VỀ BÀI THƠ VÀ BÀI HÁT - GỬI NẮNG CHO EM

VỀ BÀI THƠ VÀ BÀI HÁT - GỬI NẮNG CHO EM
Bùi Văn Dung - Nguyên chiến sĩ Trung đoàn 40, quê tỉnh Vĩnh Phúc

Sài Gòn tháng 12 năm 1975 , vừa tròn tám tháng sau ngày giải phóng miềm Nam, thống nhất đất nước. Những chàng lính Bắc chúng tôi, phần lớn chưa được về phép. Ngày chủ nhật thường gặp nhau "cải thiện" bữa ăn và nói với nhau những dự định khi được ra Bắc về thăm gia đình . Trưa hôm đó , sau khi cơm nước xong , mấy anh em chúng tôi ngồi nghe bản tin thời sự lúc 12 giờ . Ngoài trời nắng chói chang giữa mùa đông phương Nam. Cuối bản tin là dự báo thời tiết.
Chúng tôi không ngờ là cùng một dải đất hình chữ S mà mùa đông xứ Bắc lạnh cắt da, cắt thịt, còn ở đây là mùa đông ấm áp lạ thường.
Một ai đó bỗng nói, ở đây thì thừa nắng mà ngoài mình thì lạnh đến dưới không độ, giá gửi được ít nắng ra ngoài ấy nhỉ?...
Chộp được cái tứ "Gửi nắng" thế là tôi ngồi vào bàn, chỉ sau 15 phút , bài thơ "Gửi nắng cho em" được viết xong. Tôi gọi anh em lại, đọc cho mọi người cùng nghe . Mấy cậu có vợ rồi thì nhảy cẩng lên tán thưởng, mọi người đều giục tôi gửi ngay cho báo "Sài Gòn giải phóng" tờ nhật báo lớn nhất miền Nam lúc đó. Ngay sáng hôm sau bài thơ "Gửi nắng cho em" được đăng trên trang 3 báo "Sài Gòn giải phóng".
Bẵng đi một thời gian tôi cũng không để ý gì đến bài thơ đó nữa. Vì tôi là cộng tác viên ruột của tờ báo, nên tuần nào cũng có thơ được đăng.
Mãi đến năm 1976, bài thơ "Gửi nắng cho em" được Nhạc sĩ Phạm Tuyên phổ nhạc, được phát trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam, tôi và nhạc sĩ cũng chưa hề gặp nhau. Đến thư từ cũng không có liên lạc vì chẳng ai biết địa chỉ của nhau cả . Cuối năm 1976, qua báo Tuổi trẻ tôi nhận được thư và bản nhạc chép tay của Nhạc sĩ Phạm Tuyên gửi tặng. Từ đó tôi và nhạc sỹ Phạm Tuyên thường xuyên có thư trao đổi. Và sau này lần lượt các bài thơ của tôi được Nhạc sĩ Phạm Tuyên phổ nhạc như "Con kênh ta đào”, "Giá em đừng yêu anh". Tuy nhiên bài hát "Gửi nắng cho em" sau đó không được phát trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam. Phải mãi đến năm 1981, khi ra Bắc về học chương trình chính trị cao cấp ở Học viện Chính trị, ra nhà Nhạc sĩ Phạm Tuyên ở Khương Thượng tôi mới được biết lý do. Nhạc sĩ đưa cho tôi xem một số ý kiến phê phán nội dung phần lời của bài hát. Bằng một lối suy diễn rất "ấu trĩ" cho rằng: Miền Bắc xã hội chủ nghĩa tươi đẹp, thiếu gì nắng mà phải gửi nắng của miền Nam, trải qua mấy chục năm chủ nghĩa tư bản xấu xa . Dầu sao, cho đến nay bài hát "Gửi nắng cho em" vẫn được dư luận xã hội chấp nhận.
Mới đây Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã tổ chức một đêm nhạc Gửi nắng cho em cùng những tác phẩm chọn lọc của ông tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội . Tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc bài thơ này

GỬI NẮNG CHO EM
Anh ở trong này chưa thấy mùa đông
Nắng vẫn đỏ - mận hồng đào cuối vụ
Trời Sài Gòn xanh cao như quyến rũ
Thật diệu kỳ là mùa đông phương Nam.
Muốn gửi ra em một ít nắng vàng
Nghe đài báo rét kéo dài ngoài ấy
Mùa đã xong, còn chiêm - xuân cày cấy
Bà con mình sẽ xoay sở ra sao?
Anh hiểu sức vươn của những cành đào
Qua giá rét vẫn đỏ hoa ngày Tết
Như cây thông vững vàng trong giá rét
Em hãy làm cây thông xanh, nghe em.
Khi hai miền cùng vào một vụ chiêm
Hai vựa thóc cùng nặng tình của đất
Cùng vào mùa một ngày vui Thống nhất
Hơn lúc nào, anh hiểu thấu lòng em.
Ở trong này anh chưa thấy mùa đông
Thương cái rét của thợ cày, thợ cấy
Nên cứ muốn chia nắng đều ra ngoài ấy
Có tình thương tha thiết của trong này
Gửi nắng về sưởi sấm những bàn tay.

                                                            12-1975
                                                          BÙI VĂN DUNG
    

ĐI TÌM NGUỒN GỐC VÀ TÁC GIẢ CỦA HAI CÂU THƠ NỔI TIẾNG VỀ TÌNH CẢM ĐỒNG ĐỘI CỦA NGƯỜI LÍNH TÂY NGUYÊN THỜI CHỐNG MỸ

ĐI TÌM NGUỒN GỐC VÀ TÁC GIẢ CỦA HAI CÂU THƠ NỔI TIẾNG VỀ TÌNH CẢM ĐỒNG ĐỘI CỦA NGƯỜI LÍNH TÂY NGUYÊN THỜI CHỐNG MỸ

Từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước cho đến bây giờ chiến tranh đã lùi xa 50 năm, ở Tây Nguyên và trong các tổ chức Liên lạc Mặt trận Tây Nguyên B3 - QĐ3 xuất hiện hai câu thơ mà mỗi khi đọc lên mọi người đều xúc động, đồng cảm, đồng thời người đọc cũng cảm thấy nhẹ lòng vì đã nói lên được lòng mình với đồng đội còn nằm lại chiến trường và người đã trở về tìm lại thăm nhau.
Tây Nguyên ơi! Ai đã từng qua đó
Suốt cuộc đời nhớ lại vẫn thương nhau.
Hai câu thơ tuy không nói gì đến bom đạn, đến thương vong, bệnh tật, đói khát, song từng chữ đã gợi cho người lính Tây Nguyên hình dung ra tất cả mà cuộc đời của họ đã trải qua.Tây Nguyên ơi! Ai đã từng qua đó. Trước hết là tiếng gọi Tây Nguyên ơi! Ôi, sao hai chữ Tây Nguyên nó tha thiết, thiêng liêng đến thế! Không phải chỉ là địa danh, không phải chỉ là một vùng rừng núi cao nguyên, mà với người lính Tây Nguyên thì đây là cuộc sống chiến đấu của họ, của đồng đội, của người đã nằm lại và những người đã trở về và bây giờ ở đâu? Nó là nơi bom đạn ác liệt, nơi đói khát, bệnh tật mà họ đã vượt qua tất cả để chiến thắng kẻ thù, chiến thắng bệnh tật, chiến thắng cả bản thân mình, chiến thắng cả thần chết để cùng đồng đội lập nên chiến công hiển hách một thời. Những năm 60-70 ấy có ai chỉ cần qua đó, hành quân qua, gặp một trận oanh tạc của địch, phi pháo, B52, dự một trận đánh hoặc qua vài cơn sốt rét ác tính… cũng đã hiểu một phần về Tây Nguyên. Thế mà có các vị tướng Tây Nguyên, nhiều chiến sĩ Tây Nguyên đã bám trụ ở chiến trường Tây Nguyên từ năm 1964 đến sau năm 1975 của thế kỷ trước. Cho nên tình cảm đồng đội của người lính Tây Nguyên: Suốt cuộc đời nhớ lại vẫn thương nhau.
Người lính Tây Nguyên không thể quên những ký ức một thời ở Tây Nguyên và nhớ lại những năm tháng sống chết bên nhau, gian khổ, đói khát có nhau, nay may mắn trở về làm sao quên nhau được và nhớ lại thời gian ấy mới thấy thương nhau, vẫn thương nhau không phải chỉ 40 năm, 50 năm mà suốt cuộc đời vẫn thương nhau!Rất nhiều người yêu thích 2 câu thơ này, đưa vào bài nói, bài viết của mình mỗi khi nhắc đến tình cảm của người lính Tây Nguyên, nhưng hầu hết không ai biết 2 câu thơ này của ai? Nó ra đời từ bao giờ? Nhiều người tuổi về già, trí nhớ đã giảm, thời gian quá lâu nên quên vài chữ trong câu thơ. Mặt khác, có người vẫn giữ cốt lõi của 2 câu thơ, song sửa đi vài chữ cho phù hợp với ý của mình, và như để rõ hơn, sâu sắc hơn, có người mở đầu bài viết, hoặc có người kết thúc bài viết bằng 2 câu thơ này:
“Tây Nguyên (?) Ai đã từng qua đó,
Suốt cả cuộc đời mắc nợ nhớ thương nhau”
Cố thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên trong “Ký ức Tây Nguyên” của mình, ông cũng đưa hai câu thơ này vào. Ông viết: … “Trong suốt chặng đường chinh chiến hơn 10 năm trên đất Tây Nguyên, với tôi có biết bao kỷ niệm vui buồn. Một phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày toàn thắng, nhớ làm sao hết, ghi làm sao đầy đủ được, nhưng chúng tôi rất tự hào vì đã một thời được làm người chiến sĩ Tây Nguyên, được vinh dự là “Bộ đội B3”… Những năm tháng gian khổ cơ hàn chỉ còn trong dĩ vãng. Rồi đây những Plei-me, Sa Thầy, Măng Yang, An Khê, Đắc Tô - Tân Cảnh, Ban Mê Thuột, Đường 7… sẽ đổi thay, những “Cổng trời”, “Bãi C1”, “Dốc trăm bậc”, “Cây đa gió lộng”, “Cầu lây” và cả bài ca “Cây sắn tiến công” sẽ đi vào sử sách. Song với người lính Tây Nguyên năm xưa thì dù ở cương vị nào và đang ở đâu, những năm tháng ấy vẫn thật gần gũi biết bao:Tây Nguyên ơi, ai một lần qua đó/Suốt cuộc đời nhớ lại vẫn thương nhau”.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3 và Trung tướng Tiêu Văn Mẫn, nguyên Phó tư lệnh chính trị QĐ3, Trưởng Ban liên lạc Bạn chiến đấu Mặt trận Tây Nguyên B3 - QĐ3, trong các bài diễn văn, bài viết về Tây Nguyên của mình, các ông đều nhắc đến 2 câu thơ này.Cố GS.BS Anh hùng lực lượng vũ trang Lê Cao Đài đã ở Tây Nguyên từ năm 1966 đến năm 1973, ông là một thầy thuốc nổi tiếng ở Chiến trường Tây Nguyên và cả nước. Sau khi ra Bắc, ông xuất bản cuốn Truyện ký“Tây Nguyên ngày ấy”, Nxb Lao động, 1997, trang bìa 1 ông in hai câu thơ:Tây Nguyên ơi, ai đã từng qua đó/Trọn cuộc đời mãi mãi vẫn thương nhau”. Còn rất nhiều người khác cũng đã sử dụng 2 câu thơ trên trong bài viết , bài nói của mình. Cũng như các đồng đội Tây Nguyên khác, tôi đồng cảm và rất thích hai câu thơ, lâu nay nó trở thành câu thơ của mọi người lính Tây Nguyên nhưng chắc chắn không phải thơ khuyết danh.Từ đó tôi có ý nghĩ và đã đi tìm nguồn gốc và người làm ra hai câu thơ này đầu tiên…
Rất may mắn và cũng tình cờ, trong buổi gặp mặt truyền thống của chiến sĩ Mặt trận Tây Nguyên B3 - QĐ3vừa qua ở Hà Nội (22/3/2015) tôi đã gặp người đồng đội thời ở Tây Nguyên. Qua chuyện trò, ông khoe hai câu thơ của mình đã được các tướng lĩnh và đồng đội nhắc đến nhiều… Tôi vô cùng mừng rỡ và hẹn gặp ông để tìm hiểu về hai câu thơ này…Nhà ông ở Khu tập thể Nam Đồng - Hà Nội. Đó là Trung tá Đỗ Tiến Ruyện, ông đã 85 tuổi (sinh 1930), nhưng còn rất khỏe, nhanh nhẹn và minh mẫn. Ông nhập ngũ từ Kháng chiến chống Pháp (3/1954). Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông vẫn ở trong quân ngũ liên tục. Tháng 4/1965 ông vào Trị Thiên và Tây Nguyên chiến đấu, sau đó vào miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Ông từng là lính bộ binh, pháo binh và lính cao xạ, cuối cùng là giảng dạy tại Trường Sĩ quan Binh chủng Quân khu 1. Nghỉ hưu, ông không về quê Thái Bình mà cư trú tại Nam Đồng - Hà Nội.Trở lại với hai câu thơ của Đại tá Đỗ Tiến Ruyện mà lâu nay nhiều người yêu thích, đặc biệt lính Tây Nguyên rất đồng cảm nhưng nhiều người chưa rõ ai làm ra hai câu thơ đó, thậm chí còn tưởng lầm là của một người khác . Hai câu thơ này là hai câu đầu của bài thơ “Tây Nguyên”, ông làm tháng 4/1966, sau một năm ông chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên. Đây là toàn văn bài thơ hồi đó:

TÂY NGUYÊN
Tây Nguyên ơi, ai đã từng qua đó
Suốt cuộc đời nhớ lại vẫn thương nhau
Đào mài, nhặt gắm, hái rau
Kim cang, môn thục, măng vầu… đắng cay
Muỗi như trấu suốt đêm ngày
Vắt xanh vắt đỏ từng bầy ngo ngoe.
Sốt gì mà sốt gớm ghê
Rét run cầm cập, nóng kề lò nung
Ngửi cơm đã thấy buồn nôn
Ho dập, ho dồn, miệng đắng ngực đau.
Bước đi phải dắt dìu nhau
Nằm lâu nhức đầu, ác tính mắt hoa…
Tây Nguyên ai đã từng qua
Trọn đời thương nhớ về ta với mình.
                                                        4-1966

