TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN TRÊN CHỐT TIÊN TIÊU TÀ NỐT

Những ngày tháng chiến đấu gian khổ, ác liệt ở ngoài mặt trận là những ngày tháng không thể quên đối với mỗi người lính chúng ta. Để mỗi chúng ta nhớ về những ngày tháng đó, trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu với các bạn bài viết của bạn Phạm Công Vượng: TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN TRÊN CHỐT TIỀN TIÊU TÀ NỐT

TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN TRÊN CHỐT TIÊN TIÊU TÀ NỐT
       Phạm Công Vượng - Sư đoàn 320

Tờ mờ sáng, địch tấn công dừ dội cá bốn hướng. Đại đội 9 chúng tôi như nằm giữa cái cối giã giò. Hầm chữ A của tôi lung lay như đưa võng. Đạn B40, B4l, pháo các loại cứ nhằm đơn vị tôi mà rót tới. Tiếng hô "xung phong" của lính Khơme đỏ vang lên cả rừng sâu.
Trung đội trưởng lệnh cho tôi:
- Chú ý hướng hố bom.
Ngay lúc đó, tôi thoáng thấy bóng một tên áo đen. Tôi hét: "Địch"!
Anh đưa khẩu RPĐ cho tôi và bảo: "Quét đi". Tôi nhằm tên áo đen kéo cò. Súng nổ một dây dài thì tắc. Sau làn khói mỏng, tôi thấy tên địch đứng khựng lại rồi gục xuống.
Tôi liền trao súng cho anh sửa và chộp lấy khẩu AK của mình. Tôi quỳ ngay xuống mép cửa hầm và ngắm vào tên áo đen đang thập thò bên gốc cây. Súng nổ được mấy viên thì cũng "tịt" nốt. Trung đội trương gắt: "Những lúc không có địch thì lau chùi súng đi. Nhớ không đế cát rơi vào. Nghẹn đấy".
Tôi đang lóng ngóng kéo quy lát đế lấy vỏ đạn ra thì nghe anh hét:
- Đ….ị…c….h…Địch!. Một thằng Kìa, một thằng nữa.
Nhìn theo tay anh chỉ, tôi thấy một thằng địch đen sì đi chân đất đang lò dò xuống hố bom. Anh gạt tôi ra, bò lên miệng hầm, đứng thẳng người tung quả lựu đạn vể phía trước. Ném xong anh nhảy ngay xuống cửa hầm. Một tiếng nổ khô khốc vang lên nước, bùn đất vung lên tung tóe.
Tôi rê nòng súng về phía vừa có tiếng nổ. thì chợt thấy ba tên địch đang bò lên khỏi miệng hố bom, hướng thẳng về hầm chúng tôi…
Thấy tôi định bắn, anh ngăn lại và bảo: Đừng bắn! Lộ mục tiêu đấy.
- Dùng lựu đạn. Ném.
- Ném đ...i...đi…
Tôi loay hoay tháo lựu đạn ra khỏi thắt lưng nhưng không tài nào tháo được (vì khi hành quân tôi đã buộc chặt mỏ vịt lại). Chợt thấy trên miệng hầm có ba quả lựu đạn đặt giăng giăng, tôi chộp lấy một quả. Lượng thấy sức mình không ném tới miệng hố bom được, tôi nhảy lên khỏi miệng hầm, bò thêm một đoạn nữa và ném quả thứ hai về phía địch. Một tiếng nổ "ầm" vang lên. Chúng tôi cố gắng lắng nghe, nhưng tuyệt nhiên không hề nghe một tiếng động nào từ phía hố bom vọng lại. Anh nói với tôi: "Nó tiêu rồi". Cao hứng, tôi nâng AK nhằm phía vừa có tiếng "xung phong", bóp cò. Sau loạt súng vụng về của anh tân binh, hầm tôi hứng trọn một chầu đạn, đủ các loại. Từ bên kia hố bom súng AK bắn xối xả về phía chúng tôi. Rồi cối 60mm, M79 cấp tập vào trận địa. Đã mấy lần anh đè đầu tôi xuống để tránh đạn. Nhưng lần này thì chậm mất rồi. Tôi thấy trán mình ươn ướt…
Trung đội trưởng bảo: Cậu bị thương rồi, đưa anh băng cho. Rất may, mảnh đạn M79 chỉ bé bằng nửa hạt ngỏ, xuyên qua mũ cối thủng da đầu. Nhẹ thôi.
