thay thế cho một đại đội của tiểu đoàn 7 đánh nhau từ sáng đến giờ. Đại đội 5 tổ chức các chốt bảo vệ Sở chỉ huy tiểu đoàn. Đại đội 6 lùi về phía sau một chút, lập chốt chặn con đường mới sinh dọc theo lạch suối cạn, gần Trung đoàn bộ, không cho tàn quân địch vòng sau vào trong núi. Tất nhiên trung đội thông tin chúng tôi phải triển khai dây máy ngay trong buổi tối. Tôi là dân Vô tuyến điện nên được anh Kiên giữ lại làm trưởng mạng, anh ấy cho nghỉ vì buổi chiều vì tôi vừa đi lùng sục cùng Trinh sát về. Tôi mở máy truyền lệnh cho các đại đội:
1- Các đơn vị khi bắt được tù binh, thu ngay vũ khí, nếu không bảo đảm an toàn thì cho hủy, không để địch sử dụng lại
2- Tù binh các đơn vị đưa thẳng về trạm trung chuyển chân núi của Trung đoàn, chú ý an toàn cho người dẫn giải tù binh.
3- Hướng dẫn nhân dân ra đường 7, ngoài đó gần sông, có nước có nhiều lương thực, chờ người hướng dẫn quay lại Cao nguyên.
Khu vực tiểu đoàn bộ còn khoảng vài chục tù binh, một số là sĩ quan, một số bị thương nên chiều chưa giao được về phía sau. Cẩn thận, Ban chỉ huy tiểu đoàn cho di chuyển số này về phía sau, cắt cử người canh gác cẩn thận. Suốt đêm không ai ngủ, đây đó vẫn đì đoành, không yên tâm, dù tâm trạng lính đang phấn khích. Đánh địch thế này dễ quá, như phim ảnh vậy.
Có mấy chuyện vui, nhóm tù binh liên tục tăng. Lý do rất đơn giản, trong đêm số lính bị lạc họ tự tìm đến chỗ lính đã bị bắt, họ tự nguyện nộp vũ khí và xin làm tù binh. Quân lực cũng chán, chả thèm ghi tên tuổi cấp bậc, số lính của bọn này nữa, chỉ mong sao trời sáng đưa về phía sau cho rảnh nợ. Cán bộ nói đùa, nhiều tù binh quá chả biết tính thành tích cho ai nữa, chắc phải chia bình quân cho mọi người, ai cũng có phần cả .
Cầu được, ước thấy, sáng hôm sau, tôi được cử cùng 1 tổ trinh sát áp giải số tù binh về phía sau. Chúng tôi cho họ mang theo nước, lương thực, họ tự trói nhau lại thành một hàng, cả bọn đi rất trật tự… Ngoái lại phía sau, một hàng dài người nhà, hóa ra đây là người nhà tù binh, từ đêm qua họ vẫn lẩn quất quanh đây. Chúng tôi giải thích thế nào họ cũng không nghe, họ bảo bao giờ vào trại họ mới yên tâm quay về Cao Nguyên. Sau khi giao tù binh cho Sư đoàn thì thấy mấy tốp người hớn hở, thì ra sau khi phân loại, chỉ giữ sĩ quan … trưng dụng luôn lái xe phục vụ quân ta nếu tự nguyện. Số vừa gặp chính là số lái xe vừa được Sư đoàn chọn lựa. Thấy bảo, xe cơ giới đầy đường số 7. Chuyện thứ hai, trong số tù binh có một thằng rất trẻ, chỉ khoảng 18 là cùng. Từ lúc bị bắt cứ thút thít khóc. Nó bảo, từ hôm qua tới giờ, chỉ có chúng tôi chấp nhận nó là tù binh, chỗ khác toàn bị bộ đội giải phóng đuổi, không cho làm tù binh. Mà không được làm tù binh chỉ còn nước chết, không biết đường, không nước uống, không lương thực. Mà nó người Nha Trang, quay về cao nguyên nó biết bấu vúi vào đâu. Nghe nó khóc suốt ruột quá. Về sau, năm 1979, tôi trở lại công tác Nha trang, mặc dù biết là gần như không thể, nhưng mỗi lần ra thành phố chơi, tôi cứ như gặp lại cậu ta. Tôi hi vọng rằng cậu ta còn sống, vì lúc đó cậu chỉ là tân binh…
Cả ngày hôm đó, các đơn vị liên tục đánh nhỏ lẻ, chủ yếu chặn địch không cho đột qua trận địa chạy về hướng đông. Đến chiều 19, các đơn vị không còn người để bắt và dẫn giải tù binh nữa, lại lệnh, chỉ thu vũ khí rối hướng dẫn tù binh cứ theo đường mòn mà tự quay lại các khu tập trung trung chuyển tù binh. Tôi nghĩ, có lẽ trong chiến tranh, không trận nào quân ta bắt được nghiều tù binh và bắt dễ như thế.
Còn trên thị xã Cheo Reo, từ chiều ngày 18 tháng 3, phát hiện dấu hiệu địch trong thị xã bỏ cả xe, pháo bung ra rừng tháo chạy; Sư đoàn lệnh cho trung đoàn 48 đánh thẳng vào khu sân bay, trại Ngô Quyền; sau đó vây rồi lần lượt đánh chiếm các mục tiêu trong thị xã. Lực lượng địch tuy hỗn loạn, hoang mang nhưng rất đông. Đêm ập xuống, thị xã hoàn toàn mất điện. Liên lạc giữa các mũi, hướng, giữa cấp trên và cấp dưới chỉ thực hiện được bằng vô tuyến điện. Trong đêm, các phân đội vừa đánh, vừa bắt tù binh, vừa trinh sát nắm địch, lần từng bước vào khu trung tâm. Trung đoàn 48 bắt được số tù binh gấp nhiều lần quân số của mình; tới mức không còn lực lượng để đưa tù binh về phía sau, phải tạm trói và nhốt chúng trong các khu nhà, chờ sáng sẽ giải quyết.
Đến nửa đêm, do tình hình ngày một phức tạp, bắt liên lạc trong đêm ngày một khó khăn; sư đoàn lệnh cho trung đoàn 48 tạm dừng củng cố để ngày mai tiếp tục đánh. Đó cũng là lúc các chiến sĩ ta đã làm chủ hoàn toàn những khu vực chính của thị xã.
Bây giờ mới hiểu lý do tại sao quân địch điên cuồng bung ra tìm đường thoát thân. Tàn quân địch tản ra khắp núi, khắp rừng. Suốt ngày, các chiến sĩ trung đoàn 48 tiếp tục truy quét, lôi ra từng dây các loại lính chính quy, lính địa phương của Quân đoàn 2 ngụy.
Đêm 19 tháng 3, Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn nhận định: ta đã cơ bản tiêu diệt quân ngụy tháo chạy co cụm ở Thị xã Cheo Reo Phú Bổn. Tuy vậy, còn một bộ phận khá lớn bộ binh, cơ giới địch tháo chạy trước do ta ra cắt đường không kịp. Hành động tiếp theo của Sư đoàn là dùng trung đoàn 64 và lực lượng thiết giáp tăng cường nhanh chóng vượt lên tổ chức tiến công chặn địch lại. Nếu chúng co cụm chống cự thì bao vây chặt, tích cực tiêu hao địch chờ lực lượng cơ động của sư đoàn đến cùng tiến công tiêu diệt. Sư đoàn chỉ để lại trung đoàn 95B tăng cường ở lại Cheo Reo thu dọn chiến trường, giải quyết hậu quả, còn trung đoàn 48 và trung đoàn 9 phải lập tức cơ động ngay sau trung đoàn 64 để kịp thời phối hợp hành động.
Trong thời gian đó, một bộ phận địch đã vượt qua Cheo Reo (do ta không kịp cắt đường), nhưng bị bộ đội địa phương đánh chặn, đã dừng lại, hình thành thế co cụm lớn ở Củng Sơn. Chúng đưa lực lượng về phía Tây và dùng phi pháo ngăn chặn ta. Sư đoàn nhận địch: địch có thể còn tháo chạy tiếp hoặc có thể co cụm phòng ngự ở Củng Sơn. Đêm nay có khi hành quân đuổi địch tiếp rồi…
(CPG, cựu binh d8/e64/fBB320, ngày 19/3/2015)
Sau những trận đánh ác liệt chặn Quân đoàn 2, Quân khu 2 VNCH ở thị xã và xung quanh thị xã Cheo Reo, theo đường số 7 về Phú Yên, đơn vị tôi truy kích theo đoàn xe tăng, xe cơ giới đã vượt được qua đèo Tu-Na khi E64 chưa kịp chặn lại. Số này cứ theo đường số 7 chạy thoát thân, náo loạn, kinh hoàng. Thật không may cho chúng, hôm trước, cầu phao qua sông Ba do công binh VNCH lắp bị hỏng, cả đoàn xe quân sự, dân sự hàng ngàn chiếc ùn ứ lại bên này sông. Cảnh tượng này chắc mọi người đã thấy nhiều trên các phương tiện đại chúng và các trang mạng – Chỉ có thể tóm tắt, vô cùng khủng khiếp!.
Lực lượng quân sự VNCH co cụm lại tại thị trấn Củng Sơn, vì ở đó vẫn còn Chi khu quân sự. Sau khi giải quyết xong Cheo Reo, cả trung đoàn 64 chúng tôi leo lên xe ô tô, cả ZIL lẫn GMC chiến lợi phẩm cùng trung đoàn 273 xe tăng truy kích dọc theo đường 7. Đêm 21/3 , ta đuổi kịp, trinh sát đụng địch ở phía tây thị trấn Củng Sơn. Nhưng thay vì đánh thẳng vào thị trấn, trung đoàn 64 được lệnh vòng qua thị trấn, chặn địch ở phía đông thị trấn, nhường nhiệm vụ đột phá vào thị trấn cho trung đoàn 48 và lữ đoàn xe tăng 273 đang đi sau…