 Bài thơ này ông đã đọc lần đầu tại Tây Nguyên trong buổi liên hoan văn nghệ của Nông trường 10 (Sư đoàn 10 năm 1966), có đồng chí Thái Bá Nhiệm - Chủ nhiệm chính trị và đồng chí Hội - trợ lý tuyên huấn B3 xuống dự. Sau đó bài thơ này có đăng ở Báo Mặt trận Tây Nguyên hồi đó. Thời gian đến nay đã quá lâu nên còn rất ít người nhớ bài thơ này, một số đồng chí dự buổi liên hoan hôm đó đã hy sinh hoặc qua đời vì bệnh tật và già yếu. Qua mấy buổi làm việc trao đổi với ông và xem thơ ông, tôi hỏi ông sao không tập hợp thơ cho xuất bản và công bố để mọi người biết hai câu thơ nổi tiếng này là của ông chứ không phải của người khác. Ông Ruyện cười rất hồn nhiên, vui vẻ nói: “Việc ấy không quan trọng, tôi rất hạnh phúc và cảm ơn mọi người đã đọc và thích thơ tôi”. Đến đây, tôi chợt nhớ đến mấy câu thơ ông viết ở trang đầu của tập thơ ông mới gom được một số bài:
 Thơ tôi viết chẳng có hồn
Việc làm thời chiến góp dồn là thơ
Mong sao trong lúc đợi chờ
Tiếng cười nho nhỏ trước giờ xuất quân
 Cảm ơn các chị, các anh
Bạn bè chân thành xem đọc thơ tôi.
                                                                 
                                                                                            Đỗ Tiến Ruyện

Chia tay ông vào một buổi chiều ở khu tập thể “nhà binh” Nam Đồng, ông rất vui và cảm ơn tôi đã thích, đọc và chép thơ ông. Còn tôi, thực sự kính nể và … thương yêu ông - Người đồng đội già, cả đời trận mạc từ đánh Pháp, đánh Mỹ, qua Mặt trận Điện Biên Phủ, Mặt trận Trị Thiên, Tây Nguyên, Miền Đông, Miền Tây Nam Bộ… và đã đem những gian khổ, đói khát, bệnh tật và bom đạn ác liệt tại các chiến trường từ Bắc chí Nam hơn nửa thế kỷ qua “góp dồn” lại cho đồng đội, cho đời những bài thơ, câu thơ để đời…

Bùi Lô - Điện thoại: 024 38360225(Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên B3-QĐ3)

Địa chỉ tác giả : Trung tá  Đỗ Tiến Ruyện ( sinh năm 1930) thuộc lữ đoàn pháo binh 40. Phòng 106 nhà A7 Tập thể quân đội Nam Đồng, Quận Đống Đa, Hà Nội. Điện thoại : 024 35332895.


    

TRÒ CHUYỆN VỚI 2 NHÀ VĂN LÍNH TÂY NGUYÊN

TRÒ CHUYỆN VỚI 2 NHÀ VĂN LÍNH TÂY NGUYÊN
             Nguyễn Đình Thi

Sau tết năm 2018, nhà văn Nguyễn Trọng Luân nhắn tin hẹn tôi:
- Anh Thi ơi! Hôm nào rảnh, anh rủ Bảo Ninh mình ngồi với nhau nhé !
   Tôi đồng ý và nhận đứng ra tổ chức buổi gặp này. Tưởng rằng tôi, nhà văn Bảo Ninh, nhà văn Nguyễn Trọng Luân đều ở nội thành Hà Nội chắc chẳng khó khăn gì, a lô một cái là gặp nhau được ngay thế mà hoá ra lại rất khó. Khi tôi gọi điện cho nhà văn Bảo Ninh, lúc nhà văn Bảo Ninh đi công tác nước ngoài, lúc thì Nhà văn về quê có việc dòng họ ở tận Quảng Bình, lúc thì ốm. Khi nhà văn Bảo Ninh có mặt ở Hà Nội lại đến lượt nhà văn Nguyễn Trọng Luân bận, lúc thì anh đi Tây Nguyên lo việc xây nhà bia ở Chư Bồ, rồi lại xây nhà bia ở điểm cao 1015, rồi việc của đồng đội Sư đoàn 320. Nói chung, cả 2 ông nhà văn này tuy tuổi đã cao, tưởng chừng an nhàn ở nhà thế mà chẳng mấy khi rảnh rỗi. Mãi đến hôm nay , sau đến 3 tháng hẹn hò chúng tôi mới ngồi được với nhau. Nhà văn Bảo Ninh với tôi thì rất gần gũi vì chúng tôi cùng sống, chiến đấu ở Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10 nên thường xuyên gặp nhau. Còn nhà văn Nguyễn Trọng Luân ở Sư đoàn 320, cùng Lính Tây Nguyên với tôi và Bảo Ninh, tôi nghe tên anh đã lâu nhưng mới quen thân anh khoảng 2 năm nay. Thời gian chúng tôi giao tiếp với nhau chưa nhiều nhưng tôi rất quý mến anh bởi nhân cách và tài năng của anh .
      Với độc giả Việt Nam, tên tuổi nhà văn Bảo Ninh đã trở nên quá quen thuộc, anh không chỉ nổi tiếng ở trong nước mà còn khá nổi tiếng trên văn đàn thế giới. Anh là nhà văn duy nhất của Việt Nam cho đến nay nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Châu Á. Tác phẩm NỖI BUỒN CHIẾN TRANH của anh đến nay được phát hành tới 16 nước trên thế giới, được Hội đồng dịch giả thuộc Hội nhà văn Anh đánh giá là tiểu thuyết đương đại viết về đề tài chiến tranh hay nhất và được xếp thứ 37 trong số 50 tác phẩm xuất sắc nhất dịch sang tiếng Anh nửa thế kỷ qua như : CHIẾN TRANH VÀ HOÀ BÌNH, TRĂM NĂM CÔ ĐƠN, NHÀ THỜ ĐỨC BÀ PA RI ...
Cùng xuất thân từ lính trinh sát , Bảo Ninh là trinh sát của Trung đoàn 24, Sư đoàn 10 , còn Nguyễn Trọng Luân là trinh sát của Trung đoàn 64 - Sư đoàn 320. Nhà văn Nguyễn Trọng Luân tuy không có tác phẩm được giải cao như nhà văn Bảo Ninh nhưng anh cũng có nhiều tác phẩm được nhận giải thưởng: Giải tư cuộc thi truyện ngắn và ký trên tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2012 – 2013; Giải nhì cuộc thi truyện ngắn và ký trên tạp chí Cửa Việt năm 2012; Giải nhà văn xuất sắc trong năm của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2007 – 2008. Nguyễn Trọng Luân không chỉ sáng tác văn xuôi mà anh còn sáng tác cả thơ, nhạc, kịch. Đến nay anh đã có tới 12 đầu truyện. Văn của Trọng Luân nhẹ nhàng mà sâu sắc. Cách viết, cách kể của anh cứ như chơi chơi nhưng rất cuốn hút người đọc. Anh không viết theo kiểu “hô khẩu hiệu” một cách sáo rỗng, nhàm chán mà chân thật và thấm đẫm chất nhân văn. Bài nào của anh tôi đọc cũng cảm nhận được một nỗi đau thời đại, nỗi xót thương đến tột cùng đối với anh em, đồng đội và một nỗi thương cảm bao la đối với số phận thiệt thòi, bi thảm của những nạn nhân chiến tranh.
    Cũng lấy làm lạ, thường các ông nhà văn, nhà thơ ngồi với nhau là trên trời, dưới biển chuyện văn chương, thế mà chúng tôi ngồi với nhau, không ai đả động gì chuyện văn chương, rặt chuyện lính. Nhà văn Nguyễn Trọng Luân bảo: Cũng là lính nhưng lính Tây Nguyên vẫn có một cái gì đó khác biệt với lính ở chiến trường khác, chỉ cần nhìn cách họ đào hầm, cách họ cắm cọc đun nấu cũng biết ngay là Lính Tây Nguyên. Đúng vậy! Có lẽ do chiến trường ở đây khắc nghiệt quá nên người lính Tây Nguyên phải thích nghi với hoàn cảnh để tồn tại. Chính vì vậy cái gì người lính Tây Nguyên cũng biết làm và làm thành thạo, từ việc dựng nhà, tăng gia , làm nương rẫy, đan lát đến khâu vá ... tất tật . Đặc biệt là ca cóng thì rất tài. Họ có thể vừa hành quân mà vẫn nấu được cơm, dừng nghỉ một lát là có thể chặn suối bắt cua, bắt cá cải thiện bữa ăn ngay. Nghe tiếng pháo địch bắn biết là tiếp tục đi hay nằm, nhìn bom địch thả từ máy bay biết nó nổ chỗ mình hay rơi chỗ khác. Nói chung họ là những người lính rất năng động, tháo vát.
    Nhớ lại những ngày ở Tây Nguyên, nhà văn Bảo Ninh bảo : Sao những ngày sống ở Tây Nguyên mình chịu đựng giỏi thật, bao nhiêu là khó khăn, gian khổ vẫn chịu đựng được. Riêng chịu đựng sốt rét thôi cũng đã thấy ghê rồi. Tôi mấy lần phải đi Viện 211 vì sốt rét. Có lần bị sốt rét ác tính, cận kề cái chết, phải điều trị hàng tháng trời. Nghĩa trang của Viện 211 hồi đó có tới hàng ngàn bộ đội ta chết, chôn ở đây, trong đó có khá nhiều người chết do sốt rét, không hiểu số anh em này sau đã chuyển về nghĩa trang Liệt sỹ chưa? Nhà văn Nguyễn Trọng Luân thì kể: Vào tới chiến trường tôi tưởng được ra Mặt trận ngay, ai dè cả Tiểu đoàn phải đi làm nhiệm vụ thu hoạch sắn tận 2 tháng trời, tiêu chuẩn được 2 lạng gạo mỗi ngày, còn toàn sắn. Sau này mới hiểu sắn đối với bộ đội Tây Nguyên quan trọng như thế nào. Có một sự kiện nhà văn Nguyễn Trọng Luân kể bây giờ tôi mới được biết. Anh bảo: Khoảng hơn 9 giờ sáng ngày 30/4/1975, Trung đoàn 64 của anh đang ở khu vực Cầu Bông ( cầu An Hạ bây giờ ) thì nhận lệnh của Quân đoàn cơ động cấp tốc đánh thẳng vào Dinh Độc Lập. Phó chính ủy Quân đoàn Phí Triệu Hàm trực tiếp chỉ huy cánh quân này. Đến ngã tư Bảy Hiền do đường tắc, mũi Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 đánh theo đường Lê Văn Duyệt, mũi Tiểu đoàn 8 tiến theo đường Võ Tánh, Trương Minh Giảng. Chừng hơn 10 giờ, mũi đi đầu của Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 tiến tới khu vực phía sau Dinh Độc Lập. Vào thời gian đó, Quân đoàn 2 vẫn chưa tới Dinh Độc Lập nhưng vì khu vực phía sau Dinh Độc Lập địch lập nhiều lô cốt, ụ súng chúng chống trả quyết liệt. Cánh quân của Tiểu đoàn 7 và 9 đánh nhau ở đây mất khá nhiều thời gian nên khi vào được Dinh Độc Lập thì Quân đoàn 2 đã chiếm xong rồi. Hoá ra ngày 30/4/1975 , Quân đoàn 3 có tới 3 cánh quân đánh vào 3 mục tiêu quan trọng nhất Sài Gòn (Sư đoàn 10 có Trung đoàn 24 đánh Sân bay Tân Sơn Nhất, Trung đoàn 28 đánh Bộ Tổng Tham mưu, Sư đoàn 320 có Trung đoàn 64 đánh Dinh Độc Lập). Thế mới biết Tướng Vũ Lăng thật sắc xảo và quyết đoán , chỉ tiếc ông chưa gặp thời .

Nhắc tới cuộc chiến ở Cam Pu Chia, nhà văn Bảo Ninh thắc mắc. Anh bảo: Vừa rồi tôi có đọc bài viết của anh gửi cho tôi ( bài tôi viết về cuộc chiến ở CPC ), không hiểu mình đánh đấm thế nào mà quân mình lại hy sinh nhiều như thế nhỉ? Quân Miên có gì ghê gớm đâu! tôi thật sự không hiểu nổi! Nghe nhà văn Bảo Ninh thắc mắc , nhà văn Trọng Luân kể : Một lần tìm tư liệu để viết bài , tôi được biết suốt những năm đánh Mỹ - Ngụy, Trung đoàn 64 của tôi hy sinh khoảng hơn 800 người, thế mà đánh Miên chưa đầy 2 năm, Trung đoàn của tôi hy sinh hơn 2800 người ! Thật quá sức tưởng tượng . Với tôi người trực tiếp tham gia cả hai cuộc chiến nên tôi hiểu rõ điều hai nhà văn thắc mắc. Hoàn cảnh cuộc chiến ở CPC hoàn toàn khác cuộc chiến trước đây mà 2 anh đã tham gia. Cuộc chiến này ta không có hậu phương liền kề. Ta phải đối phó với một cuộc chiến mới, một kiểu đánh mới. Kẻ địch vừa ở phía trước, vừa ở cả phía sau. Ngày trước đánh Mỹ - Ngụy, lính ở phía sau là yên tâm, là an toàn. Còn đánh nhau ở CPC thì ở phía sau cũng không an toàn. Rất nhiều lần các bộ phận đi sau bị tập kích. Sư 10 của tôi có lần lực lượng hậu cần, vận tải, quân y đi sau bị chúng tập kích, cháy gần chục xe, bị thương và hy sinh tới dăm chục, đến cả Tư lệnh Quân đoàn đi ở phía sau cũng còn hy sinh nữa là lính. Cuộc chiến ở CPC là vậy. Một cuộc chiến mà chúng ta phải trả cái giá rất đắt.
      Lan man chuyện, chúng tôi quay sang chuyện cuộc chiến ở biên giới phía Bắc. Tôi bảo cuối năm 1985 ,Sư đoàn 31 của Quân đoàn mình cũng lên tham chiến ở Hà Giang , Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10 cũng có một tiểu đoàn lên đây tháng 3/1986 . Nhiều đồng đội Quân đoàn 3 cũng đổ máu hy sinh tại đây . Cuộc chiến ở biên giới Hà Giang kéo dài suốt từ 1984 sang tới năm 1986 mà người dân  trong nước như mình hầu như không biết gì . Sau này mới biết cuộc chiến ở đây thật ác liệt . Bộ đội ta hy sinh có tới hàng ngàn . Cũng chuyện biên giới phía Bắc . Tôi kể: tôi vừa có chuyến đi thăm tuyến vành đai biên giới phía Bắc. Khi đến Đài tưởng niệm Pò Hèn, nơi có các cô gái ở lâm trường Hải Ninh - Quảng Ninh và các chiến sỹ đồn biên phòng hy sinh khi đánh nhau với quân Trung Quốc tháng 2/1979. Đến đây thấy vắng vẻ, hiu quạnh, thương thương làm sao. Trong khi Đài tưởng niệm các cô gái ở ngã 3 Đồng Lộc quanh năm có người đến thắp hương, thăm viếng. Có thể ở đây một phần đường xá chưa thuận tiện, nhưng cái chính là sự đầu tư của Nhà nước và công tác truyền thông về địa danh này còn quá ít. Rất nhiều người dân trong nước không biết đến Đài tưởng niệm Pò Hèn . Theo tôi đây mới là nơi Nhà nước cần quan tâm đầu tư và thông tin nhiều hơn nữa để ngàn đời sau con cháu chúng ta không bao giờ quên kẻ gây ra cuộc chiến này .
     Vẫn lan man chuyện về Lính, chả mấy chốc trời đã sang chiều. Cơn mưa bất chợt làm trời Hà Nội dịu hẳn đi sau mấy ngày oi bức. Chúng tôi chia tay nhau nhưng dư âm của những câu chuyện tản mạn về Lính vẫn để lại trong lòng tôi một nỗi niềm khó tả.