Bắn chán rồi, bọn địch cùng ngừng. Chỉ còn "xung phong" bằng mồm thôi. Chẳng tên nào dám bò lên nữa.
Tôi thấy mệt mỏi và rất khát nước. Từ trưa qua đến giờ tôi chỉ mới ăn nửa bát cơm và chưa uống hớp nước nào. Tôi không đói nhưng khát quá.
Sau trận tập kích ấy, trên mặt đất lá rừng bén lửa cháy rần rần. Cả trận địa như nằm trong cái chảo lửa khổng lồ. Hầm tôi chẳng khác gì bị hun, đầy khói bụi và mùi thuốc súng nồng nặc.
Không thở được, tôi xách AK chạy ra giao thông hào. Giao thông hào cũng đang cháy. Tôi chạy sang hầm anh Đệ, thấy cậu Sáng mình cởi trần đang vùi trong cát. Nó báo: "Trong người bây giờ như có kim châm khát quá"! Còn anh Đệ thỉnh thoảng bò ra mép hầm giơ súng lên bắn vu vơ mấy viên, như ngầm báo với quân địch rằng bọn tao đang sống, còn lâu mới chết!
Bọn giặc lửa đi qua, tôi trở lại hầm.
Cơn khát nước và cơn thèm thuốc lào hành hạ tôi. Tôi lục tung ba lô để tìm thuốc và diêm. Quái, sao chẳng thấy đâu! Tôi lắc hết bi đông này đến bi đông khác, chiếc nào cũng khô khốc, chẳng có giọt nước nào. Tôi bò ra cửa hầm phía trước, tìm thấy một chiếc bi đông nhựa. Cầm lên lắc lắc. Nghe tiếng lách sách. Mừng quá.
Tôi luống cuống mở nắp, tu ngay một ngụm. Nhưng vội nhổ nó ra ngay, rồi vứt bi đông vào góc hầm.
- Trời đất! Nước đái!
Tôi gắt Trung đội trưởng... Anh nhìn tôi cười, nụ cười trông đến lạ.
Anh bảo:
- Nước giải khát đặc biệt đấy!
Tôi hoảng hốt:
- Uống nước đái?
Anh nói với tôi:
- Thế cậu chưa uống... à? Chịu khát giỏi đấy. Còn anh đã uống từ chiều hôm qua rồi. Anh nói tiếp: "Phải đái vào đấy để mà uống dần, sợ đến lúc không còn nước đái nữa mà uống chú em ạ". Tôi chui tọt vào hầm chẳng đáp lời anh.
Cái lẽ thường tình, cái gì mà ta cố quên nó đi thì nó lại càng quay trở lại giày vò, tấn công ta. Tôi khát đến cháy cổ, cháy họng. Người như có lửa đốt. Trong khi ngồi gác, tôi nhìn lên cây trám nhỏ bên miệng hầm và phát hiện có một quả. Không biết quả trám ấy xanh hay chín. Nhưng tôi nghĩ nếu hái được nó, ăn chắc đỡ khát lắm. Tôi định trèo lên hái. Nhưng sợ địch phát hiện "tỉa" tôi rụng, nên thôi. Ngồi gác mà mắt không rời quả trám. Cuối cùng tôi tính liều. Lấy AK bắn vào cuống nó. Nghĩ là làm. Tôi nâng AK lên... và nổ súng. Tôi làm liền hai viên. Nghe tiếng súng, Trung đội trưởng vọt dậy ngay.
- Địch à?
Tôi trả lời:
- Không!
- Vậy sao cậu lại bắn?
Tôi im lặng. Anh mắng:
- Cậu muôn bán lắm à? Muôn chết à?
Sau này nghĩ lại việc này, tôi thấy buồn cười vô cùng. Tôi là anh tân binh, không phái là thiện xạ, lại đòi bắn một quả trám nhỏ hơn quả trứng gà cách mình những năm mét. Giá như có bắn trúng đi chăng nữa thì quả trám ấy cùng nát bét còn gì nữa mà ăn. Nhưng khát quá hóa dại...
Tôi lấy bi đông của mình ra, đái vào đó và uống. Tôi nhắm mắt nhám mũi, nhấp từng tí một, cho lưỡi ươn ướt là được. Tôi không thể chịu được cái "hương vị" đặc trưng của nó. Nước đái để trong bình tông đậy kín, lại đặt dưới nắng nóng, khi mở nắp ra là phải quay mũi đi ngay. Nó khai không tài nào chịu nổi. Nhưng muốn sống để chiến đấu thì phải uống. Uống nhiều lần thành ra nước đái nhạt dần không còn khai như lúc đầu nữa.