Cả một đoạn từ Củng Sơn đến Cầu phao là một quang cảnh hỗn loạn, cả vạn người chen chúc, nhồi nhét…ta càng ngày càng áp sát trong khi đối phương tìm đường vượt sông Ba về Tuy Hòa, Phú Yên. Tiểu đoàn 8 tôi có nhiệm vụ chặn địch phía nam thị trấn, cùng E48, lữ 273 tiêu diệt gọn toàn bộ tàn quân và lực lượng đồn trú trong thị trấn. Cái khó ở đây là hầu như ta không nắm được tình hình địch. Đánh nhau mà trinh sát không nắm được địch chẳng khác gì đấm vào bị bông. Chi khu quân sự Củng sơn là quân lỵ của Quận Sơn Hòa, là vùng trắng, hầu như không có hoạt động của cách mạng suốt những năm chiến tranh nên rất khó cho Sư 320 tổ chức hoạt động ở vùng này. Rạng sáng ngày 24, cả tiểu đoàn áp sát đường 7 phía đông nam thị trấn. Đoạn đường này nằm song song với sông Ba. Mùa này nước sông cạn, nhưng chảy xiết và hai bờ cao, xe cơ giới không thể qua sông nếu không có cầu.
Vào đến vị trí chiến đấu, bọn tôi bắt đầu đào công sự. SCH đặt trên một vùng đất phẳng, có cây lúp xúp che phủ. Đất cứng quá, không đào nổi công sự, mọi người đành chọn chỗ trũng, rồi vác đá xếp xung quanh trú tạm, có hơn không.
Độ 8 giờ sáng, trinh sát báo về có 1 đoàn xe cơ giới trong đó có khoảng 2 chục chiếc M48 đang đi vào trận địa. Trên trời, mấy chiếc trực thăng quân thảo, bắn rốc két xuống nơi nghi ngờ quân ta mai phục. Rất may là khu vực chúng tôi phục kích tương đối gần thị trấn nên chúng chủ quan không ngờ trận địa phục kích của ta gần đến thế chăng?
Lệnh nổ súng! Bắt đầu là từng loạt B41, ĐKZ khai hỏa, vài chiếc đi đầu bốc cháy, nhưng chúng bắn lại rát quá, cứ đạn 12,8ly, pháo tăng soèn xoẹt trên đầu, cành cây rơi lả tả, bọn tôi chỉ biết chúi mũi xuống để hạn chế thương vong. Cả một vùng nóng bỏng, hỏa lực hai bên thỏa sức bắn nhau, như một chảo ngô rang khổng lồ. Khoảng hơn một giờ sau, địch tạm lui.
Thông tin tiểu đoàn trên hướng đại đội 6 đã có thương vong. Anh Thuyết trung đội trưởng quay sang bảo tôi và thằng Huyền ( Hà Bắc ): “Hai cậu xuống c6 thay, cứ hướng súng nổ mà tìm, tớ trực tiếp làm trưởng mạng”. Nhận lệnh, tôi mang máy PRC-25, Huyền vác súng chạy sau bảo vệ. Cứ hướng súng nổ mà bò, rồi cũng tìm được c6 thì đúng lúc đại đội trưởng đã vượt qua đường sang phía bờ sông. Tôi và Huyền quyết định vượt đường. Vừa qua đường, hỏa lực xe tăng tập trung nã vào vị trí chúng tôi vừa vượt qua, chắc lũ xe tăng phát hiện thấy bọn tôi chăng? Ui chao, chưa bao giờ thấy kinh hoàng đến thế, hàng chục khẩu 12,8 ly kèm pháo tăng bắn như đổ đạn về phía bọn tôi. Tôi và Huyền may tìm được một hố, trong lòng suối cạn chảy trên núi xuống, tôi lấy máy VTĐ đậy lên đầu, cốt nhất là giữ bằng được cái đầu, và bắt liên lạc về nhà. Nhờ giời, thông suốt ngay. Tôi truyền lệnh: “c6 phải bắn cháy xe đoạn cầu xi măng chỗ khúc cua để chặn cả đoàn xe”. Đại trưởng điều ngay tổ B41 lên phục. Ba bóng chiến sĩ vọt lên.
Lại một đợt phản kích mới, đoàn xe cố chọc thủng vòng vây, nhưng lại bị c6 hắt trở lại, hỏa lực của c6 bắn 2 quả B41, khói bụi mù mịt trùm cả lên chỗ bọn tôi đang nằm. Bỏ mẹ, lộ vị trí rồi. Tôi nhìn rõ mồn một, chiếc xe bọc thép đang loay hoay trên cầu trúng đạn, khóc đen bốc mù mịt, đạn trong xe nổ loạn xạ. Trúng rồi. Đoàn xe ùn ứ lại. Hoảng sợ, pháo tăng, 12,8 ly dữ dội hơn, chúng cố đẩy ta ra xa hơn, không cho ta áp sát.
Cảm thấy không yên, thằng Huyền hiến kế, hay là hai thằng mình bò sang gốc cây to, chỗ mấy thằng c6 lúc nãy. Vừa lúc đó thấy đại trưởng vẫy vẫy. Tôi ôm máy lăn, bò sang, chỉ vài chục mét mà thấy xa thế. Cuối cùng cũng đến nơi, tôi nằm cùng đại trưởng, hú hồn. Từ vị trí này, quan sát được cả trận địa trước mặt. Thằng Huyền bò sau, chui được vào một cái hố cạn đến ngang bụng, quá ổn rồi. Diệt cái tăng trên cầu xong, tổ hỏa lực B41 rút về phía sau, thằng Minh tấp vào chỗ thằng Huyền. Tôi còn nhớ rõ, nó vẫy tay, có lẽ ý bảo nó đã an toàn, tý nữa gặp nhau. Sau đó tôi chúi mặt vào làm việc, chuyển một bản điện về tiểu đoàn, không để ý gì, đạn vẫn réo réo trên đầu, cảm thấy như mỗi lúc một dày hơn. Có lẽ lũ xe tăng lo quân ta áp sát.
Lúc sau, tôi thấy đại đội trưởng quát lên điều gì đó, quay lại nhìn đã thấy thằng Huyền cùng 2 thằng lính c6 đang lôi một người tử sĩ xuống lòng khe cạn. Thằng Huyền nước mắt đầm đìa, chắc nó sợ quá. Một lát sau thằng Huyền bò lại chỗ tôi, quần áo, mặt mũi, hai tay đầy máu, còn nhõn đôi mắt. Huyền bảo, thằng đồng hương mày đang nằm cùng tao, chỉ thấy nó hơi nhỏm lên có một tí thôi, thì nghe hự một cái, ngã vật xuống, chết luôn, không dãy dụa tẹo nào. Tội nghiệp, một viên vào giữa trán nó. Bọn tao kéo nó xuống khe rồi. Quả thực lúc đó, tôi không còn bụng dạ, tinh thần gì nữa. Một cảm xúc là lạ, nghèn nghẹn, ùng ụng trong ngực. Tôi bật khóc. Nó nằm kia, cách tôi có vài mét …
Tiếng xe tăng đều đều, nghe như có vẻ mỗi lúc một xa, tiếng đạn 12,8 ly cũng như thưa dần. Tôi bò lùi về với liệt sĩ đồng hương, tội nghiệp, tôi ôm nó, cảm thấy xác nó như còn nóng nguyên. Vừa khóc, tôi vừa lần mò quần áo nó thì thấy quyển an-bum bằng bàn tay còn vương máu. Tôi lau hết máu, đây là cuốn an-bum mà ngoài bìa có ảnh cô gái đội mũ rộng vành, mắt nhấp nha nhấp nháy. Chắc là nó mới lấy được ở trận Cheo Reo. Mở vội ra, thấy nó đã kịp cho ảnh gia đình nó vào rồi, tôi còn thấy cả tấm hình bạn gái nó chụp nghiêng nghiêng, cười cười. Tôi cho quyển an-bum vào túi áo mà chả báo cáo với ai, định bụng nếu may mắn mà còn sống, tôi sẽ trả về gia đình nó, vì tôi bây giờ là người gần nó nhất, nên tôi tự cho mình có cái quyền đấy. (Quyển an-bum này, sau giải phóng, 8/75, tôi đã đưa trực tiếp cho gia đình Minh. Tội nghiệp, hôm đến nhà tôi, mẹ nó và anh trai nó khóc và tôi đều khóc, mẹ tôi khóc, rồi cả nhà tôi khóc theo. Chả là, gia đình nó chưa nhận giấy báo tử, nhưng tin đồn đã lan về nhà từ ngay sau ngày giải phóng. Cuốn an-bum là bằng chứng xác nhận tin đồn kia là thực).
Tôi nhận điện và truyền lệnh của trung đoàn: “địch đã bỏ tăng, vượt sông Ba bỏ chạy rồi. Tiểu đoàn 8 nhanh chóng làm chủ chiến trường”. Chúng tôi dò dẫm, thận trọng tiến lên thì thấy 1 bãi xe M48, M113, Xe Zép… ngổn ngang, máy trên các xe vẫn nổ, khói đen mù mịt. Hóa ra địch bỏ chạy nhưng vẫn nổ máy để nghi binh. Trận này chúng tôi thu hơn hai chục xe, cơ bản là tăng M48 hiện đại, còn mới nguyên. Số tăng này bàn giao cho lữ tăng 273, theo quân đoàn vào giải phóng Sài Gòn. Như một điều định mệnh, ngày 29/4, đoàn xe tăng của c9 trung đoàn tăng 273 mà tôi gặp ở Hóc Môn chính là những cái tăng này.
Thưa các bạn, trong chiến tranh có nhiều kiểu hi sinh: bị vùi lấp, bị pháo kích, bị vướng mìn, bị sốt rét, cả trăm kiểu… nhưng oanh liệt nhất là chết vì đạn thẳng. Chết vì đạn thẳng là hi sinh trong trực tiếp chiến đấu, mặt đối mặt. Thằng Minh, bạn tôi, hi sinh theo kiểu kiêu hùng ấy.
Cùng hy sinh với thằng Minh trong trận này, tiểu đoàn tôi còn mất hơn chục liệt sĩ nữa . Đau nhất là đã bắt đầu có liệt sĩ 74 Phú Thọ. Có nghĩa là bọn tân binh đi bộ đội 74, vừa bổ sung vào đơn vị, đi chiến dịch và trận này gần như là trận đầu tiên. Cái chết càng gần ngày thắng lợi càng đau. Trận này, đơn vị tôi thắng lớn lắm, nhưng cái giá phải trả không hề nhỏ, trong đó có bạn tôi.
Tàn quân địch ùn lại sau khi cầu trên sông Ba bị ta phá