Từ trái sang: Nhà văn Bảo Ninh, nhà văn Trọng Luân, Nguyễn Đình Thi

    

ANH HÙNG - LIỆT SỸ TRẦN MINH SUNG

KỶ NIỆM 71 NĂM  NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SỸ ( 27/7/1947 - 27/7/2018 )

ANH HÙNG - LIỆT SỸ TRẦN MINH SUNG
                                         Nguyễn Đình Thi

Liệt sỹ Trần Minh Sung sinh năm 1956 , người dân tộc Mường ở xã Trung Sơn , huyện Yên Lập , tỉnh Phú Thọ , thuộc Trung đoàn 24 , Sư đoàn 10 , Quân đoàn 3 . Sung là anh cả trong một gia đình có tới 9 anh em . Trình độ văn hoá chỉ có lớp 4 nhưng trước lúc nhập ngũ , Sung là giáo viên dạy vỡ lòng ở thôn , vì ở quê Sung thời điểm đó văn hoá lớp 4 cũng là cao lắm rồi . Nhà đông anh em lại là anh trai cả , các em còn bé lít nhít , trong đó có tới 3 người em bị mù bẩm sinh nên dù mảnh khảnh , nhỏ con song việc gì cũng đến tay Sung , từ làm ruộng , đi rừng , rồi việc nhà , Sung tỏ ra rất đảm đang . Sung rất giỏi săn bắn và đánh bẫy . Em trai Sung kể : Thời ấy quê em nhiều thú rừng lắm . Lợn rừng , Hươu , Nai có lần về tận gần nhà , có hôm anh Sung đánh bẫy được cả con nai . Tháng 4/1974 , Sung nhập ngũ . Sau 6 tháng huấn luyện ở Miền Bắc , đầu tháng 1/1975 , Sung vào tới chiến trường Tây Nguyên và bổ sung về đại đội 2 của tôi , lúc đó tôi là Chính trị viên phó Đại đội , còn Sung là chiến sỹ B40 . Sung mảnh khảnh , hiền lành và ít nói . Trận đầu tiên Sung tham chiến là trận cùng đại đội tôi đánh vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 địch ở thị xã Buôn Ma Thuột . Đây là một trận đánh rất ác liệt . Sáng ngày 11/3/75 , khi đang đánh theo trục đường 429 tiến về Sở chỉ huy Sư đoàn 23 thì một xe bồn chở xăng của địch chắn ngang đường trúng đạn , bốc cháy dữ dội buộc đại đội tôi phải đánh vòng sang bên trái đường 429 . Đây là khu vận tải của Liên đoàn 350 . Chiếm được khu vận tải , đại đội tôi đánh ngoặt ra trục đường 429 để tiến về Sư bộ Sư 23 . Khi ra tới gần đường 429 , Trần Minh Sung phát hiện một khẩu đại liên của địch đang bắn như vãi đạn chặn quân ta từ hướng đường 429 tiến lên . Do từ phía sau tiến đến , và do tiếng súng giữa ta và địch bắn nhau loạn xạ nên tên địch bắn đại liên không phát hiện ra Trần Minh Sung đang ở phía sau mình . Sung giương B40 lên định bóp cò nhưng vì tên địch quá gần và ngay phía sau lưng Sung có bức tường nhà , nếu bắn B40 luồng lửa phía sau hất lại rất nguy hiểm . Nghĩ vậy , Sung quăng khẩu B40 xuống đất , bê vội hòn đá to như hòn gạch cạnh chỗ đứng , choảng mạnh vào đầu tên địch . Tên địch chết tại chỗ. Lập tức Sung quay ngược khẩu đại liên về hướng địch xiết cò , diệt thêm nhiều tên địch , hỗ trợ cho quân ta từ phía sau tiến lên chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 23 . Sau trận này Sung được tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng 3 . Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra . Cuối tháng 12/1977 , Sung cùng đơn vị ra Mặt trận với cương vị Tiểu đội trưởng . Trong vòng chưa đầy 3 tháng chiến đấu (từ cuối tháng 12/1977 đến tháng 3/1978 ), từ cương vị tiểu đội trưởng , Trần Minh Sung đã được bổ nhiệm giữ chức đại đội trưởng đại đội 10 - tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 . Đêm 29/2/1978 , Tiểu đoàn 6 của Trần Minh Sung vào chốt giữ ở bản PLon - CPC . Địch dùng cả một Trung đoàn bao vây . Chúng cắt đứt đường liên lạc từ phía sau lên và tấn công liên tục vào các vị trí chốt của Tiểu đoàn . Riêng chốt của Đại đội Sung chúng tấn công liên tục suốt ngày đêm , Sung vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị đánh bật các đợt tấn công của địch , giữ vững trận địa . Ngày 3/3/1978 , chốt của Đại đội 9 ở phía trên cùng của Tiểu đoàn bị địch vây tròn 3 ngày liền và có nguy cơ bị chúng tiêu diệt hoàn toàn . Vũ khí , lương thực , nước uống không thể tiếp tế lên được . Trong khi đó địch vẫn tiếp tục hò hét tấn công lên với ý đồ bắt sống lực lượng Đại đội 9 còn lại . Trần Minh Sung lúc này được Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu Sờ giao cho nhiệm vụ tổ chức một lực lượng phối hợp với C11 và C12 lên giải vây cho Đại đội 9 . Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn vì quân địch đã chiếm được nhiều vị trí chốt của ta , mặt khác lực lượng địch lúc này rất đông . Tình hình lúc đó không phải không có người dao động , kể cả cán bộ , nhưng Sung không sợ nguy hiểm , dẫn đầu đội hình xông lên chiến đấu . Khi tiến cách chốt Đại đội 9 chừng gần 100m thì số anh em đi cùng Sung hầu hết bị thương và hy sinh , chỉ còn lại anh và 2 đồng chí , anh động viên anh em và gom hết số vũ khí súng đạn của anh em bị thương và hy sinh lại tiếp tục chiến đấu . Lúc thì Sung dùng M79 , lúc thì Sung dùng B40 , B41 , lúc thì dùng AK đánh trả quân địch , diệt hàng chục tên . Lúc này Sung cũng dính đạn địch , bị thương ở vai , ở chân máu ra nhiều nhưng anh không hề nào núng , vẫn tiếp tục nổ súng đánh trả quân địch .Trận chiến kéo dài hàng tiếng đồng hồ , mỗi lần địch xông lên lại bị Sung đánh bật trở lại . Biết không thể bắt sống được Sung , địch tập trung hỏa lực ĐKZ bắn trực tiếp vào nơi Sung đang nổ súng và anh đã anh dũng hy sinh . Trong vòng hơn 1 tháng , trên cương vị đại đội trưởng ( từ tháng 2/1978 đến 3/3/1978 ) anh đã chỉ huy đại đội bắn cháy 2 xe tăng , diệt 150 tên địch , thu hơn 20 súng , bản thân Trần Minh Sung diệt 21 tên , thu 4 súng . Sau trận đánh này anh được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 2 . Ngày 28 tháng 8 năm 1981 , Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Liệt sỹ Trần Minh Sung.
37 năm yên nghỉ tại nghĩa trang Tây Ninh, năm 2015, Liệt sỹ Trần Minh Sung đã được chính quyền huyện Yên Lập đưa về yên nghỉ tại nghĩa trang quê nhà. Chỉ tiếc sau giải phóng, mãi tới năm 1977, trong đợt ra nhận quân ở Hà Nam Ninh, Sung chỉ được ghé qua nhà đúng 2 đêm, 3 ngày, chưa kịp cưới cô người yêu từ lúc chưa nhập ngũ mà 2 gia đình đã ăn hỏi rồi trở về đơn vị chiến đấu và hy sinh.

NĐT

Ảnh: LS Trần Minh Sung

    

HƯƠNG TIẾC MỘT TÀI NĂNG QUÂN SỰ

KỶ NIỆM 71 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SỸ ( 27/7/1947 - 27/7/2018 )

THƯƠNG TIẾC MỘT TÀI NĂNG QUÂN SỰ 
                                 Nguyễn Đình Thi 
     
   Đại tá Trương Hồng Anh -  sinh năm 1948 , tại Quảng Ngãi . Là Sư trưởng Sư đoàn 2 - Quân khu 5 , một Sư đoàn nổi tiếng với 2 lần Anh hùng của Quân đội ta . Năm 31 tuổi anh đã là Sư đoàn Phó . Năm 35 tuổi anh là Sư đòan trưởng . Một Sư trưởng trẻ nhất của Quân đội ta tại thời điểm đó .  Trưởng thành rất nhanh qua chiến đấu , từ người lính đến người chỉ huy cấp Sư đoàn trưởng trong vòng chưa đầy 20 năm . Trong những năm chiến đấu ở CPC , Sư đoàn 2 dưới sự chỉ huy của anh đã lập nhiều chiến công rất xuất sắc . Tiêu diệt nhiều cụm cứ điểm địch ở khu vực ở phía Prech Vi Hia . Anh thật sự là một vị chỉ huy tài giỏi , dũng cảm , một tài năng quân sự của Đất nước . Tiếc thay tài năng của anh đang nở rộ thì anh hy sinh . Trên đường kiểm tra các đơn vị chiến đấu ở Prech Vi Hia - CPC , xe của anh trúng mìn địch . Hàng trăm người lính túc trực sẵn sàng truyền máu để cứu người chỉ huy của mình nhưng vết thương của anh quá nặng , anh đã hy sinh ngày 2/4/1984 . Từ một người lính đến người chỉ huy Sư đoàn anh Trương Hồng Anh đã đánh rất nhiều trận và lập nhiều chiến công xuất sắc , được tặng thưởng nhiều Huân chương các loại . Anh rất xứng đáng được truy tặng ANH HÙNG , nhưng đến nay 34 năm đã trôi qua, không hiểu vướng mắc ở khâu nào Liệt sỹ Trương Hồng Anh vẫn chưa được truy tặng ANH HÙNG . Thật buồn !  Ngày anh hy sinh con gái duy nhất của anh - Trương Khánh Hồng vừa tròn 2 tuổi . Suốt 34 năm qua không phút nào Trương Khánh Hồng không nhớ tới Ba và nơi Ba mình đã hy sinh ở CPC . Vừa qua 2 mẹ con Khánh Hồng đã lặn lội sang tận nơi ba hy sinh ở một vùng rừng núi Prech Vi Hia - CPC .  Nhân kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ  , trang Lính Tây Nguyên và trang Website banchiendaub3.com.vn xin gửi tới bạn đọc trích đoạn phim BA TÔI của VTV8 , như một nén tâm nhang tưởng nhớ tới Liệt sỹ Trương Hồng Anh - Sư trưởng Sư đoàn 2 anh hùng và chia sẻ nỗi đau buồn tới chị Khánh Hà , cháu Khánh Hồng - vợ và con liệt sỹ Trương Hồng Anh . Cũng xin thông tin thêm để bạn đọc trang Lính Tây Nguyên biết , Liệt sỹ Trương Hồng Anh là con rể Thiếu tướng Trần Giang - nguyên Chính ủy Sư đoàn 10 .