Vừa xử lý cơn khát nước, tôi lại phải tìm cách xử lý cơn thèm thuốc lào. Nếu cơn khát nước nó hành hạ tôi khổ sở bao nhiêu, thì cơn "khát” thuốc lào nó cũng hành hạ tôi khổ sở bấy nhiêu. Tôi muốn sang anh Đệ xin một điếu thuốc mà không có cách nào để đi. Tôi nói với Trung đội trưởng:
- Em nghe người ta nói, khi khát nước, ngậm một hạt muối cũng đỡ khát anh ạ. Anh cho em sang hầm bên xin hạt muối (thực ra là xin thuốc lào). Anh bảo:
- Cậu đi đi!
Tôi chạy sang anh Đệ, xin được một điếu thuốc lào nhưng lại không có diêm, đành tiu nghỉu quay về hầm, nhịn vậy.
Màn đêm buông xuống, tiếng súng thưa thớt dần. Mặt trận khá yên tĩnh. Một lúc sau, liên lạc chạy lên thông báo đường vẫn chưa thông, cơm nước vẫn chưa tiếp tế được. Đại đội chỉ thị tu sửa hầm hố, kiểm tra đạn dược. Ngày mai có thể địch sẽ tấn công ác liệt hơn.
Tôi hỏi liên lạc:
- Ở dưới ấy có thuốc và diêm không?
- Có. Anh liên lạc đáp.
Tôi xin Trung đội trưởng và theo liên lạc đi xuống hầm đại đội. Liên lạc cho tôi một điếu thuốc rê và bao diêm. Tôi ra ngay mép giao thông hào châm lửa hút. Anh em xung quanh mắng cho tôi một trận. Mắng cũng chẳng sợ. Thèm quá hút cái đã. Tôi chui vào một cái hầm bò, kéo một hơi rõ dài, nhưng chẳng thấy ngon lành gì cả. Miệng đắng ngắt.
Tôi phả khói mù mịt. Bỗng tiếng ho sặc sụa của một ai đó trong căn hầm vang lên. Liên lạc chạy lại kéo áo, lôi tôi ra, rỉ vào tai:
- Này, biết đây là đâu không? Hầm thương binh đấy, toàn bị sức ép cả, thở không được. Sao cậu...!
Tôi quay về hầm của mình.
Đêm mỗi lúc mỗi khuya. Ngồi gác một mình giữa đêm trăng, tôi bỗng thấy nôn nao. Nhớ nhà. Nhớ mẹ. Nhớ đêm trước ngày nhập ngũ, mẹ đã thức trắng để chuẩn bị cho con trai lên đường. Quê nghèo chẳng có gì liên hoan, mẹ gọt mấy củ khoai lang non bỏ vào một ít gạo nếp đồ lên. Khi khoai chín, mẹ bưng ra bỏ thêm một nắm lá hành tăm nữa và xéo đi xéo lại nhiều lần cho thật nhuyễn. Bát cơm khoai xéo với gạo nếp và hành tăm vừa dẻo vừa thơm như còn phảng phất đâu đây quanh trận đánh đầu tiên này. Tôi lại nhớ đến em. Ngày sắp lên đường, em có tặng cho tôi một gói quà nhỏ. Trong đó có cuốn sổ tay Khi dòng chữ rất nắn nót "Lê Thành Công". Giữa quyển sổ nhỏ có kẹp hai chiếc khăn mùi soa rất đẹp và mấv chục tờ giấy pơluya ướp nước hoa thơm phưng phức. Nhưng tôi đã gửi trả lại cho em. Không phải tôi không muốn giữ nó, không phải tôi không muôn có em trong cuộc đời của mình. Nhưng em ơi, "…thời chiến chinh mấy người đi trở lại...' Tôi không muốn em lại là một hòn Vọng Phu nữa. Đất nước mình đã có quá nhiều hòn Vọng Phu. Giờ đây, tôi vẫn tự lục vấn trái tim mình rằng tôi làm như vậy có đúng không, có làm em buồn không và có lỗi với mình không!??? Chỉ biết rằng, giá như còn chiếc khăn ấy ở đây thì tôi cũng nguôi ngoai bớt đi nỗi nhớ... Trên bầu trời, vầng trăng cuối tháng vẫn lặng lè trôi. Quả trám trên cây vẫn ngạo nghễ đung đưa trước gió. Trong làn gió, có mùi khen khét của thuốc súng, có cả hương thơm thoang thoảng của món ăn mẹ nấu, có cả mùi giấy pơluya...
Đêm thứ hai trên chốt trôi qua bình yên.
       