    

TIẾN VÀO BUÔN MA THUỘT Bùi Tiến Tháng 3 lại về lại nhớ về Tây Nguyên ,nhớ về cái đêm vượt sông Sê rê pốc tiến vào Ban Mê Thuột , ngày đó tôi phục vụ ở Sở chỉ huy chiến dịch ,đã mấy đêm ở Sở chỉ huy hầu như các thủ trưởng không ngủ ,đèn ở nhà sa bàn sáng lấp ló suốt đêm ,.tôi cũng thấp thỏm lúc tỉnh lúc thiếp . Nửa đêm anh Kỳ lái xe của Cục chính trị Mặt trận gọi dậy bảo chuẩn bị đi ,cuộn vội tăng võng nhét vào ba lô thế là đi . Chiến dịch đã bắt đầu , tôi ra đến lán chỉ huy đã thấy mọi người ở đấy rất đông , không khí ở chỉ huy sở rất khẩn trương và phấn khởi vì cho đến lúc mở màn chiến dịch mà địch không hay biết gì ,cái thở phào của những sĩ quan tham mưu sau mấy tháng chuẩn bị cho chiến dịch , cũng đã mấy lần thót tim tưởng như kế hoạch đã bị lộ . Giữ được bí mật đến lúc mở màn có thể nói là một kỳ công trong chiến dịch này ,đã như thắng lợi phần nửa rồi . công việc chuẩn bị cho chiến dịch lần này thật thật công phu ,suốt từ đầu tháng 10/74 .chưa bao giờ vào chiến dịch mà được chuẩn bị kĩ và đầy đủ như lần này ,thế và lực đã khác trước . Mấy hôm trước các thủ trưởng bên Hậu cần nói : trận này pháo bắn thoải mái !đạn gạo cho cả 2-3 tháng , dưới xin một thì trên yêu cầu nhận hai ! Đối với tôi đây là lần đầu tiên tôi tham gia chiến dịch lớn , vừa hồi hộp nhưng vững tin . chúng tôi đi ra bãi xe , rời khỏi Sở chỉ huy ở Đắc Đam , ra bến vượt sông Sê rê pốc .Sông Sêrêpốc đoạn làm bến vượt chỉ rộng chừng 100m ,như là một cái vụng sau thác nước trên thượng nguồn . Điều đặc biệt là ở khu vực thác nước có một đồn địch ,để đảm bảo bí mật thì không được đụng đến chúng trước giờ G ,mọi việc chỉ được triển khai sau giờ G ,sau khi đã tiêu diệt gọn bọn địch trên thác nước . Suốt đêm qua các đơn vị đã vượt sông một cách an tòan ,chẳng biết bên công binh chuyên chở làm sao mà chiếc phà to màu xanh lá cây xuất hiện trên mặt sông như chui từ trong sương ra ,chắc thiên thời địa lợi nên màn sương trên mặt sông cứ quấn lấy chiếc phà . Xe lên phà , phà qua sông bằng sức kéo của mấy chiến sĩ công binh kéo vào dây cáp đã giăng sẵn qua sông ,mấy chúng tôi cũng bám vào dây cáp cho phà đi nhanh hơn . Phà có thể chở 1 cái xe tăng , nếu ô tô vạn tải thì chở được 4 cái ,còn xe con thì cả đoàn xuống tất mà thấy hãy còn rộng . Chỗ bến lên phà thì đường thoai thoải xe có thể lên thẳng phà ,bờ bên kia thì dốc phải làm một đoạn đường chếch dọc theo bờ sông xe mới lên được,phía trước còn mấy xe chở đạn đang rì rì lên dốc .nhìn những vết xích xe tăng đêm qua xuất kích còn hằn trên dốc mà phấn trấn ,tin tưởng vào thắng lợi . Bến vượt này chỉ dành cho xe cơ giới qua . Cả khúc sông nhộn nhịp như vậy mà tuyệt nhiên không hề thấy một phản ứng gì của quân địch ,không một tiếng pháo ,tiếng bom của địch ngăn chặn .nhiều đoạn đường đến lúc pháo bắn mới làm ,có những tuyến đường cơ động của xe tăng đã được anh em công binh cưa sẵn một phần cây rừng ,khi xuất kích xe tăng chỉ cần gạt đi là thành đường .Các Cụ còn ở bến sông hàng tiếng đồng hồ ,như vậy là các bến vượt đều thuận lợi .có lẽ một điều bất ngờ với quân địch là quân GP đánh Ban Mê Thuột , từ hứơng Tây Nam ,vì việc vượt sông Sê RêPôc để đưa lực lượng lớn ,cùng trang thiết bị quân sự là vô cùng khó khăn ,sông Sê Rê Pốc như một phòng tuyến tự nhiên bảo vệ BMT. Các lực lượng sau khi vượt sông đồng loạt tấn công vào các mục tiêu trong thị xã . Phương án được chọn là phương án 1 : tấn công chớp nhoáng ,trong trường hợp địch không chuẩn bị phòng ngự dự phòng , đồng thời chuẩn bị lực lượng đánh địch phản kích tái chiếm . Đến gần trưa ngày 10-3-75 thì được tin đã chiếm được căn cứ Sư đoàn 23 ngụy , có lệnh đi vào trong thị xã .Cả đoàn gồm 5,6 xe , toàn xe con của Sở chỉ huy chiện dịch , có hai xe Gat69 của Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu mới vào, xe còn mới tinh . Xe chạy trên đường mới làm cho xe tăng , rất khó đi , xóc chồm chồm ,có chỗ phải xuống đi bộ. Chúng tôi đi bộ trong rừng cà phê nở hoa trắng xóa , qua một khu ruộng , còn nhớ hình như là ruộng trồng khoai ,có lẽ là ngoại thành Ban Mê Thuột ,nghe cả thấy tiếng súng bộ binh ,xen lẫn tiếng bom .chúng tôi nhìn thấy anh em bộ đội đang cáng thương binh ra ,có rất nhiều cáng ,chạy theo bờ ruộng .những người thương binh nằm trên cáng , đã cởi áo ngoài ,bên trong mặc áo lọt loại Đông xuân cộc tay ,trước ngực còn có in dòng chữ bằng mực xanh QĐNDVN, có lẽ đây là anh em tân binh mới từ ngoài Bắc vào ,thuộc sư đoàn 316,có người máu loang đỏ cả vùng bụng ,có người băng ở đầu , ở cằm ,có người mắt nhắm nghiền bất động ,có người mắt còn nhìn chúng tôi, lúc đó cụ Đằng bảo : -Mặc thế kia thì lộ hết .ý chừng là lộ lực lượng tấn công không phải quân GP miền Nam mà là bộ đội miền Bắc vào ,như vậy là vi phạm hiệp định Pa ri về ngừng bắn bốn bên . cụ sợ mấy hôm nữa họp phái đoàn 4 bên chúng lại tố cáo ! Lúc này thấy máy bay trực thăng quần đảo rất nhiều ,có cả tiếng bom ở đâu nghe rất gần.chưa thể vào trong thị xã được ,… Đến chiều tối chúng tôi dừng chân trong một cánh rừng cà phê ,chỉ cách thị xã BMT chừng vài cây số . Bên công binh đã kịp làm hầm cho các thủ trưởng ,bon lính chúng tôi mắc võng ngay trên mặt đất ,không ngủ được ,đêm yên tĩnh quá ,thỉnh thoảng nhìn về phía thị xã thấy pháo hiệu bắn lên chắc là ở những mục tiêu bọn địch còn cố thủ .Thế là đã hết một ngày vẫn chưa chiếm được Sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy ,đơn vị đánh vào trung tâm truyền tin ,đã cắm cờ nhưng đài kĩ thuật vẫn bắt được sóng của bọn chỉ huy Sư đoàn 23 đang điều quân về ứng cứu , chúng cố thủ trong hầm ngầm . Đến trưa ngày 11-3 lại được tin đã chiếm được Sở chỉ huy Sư 23 . . Chúng tôi lại có lệnh lên đường vào thị xã ,khi đoàn xe của Sở chỉ huy vừa ra khỏi chỗ trú quân đêm qua thì một chiếc xe gat69 của bộ tổng tham mưu chết máy ,tôi quay lại nhì thấy người lái xe lúng túng mở lắp ca bô ,mồ hôi nhễ nhại ,một người sĩ quan trên chiếc xe chết máy , sang đi nhờ xe với cụ Đằng ,một tí thì xe lại nổ máy ,lúc đó người lái xe muốn vượt lên để đi cạnh chiếc xe kia của bộ tổng TM ,khi chiếc xe vượt lên chỉ cách tôi quãng chục mét ,một tiếng nổ ing tai ,cả chiếc xe bay lên cao ,sức ép của quả mìnchống tăng như đẩy tôi nghiêng đi ,áo trên người phật phật ,cũng may không có mảnh văng vào , nhưng cả 3 người trên xe gat69 đều hy sinh .Do vội và người lái xe cũng mới vào chiến trường ,nên đã quên lời dặn của công binh là cho xe chạy đúng theo vệt bánh xe đi trước .tôi nhìn ra hai bên đường thấy cứ cách 1-2 mét lại thấy cái thỏi sắt bằng ngón tay là kíp của mìn chống tăng nhô lên mặt đất .Thật chẳng hiểu ra sao về những điềm báo ,vì hôm ấy cả đoàn xe 5-6 chiếc rời sở chỉ huy ,thì hai chiếc xe của Bộ là mới nhất lại chết máy đúng chiếc bị mìn . Tôi nhớ có đoạn đang đi bộ đến chỗ lên dốc thì gặp một đám tù binh , đơn vị bắt giữ báo cáo với các thủ trưởng đã bắt được tên đại tá Vũ thế Quang ,phó chỉ huy sư đoàn 23 ngụy .tôi nhìn theo hướng mấy chiến sĩ canh gác chỉ ,thấy một người rất béo mập , đang ngồi bệt để hai chân ra phía trứơc đang ăn cơm nắm với hộp thịt loại 2,5 lạng của bộ đội ta vẫn dùng . Qua khai thác nhanh tên sĩ quan cao cấp các chỉ huy chiến dịch nắm được thêm nhiều thông tin ,nhưng một điều các cụ vui nhất là tên Quang khai :cho đến sáng chúng mới biết là quân GP đánh chiếm BMT ,lúc nửa đêm thấy tiếng nổ ở các nơi chúng đoán là đặc công đánh ,rồi pháo bắn ,chúng nghĩ chắc cũng như mọi năm ,chỉ thế rồi rút ,sáng mai cho quân giải tỏa là được, không ngờ đến sáng đã thấy xe tăng ,thiết giạp cùng bộ binh tràn ngập đường phố ,nên chúng đối phó không kịp . Xe chạy một lúc thì đến đường nhựa ,từ trong rừng lên đường hơi cao rồi ngoạt về phía tay trái . Đường nhựa phẳng lì ,chắc đã lâu lắm rồi cánh lái xe ko được chạy trên đường nhựa ,xe nào cũng cũng lao vun vút ,tôi ngồi ghế sau mà ko giám thò đầu ra khỏi xe để ngắm đường vì rất khó thở .ai cũng ở tâm trạng phấn trấn .Cái tâm trạng khó tả của những người đã ở trong rừng âm u bao nhiêu năm và hình như cũng tránh bị tập kích . Xe chạy vào thành phố ,đường phố không thấy bóng người dân ,không thấy có cờ khẩu hiệu gì . Địa điểm dầu tiên mà đòan đến là “Bộ tư lệnh sư đoàn 23 “ .chúng tôi xuống xe ,nhìn cảnh tượng căn cứ sư đoàn bộ ,cổng căn cứ bằng bê tông ,trên có hàng chữ :BỘ TƯ LỆNH ,có hình biểu tượng con đại bàng xòe cánh ,ở giữa con đại bàng có số 23 ,đối diện với cổng ngay ngoài đường là một chiếc xe thiết giáp loại M113 đang cháy , giữa cổng có cái lô cốt bằng bê tông bị một phát đạn ,chắc là đạn pháo tăng bắn vỡ toác ,bên trong sân có rất nhiều xe jép vất ngổn ngang ,phía bên phải có dẫy nhà hai tầng ,trên tường nham nhở vết đạm ,còn chủ yếu là nhà một tầng .Cảm nhận của tôi cái căn cứ này cũng không hoành tráng lắm ,không có vị trí nào đặc biệt!một thủ trưởng trong đoàn nói : - Cụ Đằng ơi ! sao không thấy phong trào quần chúng nổi dậy cướp chính quyền gì cả ?( thủ trưởng Đằng lúc đó là quyền Cục trưởng Cục chính trị mặt trận B3 ) - ở đây nhân dân nổi dậy trước rồi ! mọi người cùng cười vì nghĩ đến đoàn quần chúng có cờ ,khẩu hiệu do cơ sở tỉnh Đắc Lắc tổ chức kéo đến khu vực gần Sở chỉ huy chiến dịch ở Đắc Đam hôm trước ngày mở màn chiến dịch ,khi trông thấy đoàn người có cờ ,khẩu hiệu các Cụ ở Sở chỉ huy đã thất thần ! chết rồi ! Lộ hết bây giờ ! Chúng tôi đi ra khu trận địa pháo ,hàng mấy chục khẩu pháo ,ngổn ngang ,những hòm đạn pháo có lẽ loại 105ly tút đạn bằng tôn màu gi sáng, trận địa pháo này có lẽ bị quân giải phóng pháo kích nhiều nhất ,hầu như cả trận địa pháo địch không tổ chức bắn phản pháo lại ! Thế là mục tiêu quan trọng nhất được giải phóng !thắng lợi đầu tiên của chiến dịch TN ,không khi khẩn chương ,chúng tôi lại hành quân ra ngoài thị xã ,Sở chỉ huy tạm dừng bên một cái cống bắc qua một con suối cạn có nước thải trong đô thị chảy ra ,các Cụ ở đây nắm tình hình chiến sự , đang căng ở phía sân bay Hòa bình và bản Châu Sơn địch chống cự quyết liệt , ta vẫn chưa chiếm được sân bay , anh em Trung đoàn đặc công 198 tổn thất khá lớn . Chiến tranh đã lùi xa ,lứa chúng tôi những người tham gia vào chiến dịch Tây nguyên năm ấy đã 70 tuổi rồi ,mà không hiểu sao vào những ngày này chúng tôi vẫn khắc khoải nghĩ về những ngay xưa ấy ! về những đồng đội đã hi sinh