    

MỘT MÌNH 13 NGÀY SỐNG TRONG VÒNG VÂY QUÂN THÙ

KỶ NIỆM 71 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SỸ ( 27/7/1947 - 27/7/2018 )
Nguyễn Đình Thi  ( ghi theo lời kể của Trung đội trưởng Trần Văn Quý , C9/E24 . Quê Quyết Tiến - Xuân Viên - Yên Lập - Phú Thọ 

Phần 2 :   TRỞ VỀ 

 Sẩm tối ngày thứ 13 , vẫn đang mê man do đói và sốt , tự nhiên tôi thấy lạnh khắp người , thì ra một cơn giông lớn kèm theo mưa , nước tràn vào chỗ nằm làm tôi tỉnh lại . Quan sát , tôi thấy trời mưa rất to , gió thổi rất mạnh . Tôi nghĩ có lẽ đây là cơ hội cho mình trở về Việt Nam . Mặc dù người lúc này vẫn rất mệt nhưng sự nung nấu trở về Việt Nam bao ngày nay như tiếp cho tôi thêm một sức mạnh . Tôi quyết định sẽ ra đi . Nhưng đi như thế nào đây ? vì xung quanh tôi lúc này chỗ nào cũng có địch .  Khó khăn nữa với tôi lúc này là vẫn chưa xác định được chính xác lối về Việt Nam , khu vực tôi đang nấp địa hình bằng , cây cối xung quanh rất giống nhau nên rất khó phân biệt hướng , không cẩn thận lại đi về hướng địch thì rất nguy hiểm . Tuy vậy tôi vẫn quyết tâm , dù nguy hiểm cũng đi , còn nằm lại ở đây trước sau cũng chết , không chết vì đói , vì khát , vì vết thương thì cũng chết vì địch .  Để có thêm sức tôi lấy mấy lá mua dự trữ ra ăn , quả Loọng thì hết từ mấy hôm trước rồi . Thấy gần chỗ tôi nằm có mùn đất con giun đùn lên , nghĩ ăn được tôi lấy tay bới rồi nhón một chút cho vào mồn ăn thử , khi đưa vào mồn nhai thấy sạn và đắng quá , nuốt không nổi đành nhè ra .   Mấy cây mua gần chỗ tôi nằm còn ít lá tôi vẫn để dự trữ ăn dần , chưa dám hái hết giờ tôi bứng sạch đem theo . Đứng giữa trời mưa , sấm chớp ầm ầm tôi cầu khấn tổ tiên , bố mẹ , đồng đội phù hộ cho tôi bình an trở về Việt Nam . Lúc này trời mưa mỗi lúc một lớn , gió vẫn thổi mạnh . Những hạt mưa to quất vào mặt , vào vết thương đau điếng , tôi cắn chặt răng để không bật ra tiếng kêu . Nhưng có lẽ cũng nhờ trời mưa đã làm cho tôi khỏe ra sau bao ngày khát nước . Tôi căng mắt quan sát các vị trí của địch , lúc thì bò , lúc thì lom khom đi . Đêm đầu tháng không có trăng , trời rất tối nhưng nhờ vào ánh chớp của cơn mưa nên tôi nhìn thấy các vị trí chốt của chúng , có những chỗ tôi phải vòng tránh , nhưng có những chỗ không thể vòng tránh được , đành liều đi lom khom giữa 2 hầm chốt của địch , tôi cố bước những bước thật nhẹ để chúng không nghe thấy , thỉnh thoảng những ý nghĩ về bọn Miên sát hại bộ đội ta một cách man rợ lại le lói xuất hiện trong tôi làm tôi ghê ghê , bọn này hành xử như thời Trung Cổ , khi bắt được bộ đội ta chúng thường dùng búa hoặc rìu đập cho đến chết chứ không bắn . Hôm trước chốt ở đây , ngồi trong hầm tôi nghe rõ tiếng đồng đội kêu khi bị chúng sát hại , uất hận và đau xót làm sao mà không làm gì được vì bọn chúng quá đông . May quá đêm nay trời mưa to và về đêm nên chúng chui hết vào hầm chứ nếu hôm nay trời không mưa to thì không thể qua mắt bọn chúng được . Tầm 9 giờ  đêm tôi ra tới khu vực cửa mở  , tôi nhận ra cửa mở vì  nơi này có một bụi cây và 2 cái hầm mà trung đội tôi chốt những ngày qua . Tựa người vào một gốc cây , tôi định lại hướng về Việt Nam . Đúng rồi lối mòn kia , chỗ có con hào ngang mà hôm trước tôi cùng đơn vị đã đi vào , cứ theo đường này sẽ về tới Việt Nam . Xác định được hướng về Việt Nam trong lòng tôi như trút được một gánh nặng , thế là chặng đường nguy hiểm nhất đã vượt được qua , nhưng khó khăn vẫn còn rất nhiều , cơ thể tôi lúc này quá mệt , chân tay rã rời do đói , do kiệt sức lâu ngày chẳng muốn bước thêm một bước nào nữa nhưng bản năng sống cũng như khát khao trở về lại thúc giục tôi phải vùng lên . Tôi tiếp tục đứng lên đi . Từ cửa mở này về tới biên giới Việt Nam hôm trước chúng tôi đi vào mất gần 2 giờ đồng hồ , khoảng 5km . Khu vực này là bãi trống và là khu vực giáp gianh giữa ta và địch nên có rất nhiều mìn của cả ta và địch gài . Vừa bò , tôi vừa thận trọng khua nhẹ 2 tay ra phía trước để phát hiện dây mìn vướng của địch , loại mìn này chỉ sơ ý chạm mạnh vào dây vướng là toi đời ngay , nên buộc tôi phải hết sức nhẹ nhàng , có những chỗ tôi phát hiện chúng gài cả lựu đạn , định gỡ kiếm một quả để phòng thân nhưng lựu đạn chúng gài thành từng chùm , sợ nguy hiểm tôi đành thôi . Đêm hôm đó trời mưa rả rích suốt đêm , do ngấm nước mưa lâu nên cơ thể tôi có lúc rét run . Nhiều lúc mệt quá cộng với sốt do vết thương ngấm nước mưa làm tôi lả đi không biết gì , tỉnh lại tôi lại động viên mình phải cố gắng , nếu không cố gắng , trời sáng khu vực này trống trải địch phát hiện thì cực kỳ nguy hiểm . Cứ thế suốt đêm lúc nào mệt quá thì bò , đỡ mệt thì đi . Tảng sáng tôi nhận ra đã về tới Ngầm tăng ( Ngầm tăng là một cái ngầm cách Xa Mát - Huyện Tân Biên chừng vài km , để cho xe tăng ta vượt qua , bộ đội ta đã lấy gỗ lát nên . Từ đó có tên là Ngầm tăng ) ,  khu vực này tôi biết cách biên giới ta không còn xa . Chính nơi này tôi cùng đơn vị tập kết ban đầu vào chiếm lĩnh trận địa . Khu vực này mới có mấy ngày mà giờ tang hoang quá , không biết có còn đơn vị nào của ta ở gần đây không ? Mệt quá tôi chui vào một chiếc hầm ven đường nghỉ . Vừa chui vào hầm thì thấy tiếng nhiều loạt đạn AK bắn về phía tôi .  Chả lẽ địch phát hiện ra mình ? Tôi nằm im và đinh ninh hôm nay là ngày tận số của mình . Nằm trong hầm tôi vẫn chăm chú lắng nghe xem có động tĩnh gì tiếp theo không . 20 phút trôi qua không thấy gì , tôi thấy bớt lo một chút . Một lúc sau thấy trời sáng rõ . Tôi quyết định bò ra khỏi hầm , bò được một đoạn , thấy một mô đất tôi dừng lại quan sát , tôi nghe có tiếng người thì thào to nhỏ , nhưng do tôi bị hỏa lực địch bắn nổ gần , tai bị chảy nước nên nghe không rõ . Chẳng nhẽ bọn địch chốt ở đây ?  Chừng 10 phút sau tôi nghe tiếng thì thào xa hơn và nghe có tiếng Việt Nam gọi : Anh Thường ơi ! Về chỉnh pháo đi , pháo nó bắn vào mình đấy ! rồi tiếng xoong , nồi va vào nhau và tiếng một người gọi : - Các A cho người xuống lấy cơm ! . Tôi cố nghiêng đầu rũ nước còn đọng trong tai để nghe cho rõ . 3, 4 lần tiếng gọi đó vẫn lặp đi , lặp lại nhưng lúc này tôi vẫn chưa xác định được quân mình hay là địch , vẫn phải đề phòng vì bọn lính Pôn Pốt thỉnh thoảng chúng vẫn nói tiếng Việt Nam , nhưng theo phán đoán của tôi thì tiếng gọi các A lấy cơm và câu : pháo nó bắn vào mình chắc là quân ta nhiều hơn . Tôi quyết định dời khỏi chỗ nấp , đi về phía có tiếng vừa gọi . Vừa đi được một đoạn thì đột nhiên thấy một chiến sỹ của ta dậy sớm đi vệ sinh , đi về phía tôi , người chiến sỹ đó rất hốt hoảng khi nhìn thấy tôi . Tưởng địch , chiến sỹ đó chạy quay lại chắc là để lấy vũ khí . Thấy vậy tôi vội kêu lên :
Đồng chí ơi ! Tôi đây ! Tôi C9 , E24 đây ! Nghe tiếng tôi kêu , người chiến sỹ đó quay người lại nhìn tôi , hỏi :
E24 phải không ?
Đúng rồi ! Tôi E24 , đánh nhau ở Phờ Loon bị lạc . May quá chiến sỹ này sáng dậy đi vệ sinh không mang vũ khí chứ sáng hôm đó chiến sỹ này mang theo vũ khí chắc tôi cũng toi đời . Thấy tôi từ đất Miên trở về mọi người ùa cả đến hỏi thăm . Thì ra đây là khu cực chốt của C9/E66 . Một niềm vui không sao tả xiết trào dâng trong tôi . Tôi biết cuộc đời tôi được cứu sống từ đây
                                                                                                               Nguyễn Đình Thi

Trần Văn Quý - C9 - E24 

    

MỘT MÌNH 13 NGÀY SỐNG TRONG VÒNG VÂY QUÂN THÙ

KỶ NIỆM 71 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SỸ ( 27/7/1947 - 27/7/2018 )
Bị thương rồi bị lạc , không vũ khí , không lương thực , thực phẩm , không nước uống , không thuốc men . Một mình 13 ngày sống trong vòng vây quân thù trên đất CPC . Trần Văn Quý - Trung đội trưởng thuộc C9/D6/E24 , quê Quyết Tiến - Xuân Viên - Yên Lập - Phú Thọ đã sống và trở về Việt Nam như thế nào ? Mời các bạn xem bài viết dưới đây của Nguyễn Đình Thi.
MỘT MÌNH 13 NGÀY SỐNG TRONG VÒNG VÂY QUÂN THÙ
Nguyễn Đình Thi 
(Ghi theo lời kể của Trung đội Trưởng Trần Văn Quý - C9/D6/E24 , quê Quyết Tiến - Xuân Viên - Yên Lập - Phú Thọ)
Bị thương ở mắt , tôi phải trở về hầm y tá băng bó vết thương , nhưng địch vẫn tiếp tục tấn công vào chốt của Đại đội , tôi lại bị tiếp một mảnh đạn ĐKZ xuyên qua hàm . 4 ngày qua đại đội tôi cùng Tiểu đoàn chốt giữ ở đây - bản Pờ Lon ( CPC ) bị địch bao vây vo tròn . Nhìn xung quanh chỗ nào cũng thấy lố nhố địch . Mấy lần Tiểu đoàn tổ chức giải vây cho Đại đội tôi nhưng vẫn không thành . Hôm vào đây đêm 29/2/1978 , quân số đại đội tôi là 86 người , đến hôm nay 4/3/1978 , mới có 4 ngày , Đại đội giờ chỉ còn 16 người . Sáng nay 4/3/1978 , trời chưa sáng , địch lại hò hét , nổ súng tấn công vào chốt chúng tôi . Đạn địch nổ tứ phía . Biết không thể cầm cự được nữa vì người còn ít , súng đạn còn lại không đáng là bao . Tôi bàn với anh Quyền đại đội trưởng :
- Không thể giữ được nữa đâu anh , ở lại đây sẽ chết hết ! Giờ em chạy ra hướng cửa mở , hút địch về hướng đó . Anh cùng anh em còn lại rút theo hướng khác !
Nói xong , tôi lao lên khỏi hầm chạy về hướng cửa mở nơi có Kỷ và Ngọc của Trung đội tôi đang chốt giữ ở đó , kêu lớn :
- Kỷ ơi ! Ngọc ơi ! rút thôi ! mọi người bắt đầu rút rồi ! Tôi cố kêu thật to để Kỷ và Ngọc biết vì trước đó không có cách nào báo cho Kỷ và Ngọc được .
Phát hiện tiếng tôi kêu và chạy , địch quay súng hướng về phía tôi , bắn như vãi đạn . May quá tôi không dính một viên đạn nào . Chạy thêm chừng 200m thì mệt quá không thể chạy được nữa , thấy một bụi le to bị đạn đổ rạp , tôi chui vội vào trong đó nằm , vơ vội ít lá ở ngoài nấp lỗ vừa chui vào và phủ một ít lá lên người để chúng không nhìn thấy . Nằm trong bụi le tôi nghe rõ tiếng chân bọn chúng đi lùng sục ở phía ngoài , tôi nghĩ phen này mình chắc chết , nhưng may làm sao chúng không phát hiện ra tôi nằm trong đó . Chiều hôm đó chúng lại đi lùng sục , tới bụi le chỗ tôi nằm chúng bắn một loạt đạn , do chúng bắn hơi cao tôi lại nằm sát đất nên may quá tôi không sao . Cả ngày hôm đó tôi vẫn nằm im trong bụi le . Tôi biết thế là mình đã nằm trong vòng vây quân thù rồi ! Bao nhiêu ý nghĩ , bao nhiêu câu hỏi cứ xoay quanh tôi . Làm thế nào để thoát được chúng trở về Việt Nam ? Làm thế nào để sống trong những ngày tới ? vì trong tôi lúc này không có một thứ gì ! Vũ khí không , lương thực không , nước không , trong khi vết thương của tôi vẫn rỉ máu , đau nhói . 3 ngày đầu tôi phải nằm im trong bụi le đổ , không dám ra ngoài vì địch liên tục đi lùng sục . Cái đói , cái khát lúc này cũng hành tôi thật dữ dội . Bụng tôi lúc thì réo lên , lúc thì như có ai cào cấu , đầu óc quay cuồng lúc nào cũng nghĩ đến cơm , đến nước . Môi tôi cũng bắt đầu khô , họng rát như phải bỏng , tôi bắt đầu phải dùng nước tiểu của mình để uống , nhiều lúc đói quá tôi lả đi không biết gì . Đêm thứ 3 tôi quyết định bò ra ngoài xem có kiếm được cái gì ăn và uống không , may mắn làm sao cách chỗ tôi nằm chừng 15m có cây Loọng bị cháy dở ,một số quả rụng xuống đất ( quả Loọng giống quả Thổ của Việt Nam , to gần như nắm tay , ăn có vị chua chua , ngọt ngọt ) , gần đó có mấy cây mua bị đạn còn trơ một vài cành với ít lá , tôi vơ vội những quả Loọng rụng và ngắt nốt số lá mua còn sót lại , cất vào chỗ nằm để dự trữ . Lấy được ít quả Loọng và lá mua rồi song tôi không thể nhai được do xương hàm bị đạn , tôi đành lấy tay chà nát quả Loọng và lá mua rồi đưa từng ít một vào mồn ăn . Nằm trong bụi le vừa nóng , vừa đói , vừa khát nhưng tâm trí tôi lúc nào cũng nghĩ cách tìm đường về Việt Nam . Tôi ao ước gặp được ai hoặc gặp được đơn vị nào của ta đánh sang nhưng đã 3 ngày trôi qua không thấy một tia hy vọng nào . Ngày thứ 4 do bẩn và do không có thuốc , vết thương trên má tôi bị nhiễm trùng , đã xuất hiện giòi , chúng bò lổm nhổm trên má . Nhớ ngày ở quê , mẹ tôi bảo cái gì ăn được cứ ăn , vả lại lúc này đói quá thế là tôi nhặt những con giòi đang bò trên má cho vào mồn ăn , lúc đầu nghĩ thấy ghê ghê , ăn thử một con thấy béo béo , thế là chén sạch , chẳng nghĩ gì khác . Sang ngày thứ 5 vết thương của tôi sưng tấy , rất đau . Tôi bị sốt liên tục , còn ít thuốc lào đựng trong túi ly non hôm trước Phúc bạn tôi ở Tiểu đoàn 5 cho , tôi lấy lá mua ra nhai rồi trộn lẫn thuốc lào , đắp lên vết thương , bọn giòi say thuốc lào lăn ra chết , vết thương của tôi từ hôm đó cũng đỡ dần . Những ngày tiếp theo ngày nào cũng vậy , ban ngày tôi nằm im , ban đêm tôi lại bò ra ngoài để kiếm đồ ăn và tìm đường về Việt Nam . Có đêm tôi bò ra ngoài tới 3 lần , nhưng lần nào cũng phải quay lại vì nghe thấy tiếng bọn Miên ho , đặc biệt là mùi thuốc D bọn chúng hút , cách vài chục m vẫn ngửi thấy . Tôi nhớ đêm thứ 11 hay 12 gì đó , tôi bò ra ngoài được hơn 100m thì phát hiện chiếc hầm kèo mà tôi và anh em trong đơn vị đã chốt hôm trước . Tôi chui xuống hầm xem có kiếm được vũ khí hay xem có anh em nào của ta còn ở đây không . Vừa chui vào hầm thì nghe tiếng bọn Miên sì sào từ phía sau đi tới . Phen này chắc chết ! Tôi nghĩ vậy rồi lấy 2 tay bám vào cây gỗ nóc của hầm kèo , đu treo người lên sát nóc hầm . May mắn làm sao bọn địch đi tới hầm tôi đang nấp , mỗi tên ngó vào một cửa hầm nhưng vì tôi đu người lên cao , nhìn không thấy gì chúng bỏ đi . Thật hú vía .
( Mời các bạn xem tiếp kỳ tới: TRỞ VỀ)
    