                Nghi Vạn, ngày 5-9-2014


    

CUỘC TẤN CÔNG THẦN TỐC GIẢI PHÓNG CÁC TỈNH XUNG QUANH KHU VỰC BIỂN HỒ CỦA SƯ ĐOÀN 10 THÁNG 1/1979


CUỘC TẤN CÔNG THẦN TỐC GIẢI PHÓNG CÁC TỈNH XUNG QUANH KHU VỰC BIỂN HỒ 
CỦA SƯ ĐOÀN 10 THÁNG 1/1979

                                                                                Nguyễn Đình Thi - Sư đoàn 10


Sau khi cùng các đơn vị Quân đoàn 4 đánh chiếm thủ đô PhnomPenh . Sư đoàn 10 nhận lệnh của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 , nhanh chóng tổ chức lực lượng tấn công quân địch , giải phóng các tỉnh xung quanh khu vực Biển Hồ , không cho địch có thời gian củng cố , tổ chức lại lực lượng tấn công ta . Ngày 8/1 , Trung đoàn 24 , thê đội 2 của Sư đoàn đánh chiếm PhnomPenh đã được lệnh quay ngược lại đường 6 tiến về Kông Pông Thom . Trung đoàn 28 bàn giao lại khu Đông Bắc Phnom Penh cho đơn vị bạn , quay trở lại đường 6 , tổ chức dải quân truy quyét địch từ phía Tây bờ sông Tonlesap tới ngã 3 Si kun ( nơi giao cắt giữa đường 6 và đường 7 ) . Để tăng cường sức mạnh chiến đấu cho Trung đoàn 24 , Sư đoàn quyết định điều 7 xe tăng T54 , 7 xe bọc thép M113 , 4 pháo cao xạ đang đi cùng Trung đoàn 28 sang tăng cường cho Trung đoàn 24 . Sau thất bại ở Kông Pông Chàm địch chạy về Kông Pông Thom lập tuyến phòng thủ mới . Tại Kông Pông Thom lực lượng của chúng gồm Sở chỉ huy vùng 4 cùng 5 tiểu đoàn quân được bố trí dài theo trục đường 6 và quanh thị xã . Sáng ngày 9/1 , sau khi đánh tan quân địch chốt chặn ở vòng ngoài , xe tăng , xe bọc thép cùng bộ binh Trung đoàn 24 đánh thẳng vào thị xã Kông Pông Thom . Trước sự tấn công dũng mãnh của xe tăng và bộ binh ta , địch phòng thủ ở đây không chống đỡ nổi đã phải bỏ chạy , trong đó có cả các cố vấn quân sự Trung Quốc . Ta thu nhiều tài liệu và cả một kho vũ khí lớn của địch trong đó có hàng trăm khẩu pháo các loại . Thời gian lúc này thật khẩn trương . Sư trưởng Bùi Đình Hoè Sư lệnh cho Trung đoàn 66 lúc này đang đi sau Trung đoàn 24 , lợi dụng địa bàn Kông Pông Thom Trung đoàn 24 vừa chiếm , nhanh chóng tổ chức lực lượng tấn công về phía Xiêm Riệp . Ngay trong đêm 9/1 , xe tăng , xe bọc thép , pháo cao xạ 37 ly cùng 36 xe tải chở Trung đoàn 66 tiếp tục hành tiến về Xiêm Riệp . Địch lúc này chưa biết ta đã giải phóng Kông Pông Thom nên trên đường tiến công thỉnh thoảng ta lại gặp đoàn xe của địch chở quân , chở vũ khí , súng đạn chạy ngược chiều từ Xiêm Riệp về Kông Pông Thom . Có những đoàn xe ta cho chúng chạy lọt hẳn vào trong đội hình quân ta rồi mới nổ súng tiêu diệt . Kết quả trong đêm 9/1 ta đã bắt được 23 xe chở đầy vũ khí , súng đạn , diệt hàng trăm tên địch đi trên xe . Suốt đêm 9/1 , Trung đoàn 66 vừa hành tiến , vừa đánh địch , giải phóng Kđen - Công , Sam - Sóc , Ăng - Krong . Diệt hơn 300 tên , bắt 180 tên , thu nhiều súng đạn . Mờ sáng 10/1 , Trung đoàn đã phát triển tới thị xã Xiêm Riệp . Tại Xiêm Riệp lực lượng địch ở các nơi thua chạy dồn về đây khá đông , gồm Sở chỉ huy Quân khu Tây Bắc , Sở chỉ huy các Sư đoàn 775 và 202 . Quyết không cho địch có thời gian phòng thủ . Vừa tới Xiêm Riệp , Trung đoàn liền tổ chức 2 mũi tấn công ngay . Mũi Tiểu đoàn 8 gồm 4 xe tăng T54 , 4 xe bọc thép M113 đánh hướng chính diện , mũi Tiểu đoàn 7 đánh tạt sườn từ hướng Bắc . Sự xuất hiện một lượng lớn xe tăng , xe bọc thép cùng bộ binh của ta ở đây làm địch hoảng sợ , chúng chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy . 9 giờ ngày 10/1 , Trung đoàn 66 làm chủ hoàn toàn thị xã Xiêm Riệp . Tiếp tục phát triển tiến công , Tư lệnh Quân đoàn Kim Tuấn yêu cầu Sư đoàn 10 nhanh chóng tổ chức lực lượng tấn công tiếp về Bát Tam Boong , giải phóng các tỉnh còn lại xung quanh khu vực Biển Hồ . Sáng 12/1 , Trung đoàn 24 được tăng cường Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 66 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Chúc và chính ủy Lê Minh Châu chỉ huy phát triển theo đường 6 tiến về phía Bát Đom Boong . Bát Đom Boong là một tỉnh lớn ở phía Tây CPC , có địa hình rừng núi hiểm trở , lại giáp với Thái Lan . Sau khi thất thủ ở Phnom Penh và ở các nơi , địch dồn cả về Bát Tam Boong , trong đó có cả các cơ quan Trung ương của Pôn Pốt - Iêng Xa Ri . Chúng quyết tâm giữ bằng được Bát Tam Boong để chiến đấu lâu dài với ta . Riêng tại thị xã Bát Đom Boong lực lượng của chúng lên tới 5 Trung đoàn . Chúng rải mìn trên trục đường , phá các cầu , cống , dựng các chướng ngại nhằm chặn đà tiến công của ta . Suốt ngày 12/1 , xe tăng , xe bọc thép cùng bộ binh Trung đoàn 24 liên tục đột phá các điểm ngăn chặn của địch trên trục đường 6 . 18 giờ , Trung đoàn đã phát triển tới phía Tây thị xã . Không dừng lại , Trung đoàn Trưởng Nguyễn Hồng Chúc quyết định tổ chức thành 2 mũi tấn công ngay . Hướng tiểu đoàn 5 có xe tăng , xe bọc thép đi cùng đánh thẳng hướng chính diện , tiểu đoàn 6 đánh từ hướng Nam thọc sườn . Pháo 105 ly , pháo cao xạ 37 ly tập trung bắn vào các trận địa phòng ngự của địch ở phía Tây thị xã . Địch lúc đầu còn chống cự nhưng trước sức mạnh tấn công áp đảo của ta chúng phải bỏ chạy . 19 giờ 30 , Trung đoàn 24 đã làm chủ thị xã Bát Đom Boong , trong đó có sân bay Bát Tam Boong . Ta thu nhiều vũ khí , 3 máy bay địch chưa kịp tháo chạy đã bị ta bắt sống . Lúc này quanh khu vực Biển Hồ duy nhất còn thị xã Fua Sat vẫn chưa được giải phóng . Nhiệm vụ giải phóng Fu Sap được Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho Quân khu 9 , nhưng sau mấy lần đột phá một Trung đoàn của Quân khu 9 vẫn chưa chiếm được thị xã Fu Sap . Trung đoàn 66 lúc này đang đứng chân ở Xiêm Riệp đã được lệnh nhanh chóng cơ động về tấn công Fua Sat . Tại Pu Sat lực lượng địch ở các nơi thua chạy dồn về đây khá đông , lợi dụng địa hình thuận lợi chúng lập tuyến phòng thủ khá vững chắc theo trục đường 5 . Với cách đánh dùng hỏa lực áp đảo , đánh thẳng vào các trận địa phòng ngự của địch , chưa đầy 1 giờ đồng hồ chiến đấu , Trung đoàn 66 đã giải phóng hoàn toàn thị xã Fu Sat . Tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 9 cùng xe tăng tiếp tục phát triển về phía Nam và đã gặp được lực lượng của Quân khu 9 . Thế là vừa tròn 1 tuần ( từ 7/1 đến 14/1 ) , với cách đánh táo bạo , thần tốc , liên tục tấn công , không kể ngày hay đêm , Sư đoàn 10 đã vượt một chặng đường hơn 400km , tiêu diệt và đánh tan một lực lượng lớn quân địch gồm nhiều Sư đoàn của Quân khu Tây Bắc và Kang Đan , giải phóng hoàn toàn 4 tỉnh gồm Kông Pông Thom , Xiêm Riệp , Bát Tam Boong , Fu Sap , đánh chiếm phía Bắc thủ đô Phnom Fenh , góp phần lật đổ chế độ tàn bạo Pôn Pốt - Iêng Xa Ri , hỗ trợ đắc lực cho Quân đội và nhân dân CPC giành chính quyền về tay nhân dân . Có thể nói đây là một trận đánh đạt kỷ lục cao về tốc độ tấn công và tiêu diệt địch . Với trận đánh trên một lần nữa Sư đoàn 10 thật xứng đáng với truyền thống vẻ vang : SƯ ĐOÀN ANH HÙNG của Quân đội nhân dân Việt Nam 