TIẾN VÀO BUÔN MA THUỘT 
                 Bùi Tiến

     Tháng 3 lại về  lại nhớ về Tây Nguyên ,nhớ về cái đêm vượt sông Sê rê pốc tiến vào Ban Mê Thuột , ngày đó tôi phục vụ ở Sở chỉ huy chiến dịch ,đã mấy đêm  ở Sở chỉ huy hầu như   các thủ trưởng không ngủ ,đèn ở nhà sa bàn sáng lấp ló suốt đêm ,.tôi cũng thấp thỏm lúc tỉnh lúc thiếp . Nửa đêm  anh Kỳ lái xe của Cục chính trị Mặt trận gọi dậy bảo chuẩn bị đi ,cuộn vội tăng võng nhét vào ba lô thế là đi . Chiến dịch đã bắt đầu  , tôi ra đến lán chỉ huy đã thấy mọi người ở đấy rất đông , không khí ở chỉ huy sở rất khẩn trương và phấn khởi vì cho đến lúc mở màn chiến dịch mà địch không hay biết gì ,cái thở phào của những sĩ quan tham mưu sau mấy tháng chuẩn bị cho chiến dịch , cũng đã mấy lần thót tim tưởng như kế hoạch đã bị lộ . Giữ được bí mật đến lúc mở màn có thể nói là một kỳ công trong chiến dịch này ,đã như  thắng lợi  phần nửa rồi . công việc chuẩn bị cho chiến dịch lần này thật thật công phu  ,suốt từ đầu tháng 10/74  .chưa bao giờ vào chiến dịch   mà được  chuẩn bị kĩ và  đầy đủ như lần này ,thế và lực đã khác trước .  Mấy hôm trước các thủ trưởng bên  Hậu cần nói : trận này pháo bắn thoải mái !đạn gạo cho cả 2-3 tháng , dưới xin một thì trên yêu cầu nhận hai !
        Đối với tôi đây là lần đầu tiên tôi tham gia chiến dịch lớn , vừa hồi hộp nhưng vững tin  .  chúng tôi đi ra bãi xe , rời khỏi Sở chỉ huy ở  Đắc Đam , ra bến vượt sông Sê rê pốc  .Sông Sêrêpốc đoạn  làm bến vượt  chỉ rộng chừng 100m  ,như là một cái vụng sau thác nước trên thượng nguồn . Điều đặc biệt là ở khu vực thác nước có một đồn địch ,để đảm bảo bí mật thì không được đụng đến chúng trước giờ G ,mọi việc chỉ được triển khai sau giờ G ,sau khi đã tiêu diệt gọn bọn địch trên thác nước . Suốt đêm qua các đơn vị đã vượt sông một cách an tòan ,chẳng biết bên công binh chuyên chở làm sao mà chiếc phà to màu xanh  lá cây xuất hiện trên mặt sông như chui từ trong sương ra ,chắc thiên thời địa lợi nên màn sương trên mặt sông cứ quấn lấy chiếc phà . Xe lên phà , phà qua sông bằng sức kéo của mấy chiến sĩ công binh kéo vào dây cáp đã giăng sẵn qua sông ,mấy chúng tôi cũng bám vào dây cáp cho phà đi nhanh hơn . Phà có thể chở 1 cái xe tăng , nếu ô tô vạn tải thì chở được 4 cái ,còn xe con thì cả đoàn xuống tất mà thấy hãy còn rộng  . Chỗ bến lên phà  thì đường  thoai thoải xe có thể lên thẳng phà ,bờ bên kia thì dốc phải làm một đoạn đường chếch  dọc theo bờ sông xe mới lên được,phía trước còn mấy xe chở đạn đang rì rì lên dốc .nhìn những vết xích xe tăng đêm qua xuất kích  còn hằn trên dốc mà phấn trấn ,tin tưởng vào thắng lợi . Bến vượt này chỉ dành cho xe cơ giới qua . Cả khúc sông nhộn nhịp như vậy mà tuyệt nhiên không hề thấy một phản ứng gì của quân địch ,không một tiếng pháo ,tiếng bom của địch ngăn chặn .nhiều đoạn đường đến lúc pháo bắn mới làm ,có những tuyến đường cơ động của xe tăng đã được anh em công binh cưa sẵn một phần cây rừng ,khi xuất kích xe tăng chỉ cần gạt đi là thành đường .Các Cụ còn ở bến sông hàng tiếng đồng hồ ,như vậy là các bến vượt đều thuận lợi .có lẽ một điều bất ngờ với quân địch là quân GP đánh Ban Mê Thuột , từ hứơng Tây Nam ,vì  việc vượt sông Sê RêPôc để đưa lực lượng lớn ,cùng trang thiết bị quân sự là vô cùng khó khăn ,sông Sê Rê Pốc như một phòng tuyến tự nhiên bảo vệ BMT.
                                                                     
 Các lực lượng sau khi vượt sông đồng loạt tấn công vào các mục tiêu trong thị xã  . Phương án được chọn là phương án 1 : tấn công chớp nhoáng ,trong trường hợp địch không chuẩn bị phòng ngự dự phòng , đồng thời chuẩn bị lực lượng đánh địch phản kích tái chiếm  .
     Đến gần trưa ngày 10-3-75 thì được tin đã chiếm được căn cứ Sư đoàn 23 ngụy ,   có lệnh đi vào trong thị xã .Cả đoàn  gồm 5,6 xe , toàn xe con của Sở chỉ huy chiện dịch ,  có hai xe Gat69 của Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu mới vào, xe còn mới tinh . Xe chạy trên đường mới làm cho xe tăng , rất khó đi , xóc chồm chồm  ,có chỗ phải xuống đi bộ.  Chúng tôi đi bộ trong rừng cà phê  nở hoa trắng xóa  ,  qua một khu ruộng , còn nhớ hình như là ruộng  trồng khoai ,có lẽ là ngoại thành Ban Mê Thuột ,nghe cả thấy tiếng súng bộ binh ,xen lẫn tiếng bom .chúng tôi nhìn thấy anh em bộ đội đang cáng thương binh ra ,có rất nhiều cáng ,chạy theo bờ ruộng .những người thương binh nằm trên cáng , đã cởi áo ngoài ,bên trong mặc áo lọt loại Đông xuân cộc tay ,trước ngực còn có in dòng chữ bằng mực xanh QĐNDVN, có lẽ đây là anh em tân binh mới từ ngoài Bắc vào ,thuộc sư đoàn 316,có người máu loang đỏ cả vùng bụng ,có người băng ở đầu , ở cằm ,có người mắt nhắm nghiền bất  động ,có người mắt còn nhìn chúng tôi, lúc đó cụ Đằng bảo :
  -Mặc thế kia thì lộ hết  .ý chừng là lộ lực lượng tấn công  không phải quân GP miền Nam mà là bộ đội miền Bắc vào ,như vậy là vi phạm hiệp định Pa ri về ngừng bắn bốn bên . cụ sợ mấy hôm nữa họp phái đoàn 4 bên chúng lại tố cáo !
Lúc này thấy  máy bay trực thăng quần đảo rất nhiều ,có cả tiếng bom ở đâu nghe rất gần.chưa thể vào trong thị xã được ,…  
  Đến chiều tối chúng tôi dừng chân trong một cánh  rừng cà phê ,chỉ cách thị xã BMT chừng vài cây số . Bên công binh đã kịp làm hầm cho các thủ trưởng ,bon lính chúng tôi mắc võng ngay trên mặt đất ,không ngủ được ,đêm yên tĩnh quá ,thỉnh thoảng nhìn về phía thị xã thấy pháo hiệu bắn lên chắc là ở những mục tiêu bọn địch còn cố thủ .Thế là đã hết một ngày vẫn chưa chiếm được Sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy ,đơn vị đánh vào trung tâm truyền tin ,đã cắm cờ nhưng đài kĩ thuật vẫn bắt được sóng của bọn chỉ huy Sư đoàn 23 đang điều quân về ứng cứu , chúng cố thủ trong hầm ngầm .
                                             
   Đến trưa ngày 11-3 lại  được tin đã  chiếm được Sở chỉ huy Sư 23 .
.   Chúng tôi lại có lệnh lên đường vào thị xã ,khi đoàn xe của Sở chỉ huy vừa ra khỏi chỗ trú quân đêm qua thì một chiếc xe gat69 của bộ tổng tham mưu chết máy ,tôi quay lại nhì thấy người lái xe lúng túng mở lắp ca bô ,mồ hôi nhễ nhại ,một người sĩ quan trên chiếc xe chết máy , sang đi nhờ xe với cụ Đằng ,một tí thì xe lại nổ máy ,lúc đó người lái xe muốn vượt lên để đi cạnh chiếc xe kia của bộ tổng TM ,khi chiếc xe vượt lên chỉ cách tôi quãng chục mét ,một tiếng nổ ing tai ,cả chiếc xe bay lên cao ,sức ép của quả mìnchống tăng  như đẩy tôi nghiêng đi ,áo trên người phật phật ,cũng may không có mảnh văng vào , nhưng cả 3 người trên xe gat69 đều hy sinh .Do vội và người lái xe cũng mới vào chiến trường ,nên  đã quên lời dặn của công binh là cho xe chạy đúng theo vệt bánh xe đi trước  .tôi nhìn ra hai bên đường thấy cứ cách 1-2 mét lại thấy cái thỏi sắt bằng ngón tay là kíp của mìn chống tăng nhô lên mặt đất .Thật chẳng hiểu ra sao về những điềm báo ,vì hôm ấy cả đoàn xe 5-6 chiếc rời sở chỉ huy ,thì hai chiếc xe của Bộ là mới nhất lại chết máy đúng chiếc bị mìn .

 Tôi nhớ có đoạn đang đi bộ đến chỗ  lên dốc thì gặp một đám tù binh , đơn vị bắt giữ báo cáo với các thủ trưởng  đã bắt được tên đại tá Vũ thế Quang ,phó chỉ huy sư đoàn 23 ngụy .tôi nhìn theo hướng mấy chiến sĩ canh gác chỉ ,thấy một người rất béo mập , đang ngồi bệt để hai chân ra phía trứơc đang ăn cơm nắm với hộp thịt loại 2,5 lạng của  bộ đội ta  vẫn dùng . Qua khai thác nhanh tên sĩ quan cao cấp các chỉ huy chiến dịch nắm được thêm nhiều thông tin ,nhưng một điều các cụ vui nhất là tên Quang khai :cho đến sáng chúng mới biết là quân GP đánh chiếm BMT ,lúc nửa đêm thấy tiếng nổ ở các nơi chúng đoán là  đặc công đánh ,rồi pháo bắn ,chúng nghĩ chắc cũng như mọi năm ,chỉ thế rồi rút ,sáng mai cho quân giải tỏa  là được, không ngờ đến  sáng  đã thấy xe tăng ,thiết giạp cùng bộ binh tràn ngập  đường phố ,nên chúng đối phó không kịp .