CÂU CHUYỆN TÌNH CỦA LÍNH

KỶ NIỆM 71 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SỸ ( 27/7/1947 - 27/72018 )
CÂU CHUYỆN TÌNH CỦA LÍNH
Sau hiệp định Pa ri năm 1973, chiến sự nơi Trung đoàn 24 chúng tôi bảo vệ vùng giải phóng phía Tây Bắc thị xã Kon Tum càng trở nên ác liệt . Bom pháo địch suốt ngày đêm . Cả một vùng rừng núi cây cối rậm rạp khi nào , giờ trơ trụi chỉ thấy đất đỏ lòm , chẳng ngày nào là không có thương vong . Ban tuyên huấn của tôi ở cạnh Ban chính sách nên mỗi lần các đơn vị gửi di vật của các liệt sỹ về tôi thường sang xem. Hôm đó sau trận đánh ở điểm cao 674 ngày 15/8/1973, tiểu đoàn 4 gửi về 9 ba lô di vật của các liệt sỹ. Anh Nhật - trưởng ban chính sách Trung đoàn cùng đồng chí trợ lý chính trị tiểu đoàn 4 giở ba lô di vật của liệt sỹ Nguyễn Văn Mậu quê ở huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh ra kiểm tra. Ba lô chẳng có gì ngoài một bộ quần áo cũ, mấy tấm ảnh nhỏ những người thân trong gia đình và một chiếc phong bì thư. Bì thư không dán nên tôi tò mò mở ra xem. Thật ngạc nhiên trong bì thư không có thư như các bì thư khác mà chỉ có một lọn tóc con gái chừng vài chục sợi , buột bằng một sợi chỉ để gọn ở cuối bì thư và một mảnh nhỏ giấy học trò ghi:
Anh vô vàn thương yêu của em!
Ngày mai anh đi , em không có gì tặng anh , em gửi theo anh lọn tóc này . Nó là máu thịt của em, là tình yêu của em giành cho anh, để ở bất cứ đâu , bất cứ lúc nào anh cũng luôn thấy có em bên anh .
Em yêu của anh - Hoa .
Thư vẻn vẹn chỉ có mấy dòng, lời thư thật mộc mạc nhưng chứa chan tình yêu thương bao la của cô gái giành cho người yêu ra mặt trận. Đọc những dòng thư của cô gái mấy anh em chúng tôi lặng người đi , mắt ai cũng ngấn lệ, xót xa . Chiến tranh thật ác nghiệt ! nó đã cướp đi biết bao mối tình đẹp của những đôi trai gái . Đất nước mình những năm chiến tranh có hàng triệu chàng trai lên đường ra mặt trận, cùng với đó là hàng triệu người phụ nữ ở hậu phương đợi chờ, mòn mỏi chờ chồng , chờ người yêu và không biết bao người trong số đó đã hy sinh, không trở về. Sự hy sinh của người lính ngoài mặt trận cũng đồng nghĩa với sự hy sinh tuổi xuân của các cô gái ở hậu phương, đúng như hai câu thơ của nhà thơ Trần Thế Tuyển viết :
...Con sáo sang sông vẫn là con sáo
Em đợi anh con gái hoá bà già ...
Đến bây giờ tôi mới hiểu tại sao suốt hai năm trời giữ chốt, bom, pháo địch dội triền miên vào trận địa, cái chết luôn rình rập người lính mà trận địa của Trung đoàn tôi vẫn đứng vững , thì ra nó có một sợi dây vô hình sức mạnh tinh thần của những bức thư, những sợi tóc thề và những kỷ vật nhỏ của những người thân thương từ hậu phương xa xôi
Xin cảm ơn cô gái . Xin cảm ơn tình yêu của cô giành cho những người lính chúng tôi.
Ngày xửa, ngày xưa ở Việt Nam mình đã có câu chuyện cổ tích "Hòn Vọng Phu " thật cảm động. Chuyện về những cô gái đợi chồng, đợi người yêu trong những năm đất nước có chiến tranh có khác gì câu chuyện "Hòn Vọng Phu " đâu. Đất nước mình có nhiều tượng đài, bia đá mà sao vẫn chưa có tượng đài, bia đá về sự hy sinh thầm lặng nhưng vô cùng lớn lao của những người con gái chờ chồng, chờ người yêu ngoài mặt trận. Họ rất xứng đáng có một Tượng Đài phải không các bạn !
                                                                                                   NGUYỄN ĐÌNH THI - E24
    

LỄ TRUY TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN CHO ĐẠI TÁ NGUYỄN MẠNH QUÂN VÀ ĐẠI TÁ VŨ ĐÌNH THƯỚC

ĐẢNG UỶ , BỘ TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN 3 TỔ CHỨC LỄ TRUY TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN CHO ĐẠI TÁ NGUYỄN MẠNH QUÂN VÀ ĐẠI TÁ VŨ ĐÌNH THƯỚC

Sáng nay 23/6/2018 , tại hội trường Bộ Tư lệnh Thủ đô - Thủ đô Hà Nội , Đảng ủy , Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đã tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN cho Đại tá Nguyễn Mạnh Quân - nguyên Phó Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên , nguyên Tư lệnh Cánh Đông , nguyên Sư trưởng đầu tiên của Sư đoàn 10 và Đại tá Vũ Đình Thước - nguyên Sư trưởng Sư đoàn 10 . Đây là vinh dự đặc biệt cho Sư đoàn 10 liền một lúc có 2 đồng chí Sư đoàn trưởng được truy tặng danh hiệu ANH HÙNG . Tới dự buổi Lễ có đồng chí Thiếu tướng Vũ Văn Sỹ - Tư lệnh Quân đoàn 3 , đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cường - Phó Chính ủy Quân đoàn 3 , tới dự còn có đại diện Tổng Cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam , đại biểu Bộ Tư lệnh Thủ đô và rất nhiều các Tướng lĩnh , các Cựu chiến binh là đồng đội , bạn bè và người thân của 2 gia đình Đại tá Nguyễn Mạnh Quân và Đại tá Vũ Đình Thước . Tới dự còn có đại biểu tỉnh Ninh Bình , tỉnh Hải Dương quê hương của 2 Đại tá Nguyễn Mạnh Quân và Vũ Đình Thước , tới dự đưa tin còn có truyền hình Quân đội , báo Quân đội nhân dân . Phát biểu trong buổi lễ truy tặng Danh hiệu ANH HÙNG cho Đại tá Nguyễn Mạnh Quân và Đại tá Vũ Đình Thước , Tư lệnh Quân đoàn 3 - Vũ Văn Sỹ đã nêu bật những chiến công đặc biệt xuất sắc mà đồng chí Nguyễn Mạnh Quân và đồng chí Vũ Đình Thước đã đạt được trong cuộc chiến đấu của dân tộc , nó đã góp phần xứng đáng vào chiến công của Lực lượng vũ trang Tây Nguyên và Quân đoàn 3 . Gia đình Đại tá Nguyễn Mạnh Quân và Đại tá Vũ Đình Thước rất xúc động khi được thay mặt Đại tá Nguyễn Mạnh Quân và Đại tá Vũ Đình Thước đón nhận danh hiệu cao quý này và gửi lời cảm ơn tất cả các đồng đội của Đại tá Nguyễn Mạnh Quân và Đại tá Vũ Đình Thước đã chiến đấu quên mình để gia đình có vinh dự vẻ vang này . Dưới đây là một số hình ảnh trong buổi lễ truy tặng danh hiệu ANH HÙNG cho Đại tá Nguyễn Mạnh Quân và Đại tá Vũ Đình Thước.

Tin và ảnh Nguyễn Đình Thi











    

TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN TRÊN CHỐT TIÊN TIÊU TÀ NỐT

Những ngày tháng chiến đấu gian khổ, ác liệt ở ngoài mặt trận là những ngày tháng không thể quên đối với mỗi người lính chúng ta. Để mỗi chúng ta nhớ về những ngày tháng đó, trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu với các bạn bài viết của bạn Phạm Công Vượng: TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN TRÊN CHỐT TIỀN TIÊU TÀ NỐT

TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN TRÊN CHỐT TIÊN TIÊU TÀ NỐT
       Phạm Công Vượng - Sư đoàn 320