Sơ đồ mũi tấn công của Sư đoàn 10 giải phóng các tỉnh xung quanh Biển Hồ



    

CÓ MỘT NGƯỜI CHỈ HUY - NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI NHƯ THẾ


Nhân Chủ tịch nước vừa ký quyết định truy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN cho Đại tá Vũ Đình Thước, nguyên Sư trưởng Sư đoàn 10, trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu bài viết của Trung tướng Nguyễn Quốc Thước về ANH HÙNG - Đại tá Vũ Đình Thước .


CÓ MỘT NGƯỜI CHỈ HUY - NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI NHƯ THẾ
Trung tướng NGUYỄN QUỐC THƯỚC
Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28, 
nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3

Ai đã từng sống - chiến đấu, công tác với đồng chí Vũ Đình Thước đều để lại cho mình những ấn tượng tốt đẹp, những kỷ niệm sâu sắc về tình bạn chiến đấu, nhất là về tình cảm trong sáng đầy tình nghĩa, đầy tính nhân văn của một người đồng đội, một người anh em, một người chỉ huy quả cảm. Với tôi, đồng chí Vũ Đình Thước là một người trong số đó.
Đơn vị đồng chí Thước - Trung đoàn 66 vào chiến trường Tây Nguyên vào những tháng cuối năm 1965, còn đơn vị tôi - Sư đoàn 325B vào giữa năm 1966. Chúng tôi sống, chiến đấu cùng nhau qua các cương vị khác nhau trong đội hình bộ đội Tây Nguyên rồi đến Quân đoàn 3 mãi cho đến năm 1984 tôi về nhận công tác tại Quân khu 4, tròn 18 năm qua các chiến trường Tây Nguyên, Hạ Lào, Đông Bắc Miên, Sài Gòn (30.4.1975), chiến tranh biên giới Tây Nam với cuộc Tổng tấn công giải phóng Campuchia giúp nhân dân khỏi cuộc diệt chủng, cuối cùng trên biên giới phía Bắc trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc . Ngoại trừ một thời gian khi cuộc Tổng tấn công giải phóng Campuchia 1979 bắt đầu thì anh bị thương phải về nước điều trị một thời gian, đến khi đơn vị ra miền Bắc lại mới gặp nhau. Chừng ấy thời gian là bấy nhiêu kỷ niệm vui buồn, gian khổ ác liệt đều có nhau, mãi cho đến khi anh vĩnh biệt chúng tôi, những người đồng đội năm xưa đều tề tựu tiễn đưa anh về quê hương nằm bên cạnh tổ tiên ông bà. Anh ra đi đã khá lâu, nhưng mỗi lần gặp mặt bạn chiến đấu các đơn vị Tây Nguyên - Quân đoàn 3, những người đã từng công tác chiến đấu với anh, không có cuộc nào mà anh em không nhắc đến anh với bao kỷ niệm, bao tình cảm quý mến thân thương...
Mỗi khi nhắc đến anh, anh em thường nói đến một người chỉ huy can trường, tả xung hữu đột, chỗ nào khó là có anh với một phong cách quyết liệt, đầy ý chí, nóng như lửa trước những tình huống phức tạp, là tấm gương cho cấp dưới và chiến sĩ noi theo, và chính tấm gương dũng cảm quyết đoán đó đã giúp cho anh em, có người có lúc quá ác liệt nảy sinh do dự đã vượt lên để cùng đơn vị chiến thắng. Anh em thường nhắc đến trận đấu đọ sức với Sư đoàn kỵ binh không vận, xương sống của quân lực Hoa Kỳ lúc bấy giờ trong chiến dịch Plei Me cuối năm 1965 mà đơn vị anh cùng đơn vị bạn (E33) đã lập một kỳ tích - tiêu diệt gọn một tiểu đoàn Mỹ, đánh thiệt hại một tiểu đoàn khác, trận đầu tiên tiêu diệt gọn tiểu đoàn Mỹ trên chiến trường miền Nam . Trong trận đó, tiểu đoàn Anh vừa mới đặt chân đến khu vực Ia Đrăng, chưa biết địch "mô tê" thế nào, nhưng đã gặp ngay tiểu đoàn Mỹ trực thăng vận vào đội hình, và anh em đã can trường lưỡi lê xốc tới, đánh bại cánh quân của địch. Đơn vị Mỹ bị tiêu diệt là tiểu đoàn 1 kỵ binh không vận, chủ công của sư đoàn kỵ binh bay do tên Thiếu tá Hal Morơ chỉ huy. Sau này khi kết thúc chiến tranh, không hiểu nổi tại sao đơn vị mình lại bị tiêu diệt, năm 1993 Thiếu tá Morơ, lúc này đã được phong hàm trung tướng, muốn được sang nghiên cứu lại thực địa, tìm nguyên nhân vì sao tiểu đoàn chủ công hùng mạnh của Mỹ được máy bay và pháo binh chi viện tối đa mà bị thua quân Việt cộng. Đồng chí Vũ Đình