 Xe chạy một lúc thì đến đường nhựa ,từ trong rừng lên đường hơi cao rồi ngoạt về phía tay trái . Đường nhựa phẳng lì ,chắc đã lâu lắm rồi cánh lái xe ko được chạy trên đường nhựa ,xe nào cũng cũng lao vun vút ,tôi ngồi ghế sau mà ko giám thò đầu ra khỏi xe  để ngắm đường vì rất khó thở .ai cũng ở tâm trạng phấn trấn .Cái tâm trạng khó tả của những người đã ở trong rừng âm u bao nhiêu năm và hình như cũng tránh bị tập kích .
Xe  chạy vào thành phố ,đường phố không thấy bóng người dân ,không thấy có cờ khẩu hiệu gì . Địa điểm dầu tiên mà đòan đến là “Bộ tư lệnh sư đoàn 23 “ .chúng tôi xuống xe ,nhìn cảnh tượng căn cứ sư đoàn bộ ,cổng căn cứ bằng bê tông ,trên có hàng chữ :BỘ TƯ LỆNH ,có hình biểu tượng con đại bàng xòe cánh ,ở giữa con đại bàng có số 23 ,đối diện với cổng ngay ngoài đường là một chiếc xe thiết giáp loại M113 đang cháy , giữa cổng có cái lô cốt bằng bê tông bị một phát đạn ,chắc là đạn pháo tăng  bắn vỡ toác ,bên trong sân có rất nhiều xe jép vất ngổn ngang  ,phía bên phải có dẫy nhà hai tầng ,trên tường nham nhở vết đạm ,còn chủ yếu là nhà một tầng  .Cảm nhận của tôi cái căn cứ này cũng không hoành tráng lắm ,không  có vị trí nào đặc biệt!một thủ trưởng trong đoàn nói :
   - Cụ Đằng ơi ! sao không thấy phong trào quần chúng nổi dậy cướp chính quyền gì cả ?( thủ trưởng Đằng lúc đó là quyền Cục trưởng Cục chính trị mặt trận B3 )
   - ở đây nhân dân nổi dậy trước rồi ! mọi người cùng cười vì nghĩ đến đoàn quần chúng có cờ ,khẩu hiệu do cơ sở tỉnh Đắc Lắc tổ chức kéo đến khu vực gần Sở chỉ huy chiến dịch ở Đắc Đam hôm trước ngày mở màn chiến dịch ,khi  trông thấy đoàn người có cờ ,khẩu hiệu các Cụ ở Sở chỉ huy đã thất thần !  chết rồi ! Lộ hết bây giờ !  
  Chúng tôi đi ra khu trận địa pháo ,hàng mấy chục khẩu pháo ,ngổn ngang ,những hòm đạn pháo có lẽ loại 105ly tút đạn bằng tôn màu gi sáng, trận địa pháo này có lẽ bị quân giải phóng pháo kích nhiều nhất ,hầu như cả trận địa pháo địch không tổ chức bắn phản pháo lại  !
 Thế là mục tiêu quan trọng nhất  được giải phóng !thắng lợi đầu tiên của chiến dịch TN ,không khi khẩn chương ,chúng tôi lại hành quân ra ngoài thị xã ,Sở chỉ huy tạm dừng bên một cái cống bắc qua một con suối cạn có nước thải trong đô thị chảy ra ,các Cụ ở đây nắm tình hình chiến sự , đang căng ở phía sân bay Hòa bình và bản Châu Sơn địch chống cự quyết liệt , ta vẫn chưa chiếm được sân bay , anh em Trung đoàn đặc công 198 tổn thất khá lớn .
  Chiến tranh đã lùi xa ,lứa chúng tôi những người tham gia vào chiến dịch Tây nguyên năm ấy đã 70 tuổi rồi ,mà không hiểu sao vào những ngày này  chúng tôi vẫn khắc khoải nghĩ về những ngay xưa ấy ! về những đồng đội đã hi sinh

    

Bình luận : CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN - CHIẾN DỊCH HOÀN HẢO VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM

Nhân kỷ niệm 44 năm chiến dịch Tây Nguyên và chiến thắng Buôn Ma Thuột ( 11/3/1975 ) , trang Lính Tây Nguyên đăng lại bài viết của Nguyễn Đình Thi về Chiến dịch này

Bình luận : CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN - CHIẾN DỊCH HOÀN HẢO 
VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM 
                                                                                           Nguyễn Đình Thi 

Chiến dịch Tây Nguyên không phải là một chiến dịch dài , nó diễn ra chưa đầy một tháng ( từ 4/3/1975 đến 3/4 1975 ) , nhưng đây lại là một chiến dịch thành công rất xuất sắc , thậm chí nó còn vượt cả sự mong muốn của ta . Trong vòng chưa đầy một tháng , ta đã tiêu diệt và làm tan dã toàn bộ Quân đoàn 2 của địch . Giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và tỉnh Khánh Hoà , góp phần giải phóng 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên . Tạo bước ngoặt lớn cho công cuộc giải phóng miền Nam , thống nhất đất nước . Có được thắng lợi trên chính là nhờ ta đã vận dụng NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ một cách rất xuất sắc . Có thể nói đây là một CHIẾN DỊCH HOÀN HẢO VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta

1/ Trước hết là NGHỆ THUẬT CHỌN HƯỚNG TẤN CÔNG và MỤC TIÊU TẤN CÔNG .
A/ Điểm đầu tiên Bộ thống soái của ta và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chọn Buôn Ma Thuột là trận mở màn , then chốt của chiến dịch là vì Buôn Ma Thuột có một vị trí chiến lược rất tốt . Chiếm được Buôn Ma Thuột ta có thể phát triển ra 3 hướng :
- Phát triển về hướng Đông theo đường 21 xuống đồng bằng ven biển miền Trung rất thuận lợi . Tạo thế chia cắt chiến lược với địch giữa Quân khu 1 với phía Nam
- Phát triển về hướng Tây , mở thông hành lang chiến lược từ hậu phương miền Bắc với miền Đông Nam bộ , tạo nên một một hậu phương cho ta .
- Phát triển lên hướng Bắc nối với đường 14 .
B/ Điểm thứ 2 là địch phòng thủ ở đây yếu . Từ trước đến nay các trận đánh lớn giữa ta và địch chủ yếu diễn ra ở Kon Tum và Play Cu nên địch tập trung phòng thủ ở đây khá vững chắc . Đánh vào Kon Tum hay Play Cu là đánh vào chỗ mạnh của địch , đây là điều tối kỵ của phép dùng binh . Còn ở Buôn Ma Thuột , do khá lâu từ 1968 đến nay ở đây không có trận đánh lớn nào nên địch phòng thủ MỎNG và KHÔNG VỮNG CHẮC . Lực lượng địch ở đây chỉ có Trung đoàn bộ binh ( E53 ) lại thiếu một tiểu đoàn , một Trung đoàn pháo binh , một Trung đoàn xe tăng , xe thiết giáp ( E8 ) cùng một số đơn vị địa phương quân và hậu cứ của Sư 23 . Ta đã phát hiện được điểm yếu này và triệt để khai thác .
C/ Về địa hình : Buôn Ma Thuột không có nhiều núi cao , sông suối như Kon Tum và Play Cu , xung quanh Buôn Ma Thuột độ che phủ của cây khá tốt , rất thuận lợi cho ta che giấu lực lượng và triển khai binh khí kỹ thuật như xe tăng , xe bọc thép , pháo mặt đất , pháo cao xạ để tấn công quy mô lớn .
D/ Buôn Ma Thuột không những có nhiều lợi thế về chiến lược , Buôn Ma Thuột còn là trung tâm kinh tế , văn hoá , chính trị và là thủ phủ của Tây Nguyên .
Có thể nói việc chọn Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột là mục tiêu tấn công đầu tiên của ta trong năm 1975 là một lựa chọn chính xác , khoa học , một sự lựa chọn với tư duy nghệ thuật quân sự cao . Do vậy chỉ với một ĐÒN Buôn Ma Thuột ta chiếm được cả Play Cu và Kon Tum . Chỉ một ĐÒN Buôn Ma Thuột , cả hệ thống quân sự của địch trên toàn Miền Nam đã rung chuyển , dẫn đến địch phải rút chạy khỏi Tây Nguyên . Điều đó chứng tỏ tài năng vận dụng NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ đánh vào nơi HIỂM , nơi YẾU , nơi SƠ HỞ NHẤT của địch ở Tây Nguyên là Buôn Ma Thuột của Bộ Thống soái và Bộ chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên thật xuất sắc.

2/ - VỀ MƯU
Chiến dịch Tây Nguyên là một chiến dịch quy mô lớn , ta sử dụng tới 60 ngàn quân và nhiều binh khí kỹ thuật . Để đảm bảo bí mật , địch không phát hiện hướng tấn công của ta ở Buôn Ma Thuột là vấn đề hắc búa và rất khó . Chỉ một sơ suất nhỏ của một cá nhân hoặc một bộ phận thôi là lộ cả một ý đồ lớn . Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chỉ đạo tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch quán triệt tới từng cán bộ , chiến sỹ về ý thức bảo mật nhiệm vụ và có những quy định nghiêm ngặt . Không được liên lạc vô tuyến điện . Chỉ sử dụng hữu tuyến và liên lạc . Đồng thời đã tổ chức cả một chiến dịch Nghi binh lừa địch rất bài bản, rất kiên trì và rất mưu trí suốt từ khi chuẩn bị Chiến dịch ( 25/12/1974 ) tới tận ngày nổ súng ( 10/ 3/75 ) . Ta đã thực hiện rất nhiều thủ đoạn Nghi binh như : Mở đường lớn vào Kon Tum và PLay Cu y như chuẩn bị cho đánh lớn vào đây . Tung tin đồn giả sắp đánh Kon Tum và PLay Cu . Điều động lực lượng úp úp , mở mở . Ta dương Đông , kích Tây , lừa lực lượng địch về phòng thủ Play Cu và Kon Tum . Ta tổ chức dùng Sư đoàn 968 đánh thật mà là thật giả ở PLay Cu , nhưng đánh thật ở Buôn Ma Thuột . Ta để các máy Vô tuyến điện và các điện báo viên địch đã theo dõi lâu nay ở lại Kon Tum và PLay Cu , hàng ngày đúng giờ vẫn phát đi các bức điện giả , rồi bí mật di chuyển cả 2 Sư đoàn 10 và 320 về Nam Tây Nguyên , địch vẫn không hay biết . Khi địch nắm được một số thông tin qua việc nhặt được cuốn nhật ký của một cán bộ thông tin Trung đoàn 149 - Sư đoàn 316 và qua việc một tên hàng binh của ta khai : " Sư đoàn 10 đang chuẩn bị tấn công Đức Lập , Sư đoàn 320 đang ở tây Ea HơLeo chuẩn bị đánh Thuần Mẫn ,một lực lượng khác chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột " , chúng đã điều Trung đoàn 45 từ PLay Cu về Buôn Ma Thuột và lên lùng sục ở phía Bắc thị xã để tìm lực lượng chủ lực của ta . Để lừa địch , ta lại tạo một bức điện giả , phát lên không trung : " ... Địch đã bị mắc lừa cho rằng ta sẽ đánh Buôn Ma Thuột nên đã điều quân xuống phía Nam . Các đơn vị vào vị trí sẵn sàng chiến đấu " , làm cho địch hoang mang không biết tin vào hàng binh hay bức điện giả của ta . Cuối cùng chúng tung Trung đoàn 45 lên phía Tây Bắc Buôn Ma Thuột lùng sục cả một tuần không thấy lực lượng của ta . Sợ bị lừa , chúng lại rút Trung đoàn 45 từ Buôn Ma Thuột về PLay Cu , để trống Buôn Ma Thuột . vv và vv . Nói chung trong trận Buôn Ma Thuột ta vận dụng triệt để MƯU LỪA ĐỊCH , đến nỗi sáng 10/3 ta tấn công Buôn Ma Thuột mà chiều 9/3 , chỉ còn hơn chục giờ nữa là ta nổ súng tấn công Buôn Ma Thuột , Phạm Văn Phú - Tư lệnh Quân đoàn 2 địch đến Buôn Ma Thuột họp với Bộ Tư lệnh Mặt trận Buôn Ma Thuột , tướng Phú vẫn cho rằng ta đánh Đức Lập là để nghi binh tấn công Kon Tum và Play Cu . Nếu có đánh Buôn Ma Thuột chỉ là đánh nhỏ . Rồi cả một bộ máy khổng lồ về con người cũng như máy móc hiện đại của cả Mỹ và Nguỵ vẫn không đoán được ta đánh chính ở đâu , ta có những đơn vị nào tham chiến . Chúng phải thốt lên :" Đúng là một trò ma thuật " . Quả thực là quá tài tình , là bậc thày về Nghi binh lừa địch . Đúng như binh pháp đời xưa nói : MƯU CAO NHẤT LÀ MƯU LỪA ĐỊCH.