Tờ mờ sáng, địch tấn công dừ dội cá bốn hướng. Đại đội 9 chúng tôi như nằm giữa cái cối giã giò. Hầm chữ A của tôi lung lay như đưa võng. Đạn B40, B4l, pháo các loại cứ nhằm đơn vị tôi mà rót tới. Tiếng hô "xung phong" của lính Khơme đỏ vang lên cả rừng sâu.
Trung đội trưởng lệnh cho tôi:
- Chú ý hướng hố bom.
Ngay lúc đó, tôi thoáng thấy bóng một tên áo đen. Tôi hét: "Địch"!
Anh đưa khẩu RPĐ cho tôi và bảo: "Quét đi". Tôi nhằm tên áo đen kéo cò. Súng nổ một dây dài thì tắc. Sau làn khói mỏng, tôi thấy tên địch đứng khựng lại rồi gục xuống.
Tôi liền trao súng cho anh sửa và chộp lấy khẩu AK của mình. Tôi quỳ ngay xuống mép cửa hầm và ngắm vào tên áo đen đang thập thò bên gốc cây. Súng nổ được mấy viên thì cũng "tịt" nốt. Trung đội trương gắt: "Những lúc không có địch thì lau chùi súng đi. Nhớ không đế cát rơi vào. Nghẹn đấy".
Tôi đang lóng ngóng kéo quy lát đế lấy vỏ đạn ra thì nghe anh hét:
- Đ….ị…c….h…Địch!. Một thằng Kìa, một thằng nữa.
Nhìn theo tay anh chỉ, tôi thấy một thằng địch đen sì đi chân đất đang lò dò xuống hố bom. Anh gạt tôi ra, bò lên miệng hầm, đứng thẳng người tung quả lựu đạn vể phía trước. Ném xong anh nhảy ngay xuống cửa hầm. Một tiếng nổ khô khốc vang lên nước, bùn đất vung lên tung tóe.
Tôi rê nòng súng về phía vừa có tiếng nổ. thì chợt thấy ba tên địch đang bò lên khỏi miệng hố bom, hướng thẳng về hầm chúng tôi…
Thấy tôi định bắn, anh ngăn lại và bảo: Đừng bắn! Lộ mục tiêu đấy.
- Dùng lựu đạn. Ném.
- Ném đ...i...đi…
Tôi loay hoay tháo lựu đạn ra khỏi thắt lưng nhưng không tài nào tháo được (vì khi hành quân tôi đã buộc chặt mỏ vịt lại). Chợt thấy trên miệng hầm có ba quả lựu đạn đặt giăng giăng, tôi chộp lấy một quả. Lượng thấy sức mình không ném tới miệng hố bom được, tôi nhảy lên khỏi miệng hầm, bò thêm một đoạn nữa và ném quả thứ hai về phía địch. Một tiếng nổ "ầm" vang lên. Chúng tôi cố gắng lắng nghe, nhưng tuyệt nhiên không hề nghe một tiếng động nào từ phía hố bom vọng lại. Anh nói với tôi: "Nó tiêu rồi". Cao hứng, tôi nâng AK nhằm phía vừa có tiếng "xung phong", bóp cò. Sau loạt súng vụng về của anh tân binh, hầm tôi hứng trọn một chầu đạn, đủ các loại. Từ bên kia hố bom súng AK bắn xối xả về phía chúng tôi. Rồi cối 60mm, M79 cấp tập vào trận địa. Đã mấy lần anh đè đầu tôi xuống để tránh đạn. Nhưng lần này thì chậm mất rồi. Tôi thấy trán mình ươn ướt…
Trung đội trưởng bảo: Cậu bị thương rồi, đưa anh băng cho. Rất may, mảnh đạn M79 chỉ bé bằng nửa hạt ngỏ, xuyên qua mũ cối thủng da đầu. Nhẹ thôi.
Bắn chán rồi, bọn địch cùng ngừng. Chỉ còn "xung phong" bằng mồm thôi. Chẳng tên nào dám bò lên nữa.
Tôi thấy mệt mỏi và rất khát nước. Từ trưa qua đến giờ tôi chỉ mới ăn nửa bát cơm và chưa uống hớp nước nào. Tôi không đói nhưng khát quá.
Sau trận tập kích ấy, trên mặt đất lá rừng bén lửa cháy rần rần. Cả trận địa như nằm trong cái chảo lửa khổng lồ. Hầm tôi chẳng khác gì bị hun, đầy khói bụi và mùi thuốc súng nồng nặc.
Không thở được, tôi xách AK chạy ra giao thông hào. Giao thông hào cũng đang cháy. Tôi chạy sang hầm anh Đệ, thấy cậu Sáng mình cởi trần đang vùi trong cát. Nó báo: "Trong người bây giờ như có kim châm khát quá"! Còn anh Đệ thỉnh thoảng bò ra mép hầm giơ súng lên bắn vu vơ mấy viên, như ngầm báo với quân địch rằng bọn tao đang sống, còn lâu mới chết!
Bọn giặc lửa đi qua, tôi trở lại hầm.
Cơn khát nước và cơn thèm thuốc lào hành hạ tôi. Tôi lục tung ba lô để tìm thuốc và diêm. Quái, sao chẳng thấy đâu! Tôi lắc hết bi đông này đến bi đông khác, chiếc nào cũng khô khốc, chẳng có giọt nước nào. Tôi bò ra cửa hầm phía trước, tìm thấy một chiếc bi đông nhựa. Cầm lên lắc lắc. Nghe tiếng lách sách. Mừng quá.
Tôi luống cuống mở nắp, tu ngay một ngụm. Nhưng vội nhổ nó ra ngay, rồi vứt bi đông vào góc hầm.
- Trời đất! Nước đái!
Tôi gắt Trung đội trưởng... Anh nhìn tôi cười, nụ cười trông đến lạ.
Anh bảo:
- Nước giải khát đặc biệt đấy!
Tôi hoảng hốt:
- Uống nước đái?
Anh nói với tôi:
- Thế cậu chưa uống... à? Chịu khát giỏi đấy. Còn anh đã uống từ chiều hôm qua rồi. Anh nói tiếp: "Phải đái vào đấy để mà uống dần, sợ đến lúc không còn nước đái nữa mà uống chú em ạ". Tôi chui tọt vào hầm chẳng đáp lời anh.
Cái lẽ thường tình, cái gì mà ta cố quên nó đi thì nó lại càng quay trở lại giày vò, tấn công ta. Tôi khát đến cháy cổ, cháy họng. Người như có lửa đốt. Trong khi ngồi gác, tôi nhìn lên cây trám nhỏ bên miệng hầm và phát hiện có một quả. Không biết quả trám ấy xanh hay chín. Nhưng tôi nghĩ nếu hái được nó, ăn chắc đỡ khát lắm. Tôi định trèo lên hái. Nhưng sợ địch phát hiện "tỉa" tôi rụng, nên thôi. Ngồi gác mà mắt không rời quả trám. Cuối cùng tôi tính liều. Lấy AK bắn vào cuống nó. Nghĩ là làm. Tôi nâng AK lên... và nổ súng. Tôi làm liền hai viên. Nghe tiếng súng, Trung đội trưởng vọt dậy ngay.
- Địch à?
Tôi trả lời:
- Không!
- Vậy sao cậu lại bắn?
Tôi im lặng. Anh mắng:
- Cậu muôn bán lắm à? Muôn chết à?
Sau này nghĩ lại việc này, tôi thấy buồn cười vô cùng. Tôi là anh tân binh, không phái là thiện xạ, lại đòi bắn một quả trám nhỏ hơn quả trứng gà cách mình những năm mét. Giá như có bắn trúng đi chăng nữa thì quả trám ấy cùng nát bét còn gì nữa mà ăn. Nhưng khát quá hóa dại...
Tôi lấy bi đông của mình ra, đái vào đó và uống. Tôi nhắm mắt nhám mũi, nhấp từng tí một, cho lưỡi ươn ướt là được. Tôi không thể chịu được cái "hương vị" đặc trưng của nó. Nước đái để trong bình tông đậy kín, lại đặt dưới nắng nóng, khi mở nắp ra là phải quay mũi đi ngay. Nó khai không tài nào chịu nổi. Nhưng muốn sống để chiến đấu thì phải uống. Uống nhiều lần thành ra nước đái nhạt dần không còn khai như lúc đầu nữa.
Vừa xử lý cơn khát nước, tôi lại phải tìm cách xử lý cơn thèm thuốc lào. Nếu cơn khát nước nó hành hạ tôi khổ sở bao nhiêu, thì cơn "khát” thuốc lào nó cũng hành hạ tôi khổ sở bấy nhiêu. Tôi muốn sang anh Đệ xin một điếu thuốc mà không có cách nào để đi. Tôi nói với Trung đội trưởng:
- Em nghe người ta nói, khi khát nước, ngậm một hạt muối cũng đỡ khát anh ạ. Anh cho em sang hầm bên xin hạt muối (thực ra là xin thuốc lào). Anh bảo:
- Cậu đi đi!
Tôi chạy sang anh Đệ, xin được một điếu thuốc lào nhưng lại không có diêm, đành tiu nghỉu quay về hầm, nhịn vậy.
Màn đêm buông xuống, tiếng súng thưa thớt dần. Mặt trận khá yên tĩnh. Một lúc sau, liên lạc chạy lên thông báo đường vẫn chưa thông, cơm nước vẫn chưa tiếp tế được. Đại đội chỉ thị tu sửa hầm hố, kiểm tra đạn dược. Ngày mai có thể địch sẽ tấn công ác liệt hơn.
Tôi hỏi liên lạc:
- Ở dưới ấy có thuốc và diêm không?
- Có. Anh liên lạc đáp.
Tôi xin Trung đội trưởng và theo liên lạc đi xuống hầm đại đội. Liên lạc cho tôi một điếu thuốc rê và bao diêm. Tôi ra ngay mép giao thông hào châm lửa hút. Anh em xung quanh mắng cho tôi một trận. Mắng cũng chẳng sợ. Thèm quá hút cái đã. Tôi chui vào một cái hầm bò, kéo một hơi rõ dài, nhưng chẳng thấy ngon lành gì cả. Miệng đắng ngắt.
Tôi phả khói mù mịt. Bỗng tiếng ho sặc sụa của một ai đó trong căn hầm vang lên. Liên lạc chạy lại kéo áo, lôi tôi ra, rỉ vào tai:
- Này, biết đây là đâu không? Hầm thương binh đấy, toàn bị sức ép cả, thở không được. Sao cậu...!
Tôi quay về hầm của mình.
Đêm mỗi lúc mỗi khuya. Ngồi gác một mình giữa đêm trăng, tôi bỗng thấy nôn nao. Nhớ nhà. Nhớ mẹ. Nhớ đêm trước ngày nhập ngũ, mẹ đã thức trắng để chuẩn bị cho con trai lên đường. Quê nghèo chẳng có gì liên hoan, mẹ gọt mấy củ khoai lang non bỏ vào một ít gạo nếp đồ lên. Khi khoai chín, mẹ bưng ra bỏ thêm một nắm lá hành tăm nữa và xéo đi xéo lại nhiều lần cho thật nhuyễn. Bát cơm khoai xéo với gạo nếp và hành tăm vừa dẻo vừa thơm như còn phảng phất đâu đây quanh trận đánh đầu tiên này. Tôi lại nhớ đến em. Ngày sắp lên đường, em có tặng cho tôi một gói quà nhỏ. Trong đó có cuốn sổ tay Khi dòng chữ rất nắn nót "Lê Thành Công". Giữa quyển sổ nhỏ có kẹp hai chiếc khăn mùi soa rất đẹp và mấv chục tờ giấy pơluya ướp nước hoa thơm phưng phức. Nhưng tôi đã gửi trả lại cho em. Không phải tôi không muốn giữ nó, không phải tôi không muôn có em trong cuộc đời của mình. Nhưng em ơi, "…thời chiến chinh mấy người đi trở lại...' Tôi không muốn em lại là một hòn Vọng Phu nữa. Đất nước mình đã có quá nhiều hòn Vọng Phu. Giờ đây, tôi vẫn tự lục vấn trái tim mình rằng tôi làm như vậy có đúng không, có làm em buồn không và có lỗi với mình không!??? Chỉ biết rằng, giá như còn chiếc khăn ấy ở đây thì tôi cũng nguôi ngoai bớt đi nỗi nhớ... Trên bầu trời, vầng trăng cuối tháng vẫn lặng lè trôi. Quả trám trên cây vẫn ngạo nghễ đung đưa trước gió. Trong làn gió, có mùi khen khét của thuốc súng, có cả hương thơm thoang thoảng của món ăn mẹ nấu, có cả mùi giấy pơluya...
Đêm thứ hai trên chốt trôi qua bình yên.
       
                Nghi Vạn, ngày 5-9-2014


    

CUỘC TẤN CÔNG THẦN TỐC GIẢI PHÓNG CÁC TỈNH XUNG QUANH KHU VỰC BIỂN HỒ CỦA SƯ ĐOÀN 10 THÁNG 1/1979


CUỘC TẤN CÔNG THẦN TỐC GIẢI PHÓNG CÁC TỈNH XUNG QUANH KHU VỰC BIỂN HỒ 
CỦA SƯ ĐOÀN 10 THÁNG 1/1979

                                                                                Nguyễn Đình Thi - Sư đoàn 10


Sau khi cùng các đơn vị Quân đoàn 4 đánh chiếm thủ đô PhnomPenh . Sư đoàn 10 nhận lệnh của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 , nhanh chóng tổ chức lực lượng tấn công quân địch , giải phóng các tỉnh xung quanh khu vực Biển Hồ , không cho địch có thời gian củng cố , tổ chức lại lực lượng tấn công ta . Ngày 8/1 , Trung đoàn 24 , thê đội 2 của Sư đoàn đánh chiếm PhnomPenh đã được lệnh quay ngược lại đường 6 tiến về Kông Pông Thom . Trung đoàn 28 bàn giao lại khu Đông Bắc Phnom Penh cho đơn vị bạn , quay trở lại đường 6 , tổ chức dải quân truy quyét địch từ phía Tây bờ sông Tonlesap tới ngã 3 Si kun ( nơi giao cắt giữa đường 6 và đường 7 ) . Để tăng cường sức mạnh chiến đấu cho Trung đoàn 24 , Sư đoàn quyết định điều 7 xe tăng T54 , 7 xe bọc thép M113 , 4 pháo cao xạ đang đi cùng Trung đoàn 28 sang tăng cường cho Trung đoàn 24 . Sau thất bại ở Kông Pông Chàm địch chạy về Kông Pông Thom lập tuyến phòng thủ mới . Tại Kông Pông Thom lực lượng của chúng gồm Sở chỉ huy vùng 4 cùng 5 tiểu đoàn quân được bố trí dài theo trục đường 6 và quanh thị xã . Sáng ngày 9/1 , sau khi đánh tan quân địch chốt chặn ở vòng ngoài , xe tăng , xe bọc thép cùng bộ binh Trung đoàn 24 đánh thẳng vào thị xã Kông Pông Thom . Trước sự tấn công dũng mãnh của xe tăng và bộ binh ta , địch phòng thủ ở đây không chống đỡ nổi đã phải bỏ chạy , trong đó có cả các cố vấn quân sự Trung Quốc . Ta thu nhiều tài liệu và cả một kho vũ khí lớn của địch trong đó có hàng trăm khẩu pháo các loại . Thời gian lúc này thật khẩn trương . Sư trưởng Bùi Đình Hoè Sư lệnh cho Trung đoàn 66 lúc này đang đi sau Trung đoàn 24 , lợi dụng địa bàn Kông Pông Thom Trung đoàn 24 vừa chiếm , nhanh chóng tổ chức lực lượng tấn công về phía Xiêm Riệp . Ngay trong đêm 9/1 , xe tăng , xe bọc thép , pháo cao xạ 37 ly cùng 36 xe tải chở Trung đoàn 66 tiếp tục hành tiến về Xiêm Riệp . Địch lúc này chưa biết ta đã giải phóng Kông Pông Thom nên trên đường tiến công thỉnh thoảng ta lại gặp đoàn xe của địch chở quân , chở vũ khí , súng đạn chạy ngược chiều từ Xiêm Riệp về Kông Pông Thom . Có những đoàn xe ta cho chúng chạy lọt hẳn vào trong đội hình quân ta rồi mới nổ súng tiêu diệt . Kết quả trong đêm 9/1 ta đã bắt được 23 xe chở đầy vũ khí , súng đạn , diệt hàng trăm tên địch đi trên xe . Suốt đêm 9/1 , Trung đoàn 66 vừa hành tiến , vừa đánh địch , giải phóng Kđen - Công , Sam - Sóc , Ăng - Krong . Diệt hơn 300 tên , bắt 180 tên , thu nhiều súng đạn . Mờ sáng 10/1 , Trung đoàn đã phát triển tới thị xã Xiêm Riệp . Tại Xiêm Riệp lực lượng địch ở các nơi thua chạy dồn về đây khá đông , gồm Sở chỉ huy Quân khu Tây Bắc , Sở chỉ huy các Sư đoàn 775 và 202 . Quyết không cho địch có thời gian phòng thủ . Vừa tới Xiêm Riệp , Trung đoàn liền tổ chức 2 mũi tấn công ngay . Mũi Tiểu đoàn 8 gồm 4 xe tăng T54 , 4 xe bọc thép M113 đánh hướng chính diện , mũi Tiểu đoàn 7 đánh tạt sườn từ hướng Bắc . Sự xuất hiện một lượng lớn xe tăng , xe bọc thép cùng bộ binh của ta ở đây làm địch hoảng sợ , chúng chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy . 9 giờ ngày 10/1 , Trung đoàn 66 làm chủ hoàn toàn thị xã Xiêm Riệp . Tiếp tục phát triển tiến công , Tư lệnh Quân đoàn Kim Tuấn yêu cầu Sư đoàn 10 nhanh chóng tổ chức lực lượng tấn công tiếp về Bát Tam Boong , giải phóng các tỉnh còn lại xung quanh khu vực Biển Hồ . Sáng 12/1 , Trung đoàn 24 được tăng cường Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 66 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Chúc và chính ủy Lê Minh Châu chỉ huy phát triển theo đường 6 tiến về phía Bát Đom Boong . Bát Đom Boong là một tỉnh lớn ở phía Tây CPC , có địa hình rừng núi hiểm trở , lại giáp với Thái Lan . Sau khi thất thủ ở Phnom Penh và ở các nơi , địch dồn cả về Bát Tam Boong , trong đó có cả các cơ quan Trung ương của Pôn Pốt - Iêng Xa Ri . Chúng quyết tâm giữ bằng được Bát Tam Boong để chiến đấu lâu dài với ta . Riêng tại thị xã Bát Đom Boong lực lượng của chúng lên tới 5 Trung đoàn . Chúng rải mìn trên trục đường , phá các cầu , cống , dựng các chướng ngại nhằm chặn đà tiến công của ta . Suốt ngày 12/1 , xe tăng , xe bọc thép cùng bộ binh Trung đoàn 24 liên tục đột phá các điểm ngăn chặn của địch trên trục đường 6 . 18 giờ , Trung đoàn đã phát triển tới phía Tây thị xã . Không dừng lại , Trung đoàn Trưởng Nguyễn Hồng Chúc quyết định tổ chức thành 2 mũi tấn công ngay . Hướng tiểu đoàn 5 có xe tăng , xe bọc thép đi cùng đánh thẳng hướng chính diện , tiểu đoàn 6 đánh từ hướng Nam thọc sườn . Pháo 105 ly , pháo cao xạ 37 ly tập trung bắn vào các trận địa phòng ngự của địch ở phía Tây thị xã . Địch lúc đầu còn chống cự nhưng trước sức mạnh tấn công áp đảo của ta chúng phải bỏ chạy . 19 giờ 30 , Trung đoàn 24 đã làm chủ thị xã Bát Đom Boong , trong đó có sân bay Bát Tam Boong . Ta thu nhiều vũ khí , 3 máy bay địch chưa kịp tháo chạy đã bị ta bắt sống . Lúc này quanh khu vực Biển Hồ duy nhất còn thị xã Fua Sat vẫn chưa được giải phóng . Nhiệm vụ giải phóng Fu Sap được Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho Quân khu 9 , nhưng sau mấy lần đột phá một Trung đoàn của Quân khu 9 vẫn chưa chiếm được thị xã Fu Sap . Trung đoàn 66 lúc này đang đứng chân ở Xiêm Riệp đã được lệnh nhanh chóng cơ động về tấn công Fua Sat . Tại Pu Sat lực lượng địch ở các nơi thua chạy dồn về đây khá đông , lợi dụng địa hình thuận lợi chúng lập tuyến phòng thủ khá vững chắc theo trục đường 5 . Với cách đánh dùng hỏa lực áp đảo , đánh thẳng vào các trận địa phòng ngự của địch , chưa đầy 1 giờ đồng hồ chiến đấu , Trung đoàn 66 đã giải phóng hoàn toàn thị xã Fu Sat . Tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 9 cùng xe tăng tiếp tục phát triển về phía Nam và đã gặp được lực lượng của Quân khu 9 . Thế là vừa tròn 1 tuần ( từ 7/1 đến 14/1 ) , với cách đánh táo bạo , thần tốc , liên tục tấn công , không kể ngày hay đêm , Sư đoàn 10 đã vượt một chặng đường hơn 400km , tiêu diệt và đánh tan một lực lượng lớn quân địch gồm nhiều Sư đoàn của Quân khu Tây Bắc và Kang Đan , giải phóng hoàn toàn 4 tỉnh gồm Kông Pông Thom , Xiêm Riệp , Bát Tam Boong , Fu Sap , đánh chiếm phía Bắc thủ đô Phnom Fenh , góp phần lật đổ chế độ tàn bạo Pôn Pốt - Iêng Xa Ri , hỗ trợ đắc lực cho Quân đội và nhân dân CPC giành chính quyền về tay nhân dân . Có thể nói đây là một trận đánh đạt kỷ lục cao về tốc độ tấn công và tiêu diệt địch . Với trận đánh trên một lần nữa Sư đoàn 10 thật xứng đáng với truyền thống vẻ vang : SƯ ĐOÀN ANH HÙNG của Quân đội nhân dân Việt Nam 