Thước được tháp tùng Thượng tướng Nguyễn Hữu An, lúc bấy giờ là Tư lệnh chiến dịch, trực tiếp chỉ huy trận đánh đó đã cùng Trung tướng Morơ vào trực tiếp khảo sát nghiên cứu tại thực địa sau gần 30 năm. Là người trực tiếp chiến đấu tại đó, đồng chí Vũ Đình Thước đã giới thiệu chi tiết mọi diễn biến lúc bấy giờ giữa quân ta và quân Mỹ, và cuối cùng Trung tướng Morơ đã đi đến kết luận: Các ông đánh như vậy, với tinh thần "cận chiến", "bám thắt lưng địch mà đánh", triệt tiêu mọi sức mạnh của hỏa lực pháo binh và không quân, và đến nay chúng tôi mới hiểu tại sao đơn vị chúng tôi bị tiêu diệt. Câu chuyện là như vậy và qua các chiến dịch, các trận đánh từ khi là cán bộ cơ sở đến khi là cán bộ trung cao, vai trò của anh luôn được thể hiện như vậy. Anh em thường nói đi đánh với Thủ trưởng Thước (Vũ Đình Thước) là chúng tôi yên tâm. Còn nhớ trong chiến dịch xuân 1972, lúc này tôi là Trung đoàn trưởng, anh là Trung đoàn phó cùng Trung đoàn 28, sau khi tổ chức cắt đường 14 đoạn Nam Diên - Bình - Bắc Võ Định nhằm tiêu diệt mọi chi viện của địch từ Thị xã lên cứu vãn Tân Cảnh, và khi Tân Cảnh bị tiêu diệt, không cho chúng chạy về co cụm tại thị xã Kon Tum. Sau khi Tân cảnh bị tiêu diệt, bắc Kon Tum được giải phóng, bước vào mùa mưa, gạo đạn đã hết, tiếp tế phía sau không lên được, phải chuẩn bị sau một thời gian mới tổ chức tấn công vào thị xã Kon Tum. Lúc này địch đã có thời gian tăng cường lực lượng, tổ chức phòng thủ nên ta đã mất thời cơ. Mũi tấn công của Trung đoàn sau một ngày chiến đấu, 1/3 lực lượng đã lọt được vào trong, 1/3 lực lượng nằm giữa cửa mở, địch tập trung toàn bộ xe tăng, pháo binh, hỏa lực bắn thẳng ngăn chặn ta tại cửa mỏ, chiến đấu mấy ngày không phát triển được. Trung đoàn chủ trương chuyển hướng tấn công vào phía tây, hướng này còn tương đối sơ hở. Đồng chí Thước được giao nhiệm vụ chỉ huy Tiểu đoàn 1 tấn công đột phá hướng này. Lúc đầu địch bị bất ngờ, ta phát triển thuận lợi, nhưng do lực lượng ta mỏng nên cũng chỉ đột phá được một phần, rồi bị xe tăng và hỏa lực địch ngáng chân, ta bị thương vong nhiều nên không hoàn thành được mục tiêu, mà chỉ chiếm được một phần khu trung tâm Biệt khu 24 của địch, gây cho địch nhiều tổn thất. Kết thúc chiến dịch, chuyển sang thời kỳ chống lấn chiếm sau Hiệp định Pari, cuối năm 1972 tôi được điều về Bộ tham mưu Mặt trận Tây Nguyên phụ trách Trưởng phòng tác chiến trực tiếp theo dõi chỉ đạo tình hình chiến sự trên các hướng. Đồng chí Vũ Đình Thước được giao nhiệm vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28 (trước đó đồng chí Nghiêm Xuân Núi đảm nhiệm một thời gian ngắn). Anh đã chỉ huy có hiệu quả trong việc chống quân địch xông ra lấn chiếm, đã có nhiều trận đánh tiêu diệt gọn tiểu đoàn địch, đánh thiệt hại các tiểu đoàn khác, giữ vững vùng giải phóng bắc thị xã Kon Tum, ép địch càng ngày càng co về chống đỡ xung quanh ven thị xã.
Trong đợt hoạt động đó Trung đoàn 28 do anh trực tiếp chỉ huy đã có 1 trận đánh vang dội, hiệu suất chiến đấu rất cao, tiêu diệt và bắt sống xem như toàn bộ tiểu đoàn biệt động quân ác ôn khét tiếng 95 nống ra vùng giải phóng của ta, trận đánh mà ta diệt và bắt gọn toàn bộ ban chỉ huy tiểu đoàn, thu toàn bộ vũ khí và phương tiện thông tin, chỉ còn 19 tên tàn quân tháo chạy tán loạn trong rừng, sau 1 ngày mới tìm được về thị xã (tin kỹ thuật địch). Kể một số sự kiện để chứng minh cho năng lực chỉ huy chiến đấu của anh, còn các chiến dịch khác chắc nhiều đồng chí sẽ kể thêm về anh...