3/ - VỀ KẾ
Trước hết KẾ của ta trong Chiến dịch này là tập trung LÀM YẾU ĐỊCH rồi ĐÁNH VÀO CHỖ YẾU của chúng . Thực tế trên địa bàn Tây Nguyên trước khi ta nổ súng tấn công Buôn Ma Thuột tương quan lực lượng của địch mạnh hơn ta cả về quân số và hoả lực - quân số của ta : 65141 , quân số của địch : 78300 , pháo binh của ta : 88 pháo từ 105 tới 130 ml , 55 pháo ĐKB và H13 , pháo binh của địch : 230 pháo từ 105 tới 175 ml ) , xe thiết giáp : ta 57 , địch 371 , đặc biệt là không quân địch có tới 118 máy bay chiến đấu các loại . Với tương quan lực lượng trên nếu ta không dùng KẾ CHIA CẮT thì khó có thể thắng được quân địch . Để làm yếu quân địch , không cho chúng hỗ trợ nhau khi ta tấn công Buôn Ma Thuột ta đã thực hiện thành công KẾ CHIA CẮT . Ngày 4/3 , ta đưa Trung đoàn 95A và Sư đoàn 3 ( quân khu 5 ) ra cắt đường 19 , con đường huyết mạch từ miền Trung lên Tây Nguyên , để chia cắt giữa Tây Nguyên với đồng bằng ven biển miền Trung và cũng để lừa địch cho rằng ta cắt đường 19 là chuẩn bị đánh Play Cu . Ngày 5/3 , ta đưa tiếp Trung đoàn 25 ra cắt đường 21 ở đoạn Khánh Dương , không cho địch cơ động từ Khánh Hoà lên Buôn Ma Thuột .Ngày 7/3 , Sư đoàn 320 cắt tiếp đường 14 từ PLay Cu đi Buôn Ma Thuột ở khu vực Thuần Mẫn . Bằng KẾ CHIA CẮT này ta đã làm cho địch từ NHIỀU trở nên ÍT , từ MẠNH trở nên YẾU , đã tạo lập được một thế trận vừa kìm địch , vừa chia cắt địch , vừa trói chặt địch ở Buôn Ma Thuột . Đến ngày 7/3/75 , còn cách 3 ngày nữa ta mới nổ súng tấn công nhưng Buôn Ma Thuột đã bị cô lập hoàn toàn với các nơi khác và ở thế " cá nằm trên thớt " . Phải công nhận rằng MƯU , KẾ của ta trong chiến dịch này thật hay , thật hoàn hảo.

4/ - NGHỆ THUẬT VỀ DỰ KIẾN TÌNH HUỐNG VÀ XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
Trong Chiến Dịch Tây Nguyên , Bộ Thống soái của ta và Bộ Tư Lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã dự kiến tình huống và xử lý tình huống rất chính xác . Chính nhờ dự kiến chính xác các tình huống nên thế trận của ta luôn luôn chủ động , luôn vững chắc . Ở trận Buôn Ma Thuột ta dự kiến : Khi ta chiếm Buôn Ma Thuột thế nào địch cũng đưa quân đến phản kích tái chiếm . Vậy thì lực lượng nào của chúng sẽ được đưa về đây tái chiếm ? Bộ Thống soái của ta đã nhận định từ trước tới nay ở các điểm nóng lớn , địch thường sử dụng một trong 2 Sư đoàn dự bị chiến lược của chúng là Sư đoàn Dù và Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến đi ứng cứu . Để kìm chân 2 Sư đoàn này , Bộ Thống soái của ta đã đưa Sư đoàn 308 của Quân đoàn 1 ra áp sát ở hướng Trị Thiên - Huế , ngăn không cho địch rút Sư đoàn Thủy quân lục chiến đi ứng cứu . Quân đoàn 4 ép hướng Tây Ninh không cho Sư đoàn Dù rút đi . Như vậy địch chỉ còn lực lượng tại chỗ của Quân đoàn 2 , với lực lượng này ta đủ khả năng đối phó . Ta cũng phán đoán nếu địch đến ứng cứu khi ta chiếm Buôn Ma Thuột chúng chỉ còn một đường duy nhất là đường không vì đường bộ là đường 21 và 14 về Buôn Ma Thuột ta đã cắt đứt ,2 sân bay ở Buôn Ma Thuột là sân bay Thị xã và sân bay Phụng Dực địch có thể đổ quân tái chiếm ta cũng đã chiếm giữ và khống chế . Một kế hoạch đánh địch đến tái chiếm Buôn Ma Thuột cũng được ta chuẩn bị sẵn . Sư đoàn 10 , sáng ngày 10/3 , sau khi chiếm Đức Lập , ngay chiều ngày 10/3 đã được ô tô vận chuyển gấp về phía đông Buôn Ma Thuột dàn thế trận sẵn sàng đánh quân phản kích . Các đơn vị pháo cao xạ ( E234 , E232 ) , các đơn vị pháo mặt đất E40 , E675 , E4 cũng sẵn sàng nhả đạn khi quân tiếp viện của địch đến ứng cứu . Đúng như dự đoán của ta : Chiều 12/3 và các ngày tiếp theo địch đã đổ bộ lực lượng của Sư đoàn 23 thiếu xuống phía Đông Buôn Ma Thuột nhưng chúng đã rơi vào trận địa đón sẵn của Sư đoàn 10 . Sau 5 ngày chiến đấu ( từ 14 đến 18/3 ) , toàn bộ lực lượng của Sư đoàn 23 đến phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột đã bị quân ta đánh cho tơi tả . Hầu hết số quân này đã bị ta tiêu diệt và bắt sống . Chính sau trận thua đại bại này của Sư đoàn 23 đã làm cho Tổng Thống Nguỵ quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu phải ra lệnh rút quân khỏi Cao nguyên

5/ VỀ THẾ và LỰC
Từ MƯU và KẾ trên của ta đã tạo cho ta lợi thế lớn về THẾ và LỰC . Ta đã thực hiện tốt Nghệ thuật đánh thắng địch không những bằng MƯU và KẾ mà trong chiến dịch này ta còn thực hiện đánh thắng địch bằng cả THẾ và LỰC . Có thể nói trên chiến trường Tây Nguyên từ trước tới nay chưa có một trận đánh nào ta lại sử dụng lực lượng và binh khí kỹ thuật áp đảo địch ngay từ đầu trận đánh như trận Buôn Ma Thuột . Trong trận này lực lượng của ta gồm có : Sư đoàn 316 , Sư đoàn 10 , Trung Đoàn 95B , Trung đoàn đặc công 198 , 2 Trung đoàn Pháo binh E675 và E40 , 2 Trung đoàn pháo cao xạ E234 và E232 , 2 Trung đoàn Công binh : E7 và E575 , 1 Trung đoàn xe tăng ( E273 ) , 1 Trung đoàn thông tin E29 , ngoài ra ta còn có Sư đoàn 320A đang ở khu vực Thuần Mẫn sẵn sàng cùng tham chiến . Trong khi đó ở Buôn Ma Thuột địch chỉ có : Trung đoàn 53 thiếu 1 tiểu đoàn , 1 trung đoàn pháo binh , 1 trung đoàn xe tăng , xe bọc thép và một số đơn vị địa phương quân . Tất cả các lợi thế trên đã tạo cho ta thế áp đảo địch ngay từ ngày đầu trận đánh , làm cho địch hoàn toàn không kịp xoay sở , đối phó dẫn đến thất bại nhanh chóng . Sự thất bại của địch ở Buôn Ma Thuột đã tạo ra sự cộng hưởng lớn về THẾ cho ta , dẫn đến kết quả địch hoảng sợ phải bỏ chạy cả ở Kon Tum và Play Cu . Điều này càng chứng tỏ tài năng vận dụng NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên : dùng công 1 mà hiệu quả lại gấp đôi , gấp ba

Bằng NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ xuất sắc , CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN đã giành thắng lợi hết sức to lớn . Nó đã vượt ra khỏi giới hạn một CHIẾN DỊCH THÔNG THƯỜNG , trở thành một CHIẾN DỊCH MANG Ý NGHĨA CHIẾN LƯỢC , tạo ra sự đột biến mới , thời cơ mới cho cuộc Cách mạng giải phóng của dân tộc ta tiến tới thắng lợi hoàn toàn . Đến nay Chiến dịch đã trải qua hơn 40 năm song nó vẫn rất đáng để những người nghiên cứu Lịch sử suy ngẫm về cách dùng binh của Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên .
Tướng Hoàng Minh Thảo đang chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên 

    

CUỘC TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968 Ở THỊ XÃ KON TUM

KỶ NIỆM 51 NĂM CUỘC TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968 Nhân kỷ niệm 51 năm cuộc tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của đồng chí Nguyễn Tập - nguyên Phó bí thư Tỉnh ủy Kon Tum về trận đánh này. Có thể nói cuộc tấn công của ta vào thị xã Kon Tum tết Mậu Thân 1968 tuy có giành được một số kết quả nhưng ta đã phải trả một cái giá khá đắt. 2 đơn vị chủ công đánh vào thị xã này là Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 404 của tỉnh Kon Tum bị thiệt hại nặng. Khoảng hơn 400 cán bộ, chiến sỹ của ta đã bị thương và hy sinh. Đây cũng là bài học xương máu cho ta tổ chức tấn công vào thành phố, thị xã sau này