Sơ đồ mũi tấn công của Sư đoàn 10 giải phóng các tỉnh xung quanh Biển Hồ



    

CÓ MỘT NGƯỜI CHỈ HUY - NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI NHƯ THẾ


Nhân Chủ tịch nước vừa ký quyết định truy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN cho Đại tá Vũ Đình Thước, nguyên Sư trưởng Sư đoàn 10, trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu bài viết của Trung tướng Nguyễn Quốc Thước về ANH HÙNG - Đại tá Vũ Đình Thước .


CÓ MỘT NGƯỜI CHỈ HUY - NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI NHƯ THẾ
Trung tướng NGUYỄN QUỐC THƯỚC
Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28, 
nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3

Ai đã từng sống - chiến đấu, công tác với đồng chí Vũ Đình Thước đều để lại cho mình những ấn tượng tốt đẹp, những kỷ niệm sâu sắc về tình bạn chiến đấu, nhất là về tình cảm trong sáng đầy tình nghĩa, đầy tính nhân văn của một người đồng đội, một người anh em, một người chỉ huy quả cảm. Với tôi, đồng chí Vũ Đình Thước là một người trong số đó.
Đơn vị đồng chí Thước - Trung đoàn 66 vào chiến trường Tây Nguyên vào những tháng cuối năm 1965, còn đơn vị tôi - Sư đoàn 325B vào giữa năm 1966. Chúng tôi sống, chiến đấu cùng nhau qua các cương vị khác nhau trong đội hình bộ đội Tây Nguyên rồi đến Quân đoàn 3 mãi cho đến năm 1984 tôi về nhận công tác tại Quân khu 4, tròn 18 năm qua các chiến trường Tây Nguyên, Hạ Lào, Đông Bắc Miên, Sài Gòn (30.4.1975), chiến tranh biên giới Tây Nam với cuộc Tổng tấn công giải phóng Campuchia giúp nhân dân khỏi cuộc diệt chủng, cuối cùng trên biên giới phía Bắc trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc . Ngoại trừ một thời gian khi cuộc Tổng tấn công giải phóng Campuchia 1979 bắt đầu thì anh bị thương phải về nước điều trị một thời gian, đến khi đơn vị ra miền Bắc lại mới gặp nhau. Chừng ấy thời gian là bấy nhiêu kỷ niệm vui buồn, gian khổ ác liệt đều có nhau, mãi cho đến khi anh vĩnh biệt chúng tôi, những người đồng đội năm xưa đều tề tựu tiễn đưa anh về quê hương nằm bên cạnh tổ tiên ông bà. Anh ra đi đã khá lâu, nhưng mỗi lần gặp mặt bạn chiến đấu các đơn vị Tây Nguyên - Quân đoàn 3, những người đã từng công tác chiến đấu với anh, không có cuộc nào mà anh em không nhắc đến anh với bao kỷ niệm, bao tình cảm quý mến thân thương...
Mỗi khi nhắc đến anh, anh em thường nói đến một người chỉ huy can trường, tả xung hữu đột, chỗ nào khó là có anh với một phong cách quyết liệt, đầy ý chí, nóng như lửa trước những tình huống phức tạp, là tấm gương cho cấp dưới và chiến sĩ noi theo, và chính tấm gương dũng cảm quyết đoán đó đã giúp cho anh em, có người có lúc quá ác liệt nảy sinh do dự đã vượt lên để cùng đơn vị chiến thắng. Anh em thường nhắc đến trận đấu đọ sức với Sư đoàn kỵ binh không vận, xương sống của quân lực Hoa Kỳ lúc bấy giờ trong chiến dịch Plei Me cuối năm 1965 mà đơn vị anh cùng đơn vị bạn (E33) đã lập một kỳ tích - tiêu diệt gọn một tiểu đoàn Mỹ, đánh thiệt hại một tiểu đoàn khác, trận đầu tiên tiêu diệt gọn tiểu đoàn Mỹ trên chiến trường miền Nam . Trong trận đó, tiểu đoàn Anh vừa mới đặt chân đến khu vực Ia Đrăng, chưa biết địch "mô tê" thế nào, nhưng đã gặp ngay tiểu đoàn Mỹ trực thăng vận vào đội hình, và anh em đã can trường lưỡi lê xốc tới, đánh bại cánh quân của địch. Đơn vị Mỹ bị tiêu diệt là tiểu đoàn 1 kỵ binh không vận, chủ công của sư đoàn kỵ binh bay do tên Thiếu tá Hal Morơ chỉ huy. Sau này khi kết thúc chiến tranh, không hiểu nổi tại sao đơn vị mình lại bị tiêu diệt, năm 1993 Thiếu tá Morơ, lúc này đã được phong hàm trung tướng, muốn được sang nghiên cứu lại thực địa, tìm nguyên nhân vì sao tiểu đoàn chủ công hùng mạnh của Mỹ được máy bay và pháo binh chi viện tối đa mà bị thua quân Việt cộng. Đồng chí Vũ Đình Thước được tháp tùng Thượng tướng Nguyễn Hữu An, lúc bấy giờ là Tư lệnh chiến dịch, trực tiếp chỉ huy trận đánh đó đã cùng Trung tướng Morơ vào trực tiếp khảo sát nghiên cứu tại thực địa sau gần 30 năm. Là người trực tiếp chiến đấu tại đó, đồng chí Vũ Đình Thước đã giới thiệu chi tiết mọi diễn biến lúc bấy giờ giữa quân ta và quân Mỹ, và cuối cùng Trung tướng Morơ đã đi đến kết luận: Các ông đánh như vậy, với tinh thần "cận chiến", "bám thắt lưng địch mà đánh", triệt tiêu mọi sức mạnh của hỏa lực pháo binh và không quân, và đến nay chúng tôi mới hiểu tại sao đơn vị chúng tôi bị tiêu diệt. Câu chuyện là như vậy và qua các chiến dịch, các trận đánh từ khi là cán bộ cơ sở đến khi là cán bộ trung cao, vai trò của anh luôn được thể hiện như vậy. Anh em thường nói đi đánh với Thủ trưởng Thước (Vũ Đình Thước) là chúng tôi yên tâm. Còn nhớ trong chiến dịch xuân 1972, lúc này tôi là Trung đoàn trưởng, anh là Trung đoàn phó cùng Trung đoàn 28, sau khi tổ chức cắt đường 14 đoạn Nam Diên - Bình - Bắc Võ Định nhằm tiêu diệt mọi chi viện của địch từ Thị xã lên cứu vãn Tân Cảnh, và khi Tân Cảnh bị tiêu diệt, không cho chúng chạy về co cụm tại thị xã Kon Tum. Sau khi Tân cảnh bị tiêu diệt, bắc Kon Tum được giải phóng, bước vào mùa mưa, gạo đạn đã hết, tiếp tế phía sau không lên được, phải chuẩn bị sau một thời gian mới tổ chức tấn công vào thị xã Kon Tum. Lúc này địch đã có thời gian tăng cường lực lượng, tổ chức phòng thủ nên ta đã mất thời cơ. Mũi tấn công của Trung đoàn sau một ngày chiến đấu, 1/3 lực lượng đã lọt được vào trong, 1/3 lực lượng nằm giữa cửa mở, địch tập trung toàn bộ xe tăng, pháo binh, hỏa lực bắn thẳng ngăn chặn ta tại cửa mỏ, chiến đấu mấy ngày không phát triển được. Trung đoàn chủ trương chuyển hướng tấn công vào phía tây, hướng này còn tương đối sơ hở. Đồng chí Thước được giao nhiệm vụ chỉ huy Tiểu đoàn 1 tấn công đột phá hướng này. Lúc đầu địch bị bất ngờ, ta phát triển thuận lợi, nhưng do lực lượng ta mỏng nên cũng chỉ đột phá được một phần, rồi bị xe tăng và hỏa lực địch ngáng chân, ta bị thương vong nhiều nên không hoàn thành được mục tiêu, mà chỉ chiếm được một phần khu trung tâm Biệt khu 24 của địch, gây cho địch nhiều tổn thất. Kết thúc chiến dịch, chuyển sang thời kỳ chống lấn chiếm sau Hiệp định Pari, cuối năm 1972 tôi được điều về Bộ tham mưu Mặt trận Tây Nguyên phụ trách Trưởng phòng tác chiến trực tiếp theo dõi chỉ đạo tình hình chiến sự trên các hướng. Đồng chí Vũ Đình Thước được giao nhiệm vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28 (trước đó đồng chí Nghiêm Xuân Núi đảm nhiệm một thời gian ngắn). Anh đã chỉ huy có hiệu quả trong việc chống quân địch xông ra lấn chiếm, đã có nhiều trận đánh tiêu diệt gọn tiểu đoàn địch, đánh thiệt hại các tiểu đoàn khác, giữ vững vùng giải phóng bắc thị xã Kon Tum, ép địch càng ngày càng co về chống đỡ xung quanh ven thị xã.
Trong đợt hoạt động đó Trung đoàn 28 do anh trực tiếp chỉ huy đã có 1 trận đánh vang dội, hiệu suất chiến đấu rất cao, tiêu diệt và bắt sống xem như toàn bộ tiểu đoàn biệt động quân ác ôn khét tiếng 95 nống ra vùng giải phóng của ta, trận đánh mà ta diệt và bắt gọn toàn bộ ban chỉ huy tiểu đoàn, thu toàn bộ vũ khí và phương tiện thông tin, chỉ còn 19 tên tàn quân tháo chạy tán loạn trong rừng, sau 1 ngày mới tìm được về thị xã (tin kỹ thuật địch). Kể một số sự kiện để chứng minh cho năng lực chỉ huy chiến đấu của anh, còn các chiến dịch khác chắc nhiều đồng chí sẽ kể thêm về anh...
Đối với đồng chí Vũ Đình Thước, ở cương vị chỉ huy chiến đấu là như thế, nhưng ở cương vị là người đồng đội, dù đối với trên hay dưới, nhất là đối với cấp dưới, anh lại có điểm vượt trội hơn của một người chỉ huy với nghĩa tình anh em, với tính nhân văn của người anh chân chính hết sức yêu thương và trách nhiệm. Với cấp dưới khi nào anh cũng tỏ ra nghiêm khắc trong công vụ, trong chiến đấu. Thái độ gay gắt, quyết liệt thậm chí có lúc nóng giận, quát tháo khi mà cấp dưới không quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, nhất là trước nhiệm vụ chiến đấu trực tiếp ảnh hưởng đến sinh mệnh chiến sĩ và nhiệm vụ của đơn vị. Một sự dễ dãi khuất tất để ảnh hưởng tới sinh mệnh chiến sĩ đối với anh là không thể chấp nhận. Sau một trận đánh việc đầu tiên anh hỏi cấp dưới là có bao nhiêu thương vong, liệt sĩ, thương binh đã đem ra hết chưa? Tôi nhớ lần anh chỉ huy Tiểu đoàn 2 đột phá vào thị xã Kon Tum từ hướng Tây, ta không đạt được như ý muôn, một số bị thương vong trong cửa mở. Lúc này quyết định anh giao lại cho ban chỉ huy tiểu đoàn để về nhận nhiệm vụ nặng nề hơn trên hướng khác. Sau khi cho đơn vị rút ra, số thương vong trong trận địa chưa ra hết, anh đã quyết định ở lại để chỉ huy anh em trong trận địa ra xong và chính anh là người ra cuối cùng. Vào những ngày cuối cùng của chiến dịch năm 1972 khi đánh vào thị xã Kon Tum, lúc này anh đi với Tiểu đoàn 1 tăng cường cho Sư đoàn 2 Quân khu 5, sau nhiều ngày chiến đấu, gạo đạn không còn, anh điện về cho tôi tình hình và để nghị tiếp tế thêm một ít gạo đạn. Thực tế lúc này tại sở chỉ huy cơ bản không còn một hạt gạo, toàn cơ quan dựa vào số sắn củ mà đồng chí Sỹ - Bí thư Tỉnh ủy huy động của dân, nhưng chỉ ăn bằng cháo sắn. Sợ anh điện bằng điện PRC25 phương tiện thông tin lấy được của địch, nó theo dõi biết được hoàn cảnh của ta thì rất nguy hiểm. Tôi liền điện bằng tiếng lóng: Tăng cường cho anh 12 khẩu pháo (thực tế là 12 gùi sắn đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cho, nay dành cho tiểu đoàn), còn ở nhà câu lạc bộ vui lắm (ý là chỉ sống bằng tinh thần, không còn gì).
Anh nghiêm khắc với chiến sĩ, nhưng lúc khó khắc ác liệt anh rất thương chiến sĩ, cũng vì lẽ đó nên đến nay anh đã đi xa, nhưng mọi người đều nhắc đến anh với lòng quý mến. Cũng trong chiến dịch năm 1972, sau khi kết thúc đơn vị về đứng chân sẵn sàng chiến đấu ở khu vực Bắc Võ Định, tình hình đơn vị rất khó khăn, đơn vị hết gạo, phải chờ tiếp tế từ phía Tây sang, nên mỗi ngày mỗi người chỉ được 1 đến 2 lạng gạo. Lúc này đồng chí Vũ Đình Thước trao đổi với tôi làm sao tìm cách cải thiện cho anh em. Tôi hỏi cải thiện bằng cách nào? kỷ luật vùng mới giải phóng, dân sợ di tản hết, không được đụng đến bất kỳ vật dụng tài sản của dân, chỉ có ra rừng tìm rau môn thục và măng tre để thêm vào nồi cháo loãng. Đồng chí im lặng không nói thêm gì.
Một hôm đồng chí ra nghiên cứu địa hình ở khu vực Võ Định - Trí Đạo, nơi Trung đoàn 66 đang tiếp quản. Thấy Trung đoàn 28 quá khó khăn, anh em cho đồng chí Thước mấy quả mít về cải thiện - không báo cáo với tôi, anh cho anh em vệ binh giấu xung quanh hầm chỉ huy, chờ khi chín sẽ chia cho anh em cơ quan. Buổi sáng hôm sau khi đang giao ban tôi cảm thấy có mùi mít chín. Hỏi không ai trả lời. Sáng hôm sau mùi mít lại càng nhiều. Tôi liền hỏi ai lấy mít ở đâu về? Cả cuộc họp im lặng, một lúc sau đồng chí Thước đứng lên nói: Báo cáo anh, hôm kia đi nghiên cứu địa hình, anh em Trung đoàn 66 có cho tôi mấy quả mít, ý định khi chín sẽ đem chia cho anh em cơ quan mỗi người một ít, vì lâu rồi bị đói quá, thương anh em quá, đề nghị anh chấp nhận vì đây không phải tự tiện lấy của dân. Hiểu được ý thức kỷ luật và tấm lòng của anh, mọi người trong cơ quan hết sức cảm kích, tôi và đồng chí chính ủy cũng đồng tình. Mãi mấy hôm sau gạo từ phía tây đường 14 mới tiếp tế sang, lúc này cán bộ chiến sĩ mới ấm lòng. Câu chuyện tưởng ra là bình thường, nhưng ai có hiểu hết được nội tâm của nhau lúc này mới thấy quý giá, mới thấy được tấm lòng của người chỉ huy, trưởng thành từ cơ sở suốt cuộc kháng chiến, sau này đã trở thành một cán bộ cấp cao của quân đội, người đó là đại tá Vũ Đình Thước.
Mấy năm anh đã đi xa, nhưng mỗi lần gặp nhau trong ngày truyền thống của Trung đoàn không ai không nhắc đến anh với lòng quý trọng và mến thương. Và trong cuộc đời của người chỉ huy, dù ở cấp nào cũng không phải ai cũng được sự ân tình lưu luyến thân thương đến như vậy. Cái đó mọi chúng ta hãy tự suy nghĩ để tự giải đáp cho mình.