CUỘC TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968
Ở THỊ XÃ KON TUM

Nguyễn Tập - Nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum, Nguyên Bí thư Ban Cán sự H5 Đến năm 1967, về cơ bản ta đã kiện toàn được Ban Cán sự Đảng ở thị xã Kon Tum , xây dựng được nhiều đội vũ trang công tác, có bộ phận chuyên trách bàn đạp và nội ô, xây dựng được hành lang và lõm căn cứ ở trung tâm thị xã, củng cố bàn đạp vững mạnh. Điều kiện cho tấn công nổi dậy đã có, tuy chưa được toàn diện, nhưng cũng có khả năng đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị, kế hoạch của Khu ủy Khu 5 và Bộ Tư lệnh Tây Nguyên - B3, Tỉnh ủy, Tỉnh đội Kon Tum và Ban Cán sự thị xã gấp rút triển khai kế hoạch thực hiện: Bộ Chỉ huy Mặt trận Kon Tum được thành lập, đồng chí Vương Tuấn Kiệt (Phú) - Tham mưu phó B3 làm Chỉ huy trưởng; Phùng Bá Thường - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 chủ lực làm Chỉ huy phó; Lê Tấn Nhất (Thuận) - Chính trị viên phó Tỉnh đội là Chỉ huy phó; Bùi Anh (Tiềm) - Bí thư Tỉnh ủy làm Chính ủy; Nguyễn Tập - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh đội làm Phó Chính ủy. Chỉ huy trưởng và chính ủy chỉ huy chung và trực tiếp đơn vị pháo binh. Đồng chí Phùng Bá Thường chỉ huy Trung đoàn 24 tiến đánh biệt khu 24 của ngụy. Đồng chí Lê Tấn Nhất chỉ huy Tiểu đoàn 304 tiến đánh sân bay và khu huấn luyện 42 ngụy. Đồng chí Nguyễn Tập chỉ huy cánh quân phía tây gồm Tiểu đoàn 406 đặc công tiến công vào tòa hành chính, ty cảnh sát, tiểu khu Kon Tum. Lực lượng vũ trang an ninh giải thoát nhà lao. Chỉ đạo công tác cơ sở, công tác quần chúng nổi dậy do Ban Cán sự thị xã (H5) phụ trách, đã đưa 6 cán bộ vào sông hợp pháp ỏ lõm căn cứ Trung Lương do đồng chí Nguyễn Thế Vũ chỉ huy, ngoài ra còn lập 2 đội công tác dân vận do đồng chí Lê Văn Vinh (Nhất) phụ trách đội phía tây cùng tiến vào với cánh quân phía tây, đội phía đông do đồng chí Đào Duy Tồn phụ trách, cùng tiến theo cánh quân phía Đông. Ngày 14 tháng 12 năm 1967, Tỉnh ủy và Bộ Chỉ huy Mặt trận Kon Tum cử đồng chí Trần Thanh Dân - Bí thư Ban Cán sự H5 cải trang đi hợp pháp vào nội ô kiểm tra tình hình và công tác chuẩn bị, phục vụ cho việc quyết định của kế hoạch tấn công và nổi dậy. Phương án của ta là lót một bộ phận đặc công vào nội ô trước ngày nổ súng, đưa cán bộ chỉ huy cải trang hợp pháp vào điều tra các mục tiêu, khảo sát đường ta hành quân công khai để tiếp cận mục tiêu sẽ tấn công. Ban Cán sự thị xã đã chọn một số anh chị em cơ sở ở bàn đạp lõm và căn cứ nội thị đưa cán bộ chỉ huy đi chuẩn bị chiến trường, ra vào thị xã bằng nhiều hình thức. Cơ sở đã cung cấp cho ta cả bản đồ thị xã và các mục tiêu bên trong, chuẩn bị nơi trú và đưa đón đặc công vào trú, nơi cất giấu vũ khí, vận chuyển vũ khí các nơi sẽ cất giấu phân tán cho đặc công. Ban Cán sự còn bố trí một số cơ sở đón nhận, nuôi giấu, bảo vệ và phục vụ đưa các chiến sĩ đặc công tiếp cận mục tiêu làm nhiệm vụ. Trước 30 Tết độ một tuần, không khí chuẩn bị vui Tết đón Xuân của đồng bào thị xã không kém phần nhộn nhịp như thường lệ, trong một tình cảnh phố xá binh lính, cảnh sát địch canh phòng nghiêm ngặt, xét hỏi gắt gao, nếu có ai sơ hở một tí thì bị chúng bắt vào cật vấn, phạt vạ hoặc bị giam cầm... nhưng ai nấy cũng hối hả lo cho mình có ngày vui đón năm mới. Trong khi ấy thì chúng ta có những chuyến hàng và khách đặc biệt cũng ra vào thị xã chuẩn bị cho đón “lễ giao thừa Mậu Thân”. Trên các phương tiện: đi bộ, xe máy, xe đạp, xe lam và cả xe Jeép của sĩ quan ngụy,... lần lượt vận chuyển từ nội thị ra căn cứ A25 (bàn đạp Trung Tín) và ngược lại từ A25 vào lõm căn cứ Trung Lương nội thị. Công việc lại càng khẩn trương và nhộn nhịp hơn nhiều việc chuẩn bị Tết của người dân. "Hàng” ra là mấy trăm bộ quân trang ngụy do cơ sở quyên góp mua sắm đủ cho Tiểu đoàn đặc công 406, đơn vị vũ trang thị đội và An ninh vũ trang tĩnh cải trang, thuận lợi cho việc hành quân công khai trên đường phố để dễ tiếp cận mục tiêu tấn công địch. “Hàng” vào là hơn tạ vũ khí, đạn dược được ngụy trang dưới dạng bao cà phê, lúa, ngô, than, củi, chậu cây cảnh, hoa tết... cũng được vận chuyển trên các phương tiện như trên. Tuy nhiên, cái khó nhất là hai khẩu B40 được ta bỏ vào trong hai bao than củi trên xe lam, có khách hỏi vui: “Hôm nay có quà Tết gì mà to nặng thế ông chủ...?”. “Than củi đấy, chớ có nặng chân bụi bay vào mũi...” tiếng đáp của chủ xe cơ sở Tòng Ký (tức Dư Tư Tòng). Hàng về đến đích, người nhận thất hứa nên cơ sở Tòng Ký chuyển về nhà mình cất giấu, đến tối 30 Tết giao lại cho các chiến sĩ tại quán Cao Nguyên. Hồi hộp và lo lắng nhất là hai bao “cà phê” được đưa lên xe viên trung úy pháo binh ngụy Phan Văn Trương, với đoạn đường hơn 4 cây số mà sao cảm thấy quá xa, rồi với những lời hài hước lả lơi, tình tứ của chủ “cà phê” với chủ xe làm vơi đi cơn lửa đang cháy lòng của cơ sở Bảy Lý. Cô thở phào nhẹ nhõm cất lời chào cảm ơn viên trung úy, “mìn” và người xuống xe an toàn. Cùng lúc, “hàng” của Phận, của Mười, của Tình và của nhiều đồng chí khác cũng về đích chiều 29 - 30 Tết. “Khách” là 12 chiến sĩ đặc công được ta lót vào nội thị trước hai, ba ngày để hoàn tất công tác kiểm tra việc chuẩn bị vị trí ở mục tiêu Tòa hành chính Kon Tum và làm nhiệm vụ mở đột phá khẩu, mở màn cho đợt tiến công khi đơn vị chủ công đã tiếp cận mục tiêu. Nơi trú là quán Cao Nguyên. Cái lo nhất là có hai chiến sĩ đi trên xe viên trung úy pháo binh và xe của lính Lôi Hổ, nhưng cơ sỏ vẫn khéo léo che mắt địch và bảo vệ về đến đích an toàn. Đoàn “khách” thứ hai là Tiểu đoàn trưởng đặc công Nguyễn Phi Hùng, các đại đội trưởng đặc công và Thị đội vào kiểm tra, quan sát tận mắt mục tiêu và các vị trí của từng mũi tiến công cùng xác định các con đường hành quân thuận tiện cho việc tiếp cận. Khách vào ra cũng bằng phương tiện như chuyển hàng, và trên phong cách phù hợp của từng đốì tượng như: thợ rừng, dân buôn, thương gia, nông gia, nhà giáo, công chức... Vào ra và khi làm nhiệm vụ được cơ sỏ hướng dẫn đi lại, ăn ở đều chu tất và đưa về căn cứ an toàn vào chiều 26 và 27 giáp Tết Mậu Thân. Ngoài ra, thường hay vào ra, ăn ở làm công tác là các đồng chí Nguyễn Thế Vũ, Trần Thanh Dân, Nguyễn Phô, Nguyễn Thị Thanh Vân... cũng đều được bảo vệ an toàn trong một thời gian dài vào cuối năm 1967 và đầu năm 1968. Đêm 30 Tết, cánh quân phía tây hành quân theo hành lang đã chọn, sang phía nam Đắk Cấm đi hướng tây nam lên vượt qua quốc lộ 14 - nơi đỉnh dốc cầu Đắk Cấm, vòng hướng nam vượt suối Rỏ Rẻ đi về phía đông nhập vào đường lớn trước Bệnh viện Kon Tum thẳng tới đường 14 đoạn cắt ngang, qua đường Bà Triệu, mỗi đội nhanh chóng tiếp cận mục tiêu thì cũng vừa lúc pháo giao thừa trong thị xã nổ ran. Trong lúc các chiến sĩ đang trên đường hành quân từ bên ngoài vào thị xã thì ở nội ô, tại quán Cao Nguyên đường Hàng Keo - Trung tâm của lõm căn cứ Trung Lương, mặt tiền của quán bài trí cảnh đón Tết rực rở thì bên trong của gác hai là nơi trú quân của đội đặc công và tiếp nhận vũ khí từ các hướng chuyển đến. Các chiến sĩ ta đã hoàn thành việc chuẩn bị mọi việc trong tư thế chiến đâu của người lính đặc công sẵn sàng xuất quân. Đúng giờ hẹn, “cảnh sát” Năm Diêu cùng Châu, Hòa và Muộn với trang phục là những chiếc áo dài bằng dạ ấm, bạt đi mưa... đã ngụy trang cho các chiến sĩ đặc công và che giấu vũ khí, nhất là cho súng B40, lần lượt đưa từng chiến sĩ đến vị trí ém quân an toàn. Mọi việc cho trận chiến đấu ở nội ô đã hoàn tất và đảm bảo bí mật tuyệt đối trước 12 giờ đêm 30 Tết. Khi tiếng pháo giao thừa đón Xuân của nhân dân thị xã nổ giòn, đội đặc công đã xong việc chuẩn bị của mình, thì cũng là lúc Tiểu đoàn đặc công 406 và các đơn vị chiến đấu nội thị cũng trên đường công khai hành quân tiếp cận mục tiêu, các mũi của đoàn công tác dân vận đi cùng quân đội đã vào nội thị. Ban chỉ huy trận nội thị chúng tôi đã đến vị trí xóm bệnh viện Kon Tum. Tất cả mọi diễn biến trong thời gian này, Ban chỉ huy thường xuyên nhận tin tức của liên lạc đường bộ báo về đều bảo đảm an toàn, bí mật. Thế là sự hợp đồng giữa các đơn vị chiến đấu mật tập, cường tập, bí mật và hành quân công khai, giữa trên và dưới đều ăn khớp, đúng giờ. Giờ G đã đến sau giờ giao thừa Mậu Thân, tiếng bộc phá mở màn cho chiến dịch nổ vang tại tòa hành chính tỉnh trưỏng Kon Tum, rồi liên tiếp, tiếng súng các loại của quân ta khắp nơi nổ vang thay cho tiếng pháo giao thừa của đồng bào trong đêm. Bị đánh bất ngờ, bọn địch hoảng loạn cố thủ dưới hầm, một số bỏ chạy, số ít chống cự. Quân ta lần lượt giải quyết các ổ đề kháng của địch. Điều khó khăn không lường hết là Đại đội công binh không đánh sập được cầu Đắk Bla. Trung đoàn 24 đêm ấy không đánh được biệt khu 24 ngụy nên lực lượng chủ lực mạnh nhất của địch vẫn còn nguyên, sau khi hoàn hồn chúng tổ chức phản kích. Từ biệt khu 24 và quân Lôi Hổ ở phía nam cầu Đắk Bla đã tiến quân bao vây, đánh vào các mục tiêu ta đang chiếm giữ, xe tăng, thiết giáp, bộ binh chúng phong tỏa hết các con đường ra vào thị xã. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch lúc này diễn ra quyết liệt, các chiến sĩ ta dũng cảm đánh lui các đợt phản kích của địch trên từng điểm chốt, từng đường phố , ta bị thương vong nhiều không tiến lên được, nên theo lệnh phân tán đánh nhỏ lẻ. Ta đưa thêm đội 2 vào cũng không tiến lên được. Gần 6 giờ ngày mồng 1 Tết thì liên lạc điện đài và cả đường bộ giữa Tiểu đoàn 406 và chỉ huy bên ngoài bị đứt. Qua điện đài của địch, ta biết được suốt ngày hôm ấy đến hôm sau, các tổ chức nhỏ lẻ của ta bám đánh địch và lần lượt rút ra. ở sân bay, địch không đánh được Tiểu đoàn 304 của ta, đến khi có lệnh chủ động rút về. Trung đoàn 24 của ta đêm đầu không hoàn thành nhiệm vụ, đêm sau tấn công vào biệt khu 24 ngụy, mất thời cơ và không còn yếu tố bất ngờ nên cũng chỉ đạt yêu cầu rất thấp. Hai đội công tác dân vận và cán bộ chính trị cũng được lệnh rút ra. Cuộc tấn công và nổi dậy của ta kết thúc đợt một. Ngày 4 tháng 2 năm 1968, địch bắt đầu khủng bố, trong vòng 15 ngày, chúng bắt 450 người mà chúng nghi ngờ, trong đó có 55 cán bộ, đảng viên và cơ sở của ta. Lõm căn cứ nội thị và bàn đạp bên ngoài bị đánh phá. Cơ sở còn lại không liên lạc được với lãnh đạo thị xã. Phải mất một thời gian dài ta mới khôi phục lại được cơ sở ở bàn đạp bên trong. Từ đây tổ chức cơ sở được phát triển ngày càng rộng lớn, phong trào cách mạng trong quần chúng mạnh lên. Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 ở thị xã Kon Tum nổi lên mấy vấn đề: ⁃ Một là: Ta đã đồng loạt tấn công vào các vị trí đầu não quan trọng trong sào huyệt địch, phối hợp với chiến trường trên toàn miền Nam, tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Điều đó chứng minh rằng, ta có thể đánh vào cơ quan đầu não địch, có thế tiếp cận địch mà chúng không hể hay biết dù lực lượng chúng đông đảo, đồn bốt trong ngoài dày đặc, mật vụ gián điệp cài cắm khắp nơi nhưng do chúng chủ quan, sơ hở, không được lòng dân. ⁃ Hai là: Tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ ta rất kiên cường, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Cơ sở cốt cán và nhân dân hết lòng, hết sức phục vụ cho cuộc tấn công không ngại tù đày, tra tấn, thiệt hại đến tính mạng. Cơ sở của ta ở thị xã đã dám đứng lên hành động cách mạng với tinh thần cao cả, quân và dân đã phối hợp, giúp đỡ nhau cùng tấn công địch. Điều đó cho thấy, có cơ sở, có dân thì kế hoạch tiến quân, lót quân, vận chuyển, cất giấu vũ khí và mọi công việc khác đều bảo đảm bí mật, bất ngờ và tuyệt đối an toàn. ⁃ Ba là: Qua cuộc tiến công và nổi dậy này, yếu điểm của ta cũng bộc lộ rõ: vẫn còn một số cán bộ ngại hy sinh, do dự, rụt rè nên không hoàn thành nhiệm vụ; kế hoạch của một vài đơn vị thiếu hoặc không chuẩn xác, thông tin liên lạc chiến đấu của ta quá kém, không bảo đảm nhanh cho chỉ huy xử lý tình huống; trình độ nghệ thuật chỉ huy còn non yếu; sử dụng cơ sở phục vụ chiến dịch bị bại lộ, khi có kẻ bị bắt khai báo thì bị địch đánh phá vỡ. Đặc biệt thời điểm đó có phần bất lợi, vì trên đường hành quân vào nội thị lại nhận lệnh khẩn của Bộ Tổng Tham mưu cho hoãn cuộc tấn công đêm 30, chuyển vào đêm mồng 1 Tết (nơi nào không hoãn kịp cứ thực hiện theo kế hoạch), với ta không thể hoãn, do vậy mà ý chí rụt rè, tiêu cực của số cán bộ càng tăng, hạn chế quyết tâm, không dám đánh. Đây cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế thắng lợi và gây tổn thất nhiều của lực lượng chiến đấu nội thị. Ta giành thắng lợi quan trọng, nhưng tổn thất không nhỏ. Tổn thất này ảnh hưởng đến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Tuy nhiên, thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, Mỹ càng thất bại, không thể không rút quân về nưóc, không thể gượng dậy được. Còn ta thì nhanh chóng khôi phục, xây dựng củng cố, phát triển lực lượng về mọi mặt, liên tục đánh địch trên tất cả các mặt chính trị, vũ trang, binh vận và tiếp tục tiến lên, đi đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng Kon Tum, góp phần vào công cuộc giải phóng miền Nam, thông nhất đất nước mùa Xuân 1975.
    

NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG THỂ QUÊN

NHÂN KỶ NIỆM  40 NĂM  NGÀY GIẢI PHÓNG CAM PU CHIA

        NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG THỂ QUÊN
            ( Nguyễn Thế Liêm - Trung đoàn 24 )

 Sau khi cùng các đơn vị của Sư đoàn đập tan tuyến phòng thủ của địch ở đường 7 , Trung đoàn 24 của tôi nhanh chóng tiến về phía bờ sông KongPongCham . Ngày 3/ 1-1979 , Trung đoàn đã có mặt tại thị trấn Suông -Chúp bờ sông đối diện thị xã Kong Pông Chàm, nơi đây tàn quân Pôn Pốt vừa tháo chạy, chúng đã phá huỷ đốt phá quân lương, nhà cửa trước khi rút chạy về phía thi xã Kong Pông Chàm, cả một dãy nhà cửa ven sông không còn nguyên vẹn, âm ỉ các đám cháy khét lẹt của kho lương thực, quân trang quân dụng địch đã tiêu huỷ khi rút chạy; dọc bờ sông còn sót lại ít nhà lợp lá tồi tàn sàn gỗ sát đất, bờ sông bên này nơi ta tiếp cận dốc đến sát mép nước chỉ có lối xuống phà sang sông là thoải; khi Trung đoàn đến đây, các phương tiện vượt sông như phà, thuyền đều bị chúng phá huỷ hoăc đưa đi nơi khác nhằm làm chậm bước tiến của quân ta . Trung đoàn 24 chúng tôi lúc này được Sư đoàn giao nhiệm vụ tổ chức một Tiểu đoàn được ca nô chở đánh xuôi theo dòng Mê Công từ KongPongCham về Nông Penh . Đây là một nhiệm vụ rất nặng nề và khó khăn , đơn vị chưa khi nào tác chiến theo hình thức này . Tuy vậy toàn  Trung đoàn vẫn xác định quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ . Chiều ngày 2/1/1979 , tôi từ đại đội 14 đươc gọi về ban tham mưu trung đoàn, tôi nhận ra những cán bộ thân quen vỉ hơn 1 năm chiến đấu có nhau có nhiều sự kiện mà tôi biết các anh , như  anh Cự, anh Hợi - tham mưu, anh Kha, anh Lữa - tác chiến , anh Xe, anh Trữ, anh Đáng trinh sát , một số anh cán bộ thuộc tiểu đoàn 4..  chúng tôi xem bản  đồ để nghe kế hoạch vượt sông Mê Công đánh vào thủ đô  Nong Penh-Cam Pu Chia . Chúng tôi lắng nghe và được biết có nhiều cánh quân khác cùng tiến vào giải phóng Nong Penh nên nhiệm vụ dù xa lạ nhưng cũng yên tâm vì nhiệm vụ của chúng tôi là không  đơn độc
Tôi nguyên là lính trinh sát của trung đoàn, sau đi học bổ túc pháo binh tại Trường sỹ quan Pháo binh 400 về. Tôi có  hơn 1 năm không ốm ngày nào luôn bám sát đơn vị và tham gia nhiều trận đánh của Trung đoàn nên tôi hiểu vị trí của mình khi tham gia chiến dịch này.
Dòng sông Mê Công phía trước mặt chúng tôi, nơi bến phà vượt sang Kong Pông Chàm thì đây là chỗ khúc sông hẹp nhất, giới hạn hai bờ đo được khoảng trên 1200 m, mặt nước chỗ hẹp nhất khoảng 800m,
Khoảng cách từ đây đến cầu Saigon 2 - NongPenh khỏang 60 km , nhiệm vụ của chúng tôi là đưa tiểu đoàn 4 tiếp cận theo đường sông Mê Công tiếp cận phía chân cầu( cấu bắc qua song Mê Cong nối  PNong Pênh đến Sài Gòn) tôi không nhớ tên cầu ghi trên bản đồ chỉ nhớ ghi chú Saigon2.
Khi tới cầu, vận động theo đại lộ Mi No Vông tiến vào Hoàng cung Cam Pu Chia , khi vào đến Nông Penh sẽ có các hướng dẫn bắt liên lạc với đơn vị bạn cùng nhiệm vụ
Nhiệm vụ khó khăn của  đơn vị là việc cơ động trên sông, được biết hiện lúc ấy đang điều một số phương tiện thuỷ  từ phía dưới lên, song đơn vị là  chiến trường rừng núi nay cơ động và chiến đấu trên sông nước thì mình chưa có kinh nghiệm... hơn nữa nhiều anh em quê miền núi giờ cho bơi sông để vào vị trí  chiến đấu sẽ không thuận lợi, có thể có người hy sinh trước khi vào bờ do đuối nước... Vì vậy phải luyện tập để giảm thiểu hy sinh, bảo toàn lực lượng trước khi lên bờ.
Việc luyện tập trên sông không thể tiến hành ban ngày vì mặt sông trống trải, hoả lực của địch bảo vệ bờ bên Kong Pong Chàm sẽ bắn phá , nên phải luyện tập vào ban đêm .

Những ngày nằm bên sông Mê công chuẩn bị vượt sông Mê công, tôi được giáo nhiệm vụ trong tổ vượt sông cùng Tiểu đoàn 4 , sẵn sàng theo hướng từ cầu Sai gòn2 (cầu qua sông Mê Công đã bị đánh sâp )  đánh từ hướng đông vào thủ đô PNom Penh. Tổ đặc biệt chúng tôi gồm khoảng 20 người . Trong đó có anh Hợi - Tham mưu, anh Kha , anh Lữa - tác chiến, anh Xe trinh sát và cán bộ của Tiểu đoàn 4 . Cứ tối đến tổ chúng tôi lại ra sông Mê Koong tập luyện . Ban ngày chúng tôi quan sát các vật chuẩn bên kia sông . Thành phố Kong pông Chàm hiện lên rất rõ trước măt; ống nhòm định cự hệ số 8x12 quan sát rõ từng con đường ven sông , cả chợ Kong pông Chàm lớn như chợ Đầm ở Nha Trang của nước mình vậy .Dòng sông Mê công trải rộng mênh mông....   Chiều rộng mặt nước mùa này đo trên bản đồ khoảng 800m , chiều rộng hai bờ khoảng 1200m; bờ bên thị trấn Suong-Chúp dốc, bờ bên phía thành phố Công Pông Chàm thoải, những bãi cát trắng trải dài bờ sông, vượt sông Mê cong ở đoạn này hết sức khó khăn vì địch bố phòng dày các bao cát trải khắp hướng đối diện hướng tiến của ta.mặt hướng tiến công của ta trống trải không địa hình địa vật che đỡ . Qua ống nhòm bội số 8 x12 quan sát rất rõ từng đoạn đường , từng vị trí địch bố phòng dày đặc hướng xuống mặt sông...
   Nhiệm vụ của tổ đặc biệt của tôi là cùng Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn cơ động theo dòng sông Mê công đánh thẳng vào thủ đô Nông Penh . Buổi tối nào cũng vậy chúng tôi tập tiếp cận các xuồng máy, các thuyền máy Kole , tập khởi động máy , tập lái xuồng , nhảy  xuống nước và tiếp cận bờ... Dòng sông về đêm tĩnh lặng và mênh mông, phía thành phố Koong pông Chàm  như lặng câm im lìm chờ những trận bão lửa đạn nay mai..
Chúng tôi để trần và tập, mấy chục con người cùng tập vượt sông chờ ngày xuất trận.. Nước chảy mạnh , mát lạnh .. lên xuồng bơi cách bờ khoảng 100m rồi nhảy xuống nước tiếp   cận bờ... mấy anh em quê vùng xuôi thì có lẽ đỡ hơn, tôi quê Tuyên Quang, ít bơi lội nên khoản này vất vả hơn.. Phải lựa dòng trôi vào bờ để đỡ tốn sức mà vẫn bám được đội hình  , kịp thời chỉ thị mục tiêu cho bộ đội nữa.. chợt có lúc nhớ bài học thời học sinh rằng dòng sông Mê Công vùng gần Biển hô có nhiều cá sấu, chợt ớn lạnh .. song khát vọng sống và nhiệm vụ phải hoàn thành mặc dù mình có thể hy sinh khi chưa kịp đến bờ... Mặc kệ. bên cạnh mình sẽ còn đồng đôi.. không ai bảo ai, có lẽ tất cả đồng đội đều chung suy nghĩ như mình mỗi đêm một hai tiếng tập như vậy, rồi trở lại bờ , ai về đơn vị nấy, đều đang chờ xuất phát vào trận... Trên bờ vẫn những mùi khói mùi khét cháy của các kho quân lương địch đốt cháy khi bỏ chạy . Ngày 7/1/1979 , do các hướng tiến quân của ta phát triển rất nhanh , đã chiếm được thủ đô Nông Fenh nên nhiệm vụ đánh phát triển theo sông Mê Kông vào Nông Penh của Trung đoàn 24 chúng tôi cũng thay đổi . Đánh phát triển theo đường 6 về hướng thị xã Kông Pông Thom .
   40 năm qua đã trôi qua nhưng kỷ niệm về những ngày tập vượt sông đánh vào Nông Penh  tôi vẫn không thể nào quên .


😍