Đại tá Vũ Đình Thước - người đứng thứ 3 từ trái sang đang nhận nhiệm vụ từ Tư lệnh Quân đoàn 3 Kim Tuấn ( tháng 12/1978 )

    

TRUNG ĐOÀN 28 - SƯ ĐOÀN 10 THAM GIA TẤN CÔNG GIẢI PHÓNG PHNOM PENH

TRUNG ĐOÀN 28 - SƯ ĐOÀN 10 THAM GIA TẤN CÔNG GIẢI PHÓNG PHNOM PENH
                                          Nguyễn Đình Thi 

13 giờ ngày 6/1/1979 , sau khi đánh tan tuyến phòng ngự của địch ở Bắc đường 7 do 1 Sư đoàn quân Pôn Pốt phòng ngự , đội hình Trung đoàn 28 đơn vị đi đầu của Sư đoàn 10 đã có mặt tại phía Bắc sông Kompong Cham . Mặc dù lúc này Sư đoàn 320 đã chiếm được thị xã Kompong Cham nhưng do địa hình đường 7 chật hẹp , các phương tiện xe cộ chở vũ khí , khí tài và xe chở bộ đội rất đông nên ảnh hưởng tới xe bắc phà của công binh đi ở phía sau , mãi 15 giờ 30 bộ đội công binh mới ghép xong được phà . Sông Mê Công đoạn thị xã Kompong Chàm rất rộng , tới hàng km nên tới 18 giờ toàn bộ đội hình Trung đoàn cùng xe tăng , xe bọc thép , pháo binh mới qua hết được sông . Theo yêu cầu của Bộ chính trị các đơn vị tấn công Phnom Penh phải giải phóng xong Phnom Penh trước ngày 8/1 để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của bạn ( CPC) nên khi đội hình vừa qua sông , Bộ Tư lệnh Sư đoàn yêu cầu Trung đoàn 28 phải tổ chức lực lượng hành tiến đánh địch ngay trong đêm 6/1 , để ngày 7/1 có mặt tấn công Phnom Penh . Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn vì từ thị xã Kompong Cham tới Phnom Penh dài hơn 100 km , lại phải tổ chức tác chiến hành tiến trong đêm , Trung đoàn chưa bao giờ tổ chức , địa hình thì hoàn toàn mới lạ , thời gian thì rất gấp , chỉ còn hơn chục giờ đồng hồ . Do tính chất vừa cấp bách , vừa rất quan trọng và khó khăn của trận đánh , Bộ Tư lệnh Sư đoàn cử đồng chí Sư đoàn phó Trần Ngự trực tiếp đi cùng để chỉ đạo Trung đoàn 28 . Để tăng thêm sức mạnh chiến đấu cho Trung đoàn , Tư lệnh Quân đoàn 3 - Kim Tuấn quyết định tăng cường thêm cho Trung đoàn 5 xe bọc thép lội nước PT76 đang đi cùng Sư đoàn 320 . 18 giờ 30 , ngày 6/1/79 , từ thị xã Kompong Cham , 120 xe ô tô chở bộ đội , chở xe pháo các loại dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Vũ Khắc Đua bắt đầu xuất phát tấn công . Để đảm bảo đánh chắc thắng và đến kịp thời gian theo yêu cầu của trên . Cách đánh hành tiến trong đêm 6/1 của Trung đoàn được tổ chức như sau : Dùng đại đội 1 - đại đội chủ công của Tiểu đoàn 1 được tăng cường xe tăng , xe thiết giáp , trinh sát , công binh đi cùng . Lực lượng này dùng hỏa lực 12ly 7 trên xe và pháo cao xạ 37 ly bắn về phía trước và bắn sang 2 bên đường , uy hiếp quân địch , làm cho quân địch dãn ra 2 bên để đội hình toàn Trung đoàn hành tiến . Hỏa lực của các đơn vị như : cối 82 ly , DKZ giá sẵn trên các sàn xe tải , sẵn sàng nhả đạn khi gặp địch . Nơi nào địch tập trung quân và hoả lực ngăn chặn thì dùng pháo xe tăng và pháo binh đi cùng tấn công tiêu diệt . Tầm 20 giờ đêm 6/1 , sau khi vượt qua thị xã Kompong Cham chừng gần chục km , Trung đoàn gặp một trận địa phòng ngự của địch mới lập ở đây sau khi Kompong Cham thất thủ , xung quanh khu vực phòng ngự chúng dải rất nhiều mìn . Trung đoàn đã tập trung hỏa lực xe tăng , pháo mặt đất tấn công , hỗ trợ cho trinh sát và công binh nên gỡ mìn . Trước sức tấn công áp đảo của ta tuyến phòng ngự của địch ở đây nhanh chóng bị phá vỡ , một số bị tiêu diệt , một số bỏ chạy , trong đó có tên Son Sen - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vừa lên tới đây để trấn an tinh thần quân lính . 23 giờ , Trung đoàn phát triển tới ngã 3 Si -Kun , điểm giao cắt giữa đường 7 và đường 6 , đây là Sở chỉ huy của vùng 41 . Khi thấy lực lượng của ta xuất hiện , địch tổ chức chống trả . Xe tăng , xe thiết giáp của ta dũng mãnh tấn công , xông thẳng vào trận địa địch . Sau 15 phút chiến đấu ta làm chủ hoàn toàn trận địa , tại đây ta thu 5 pháo 37 , 2 pháo 105 ly cùng một số ô tô chở đầy súng đạn . 3 giờ sáng ngày 7/1 , Trung đoàn phát triển tới dãy núi Phu Chê , cách phà Tông Lê Sap chừng 3 km . Do trời tối không phát hiện được lực lượng địch phòng thủ tại đây nên 1 xe bọc thép của Trung đoàn bị địch bắn cháy , một xe bọc thép khác bị địch bắn hỏng , đội hình của Trung đoàn bị ùn lại . Sư đoàn phó Trần Ngự cùng Trung đoàn trưởng Vũ Khắc Đua quyết định dùng pháo 105 ly , pháo 85 ly và cả pháo cao xạ 37 ly bắn thẳng vào trận địa phòng ngự của địch , đồng thời tổ chức cho bộ binh cùng xe bọc thép vòng sang 2 bên tấn công . Sau 1 giờ chiến đấu toàn bộ quân địch chốt giữ ở đây đã bị tiêu diệt . 6 giờ sáng ngày 7/1 , đội hình Tiểu đoàn 1 do Tiểu đoàn trưởng Đỗ Bá Tỵ chỉ huy đã phát triển tới bến phà Ton le sap. Tại bến phà Ton le sap , binh lính địch cùng hàng trăm xe cộ các loại bị ta đánh ở các nơi , rút chạy về đây nằm ngổn ngang trên bến phà . Khi thấy bộ binh cùng xe tăng , xe bọc thép của ta xuất hiện đã hoảng loạn bỏ chạy . Ta tổ chức truy kích , tiêu diệt hàng trăm tên . Trước tình hình xe cộ của địch quá nhiều đỗ ngổn ngang trên bến phà , chặn không còn lối xuống cho xe tăng , xe bọc thép và xe chở bộ đội vượt sông . Ban chỉ huy Trung đoàn đã bàn với Lữ đoàn công binh số 7 và Lữ đoàn 249 công binh tổ chức bến vượt mới . Pháo binh Trung đoàn 4 đi cùng lúc này được lệnh bắn sang bờ sông phía Bắc ghìm đầu quân địch để chi viện cho công binh mở bến , ghép phà . 10 giờ , ngày 7/1 , Tiểu đoàn 1 cùng một số xe tăng , xe bọc thép đã vượt qua sông , Trung đoàn phó Lương Công Hiển và Trung đoàn phó Nguyễn Hồng Kháng nhanh chóng tổ chức cho bộ đội đánh chiếm các mục tiêu khu phố phía Tây và Takleat , nhà máy xay , nhà máy hoa quả , khó súng đạn , kho xi măng , xưởng cơ khí . 11 giờ , Tiểu đoàn 1 đã chiếm được Hoàng Cung và bắt liên lạc được với lực lượng chủ công Quân đoàn 4 đánh từ hướng phà Nếc Nương tới , hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Phnom Penh .
Trận tấn công đêm 6/1 và sáng ngày 7/1/1979 trên trục đường 7 và thủ đô Phnom Penh của Trung đoàn 28 là một trận đánh cực kỳ táo bạo . Trong lịch sử chiến đấu của Quân đội ta CHƯA CÓ MỘT TRẬN TẤN CÔNG TRONG ĐÊM BẰNG BINH CHỦNG HỢP THÀNH QUY MÔ LỚN VÀ TRÊN MỘT CHẶNG ĐƯỜNG DÀI NHƯ TRẬN TẤN CÔNG NÀY . Bằng trận thắng này một lần nữa Trung đoàn 28 thật xứng danh với truyền thống vẻ vang TRUNG ĐOÀN ANH HÙNG .
( Mời các bạn đón xem bài : CUỘC TẤN CÔNG THẦN TỐC GIẢI PHÓNG CÁC TỈNH XUNG QUANH KHU VỰC BIỂN HỒ CỦA SƯ ĐÒAN 10 vào số tới )

Hình : quân tình nguyện Việt Nam và quân đội CPC tấn công giải phóng Phnom Penh tháng 1/79