Đối với đồng chí Vũ Đình Thước, ở cương vị chỉ huy chiến đấu là như thế, nhưng ở cương vị là người đồng đội, dù đối với trên hay dưới, nhất là đối với cấp dưới, anh lại có điểm vượt trội hơn của một người chỉ huy với nghĩa tình anh em, với tính nhân văn của người anh chân chính hết sức yêu thương và trách nhiệm. Với cấp dưới khi nào anh cũng tỏ ra nghiêm khắc trong công vụ, trong chiến đấu. Thái độ gay gắt, quyết liệt thậm chí có lúc nóng giận, quát tháo khi mà cấp dưới không quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, nhất là trước nhiệm vụ chiến đấu trực tiếp ảnh hưởng đến sinh mệnh chiến sĩ và nhiệm vụ của đơn vị. Một sự dễ dãi khuất tất để ảnh hưởng tới sinh mệnh chiến sĩ đối với anh là không thể chấp nhận. Sau một trận đánh việc đầu tiên anh hỏi cấp dưới là có bao nhiêu thương vong, liệt sĩ, thương binh đã đem ra hết chưa? Tôi nhớ lần anh chỉ huy Tiểu đoàn 2 đột phá vào thị xã Kon Tum từ hướng Tây, ta không đạt được như ý muôn, một số bị thương vong trong cửa mở. Lúc này quyết định anh giao lại cho ban chỉ huy tiểu đoàn để về nhận nhiệm vụ nặng nề hơn trên hướng khác. Sau khi cho đơn vị rút ra, số thương vong trong trận địa chưa ra hết, anh đã quyết định ở lại để chỉ huy anh em trong trận địa ra xong và chính anh là người ra cuối cùng. Vào những ngày cuối cùng của chiến dịch năm 1972 khi đánh vào thị xã Kon Tum, lúc này anh đi với Tiểu đoàn 1 tăng cường cho Sư đoàn 2 Quân khu 5, sau nhiều ngày chiến đấu, gạo đạn không còn, anh điện về cho tôi tình hình và để nghị tiếp tế thêm một ít gạo đạn. Thực tế lúc này tại sở chỉ huy cơ bản không còn một hạt gạo, toàn cơ quan dựa vào số sắn củ mà đồng chí Sỹ - Bí thư Tỉnh ủy huy động của dân, nhưng chỉ ăn bằng cháo sắn. Sợ anh điện bằng điện PRC25 phương tiện thông tin lấy được của địch, nó theo dõi biết được hoàn cảnh của ta thì rất nguy hiểm. Tôi liền điện bằng tiếng lóng: Tăng cường cho anh 12 khẩu pháo (thực tế là 12 gùi sắn đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cho, nay dành cho tiểu đoàn), còn ở nhà câu lạc bộ vui lắm (ý là chỉ sống bằng tinh thần, không còn gì).
Anh nghiêm khắc với chiến sĩ, nhưng lúc khó khắc ác liệt anh rất thương chiến sĩ, cũng vì lẽ đó nên đến nay anh đã đi xa, nhưng mọi người đều nhắc đến anh với lòng quý mến. Cũng trong chiến dịch năm 1972, sau khi kết thúc đơn vị về đứng chân sẵn sàng chiến đấu ở khu vực Bắc Võ Định, tình hình đơn vị rất khó khăn, đơn vị hết gạo, phải chờ tiếp tế từ phía Tây sang, nên mỗi ngày mỗi người chỉ được 1 đến 2 lạng gạo. Lúc này đồng chí Vũ Đình Thước trao đổi với tôi làm sao tìm cách cải thiện cho anh em. Tôi hỏi cải thiện bằng cách nào? kỷ luật vùng mới giải phóng, dân sợ di tản hết, không được đụng đến bất kỳ vật dụng tài sản của dân, chỉ có ra rừng tìm rau môn thục và măng tre để thêm vào nồi cháo loãng. Đồng chí im lặng không nói thêm gì.
Một hôm đồng chí ra nghiên cứu địa hình ở khu vực Võ Định - Trí Đạo, nơi Trung đoàn 66 đang tiếp quản. Thấy Trung đoàn 28 quá khó khăn, anh em cho đồng chí Thước mấy quả mít về cải thiện - không báo cáo với tôi, anh cho anh em vệ binh giấu xung quanh hầm chỉ huy, chờ khi chín sẽ chia cho anh em cơ quan. Buổi sáng hôm sau khi đang giao ban tôi cảm thấy có mùi mít chín. Hỏi không ai trả lời. Sáng hôm sau mùi mít lại càng nhiều. Tôi liền hỏi ai lấy mít ở đâu về? Cả cuộc họp im lặng, một lúc sau đồng chí Thước đứng lên nói: Báo cáo anh, hôm kia đi nghiên cứu địa hình, anh em Trung đoàn 66 có cho tôi mấy quả mít, ý định khi chín sẽ đem chia cho anh em cơ quan mỗi người một ít, vì lâu rồi bị đói quá, thương anh em quá, đề nghị anh chấp nhận vì đây không phải tự tiện lấy của dân. Hiểu được ý thức kỷ luật và tấm lòng của anh, mọi người trong cơ quan hết sức cảm kích, tôi và đồng chí chính ủy cũng đồng tình. Mãi mấy hôm sau gạo từ phía tây đường 14 mới tiếp tế sang, lúc này cán bộ chiến sĩ mới ấm lòng. Câu chuyện tưởng ra là bình thường, nhưng ai có hiểu hết được nội tâm của nhau lúc này mới thấy quý giá, mới thấy được tấm lòng của người chỉ huy, trưởng thành từ cơ sở suốt cuộc kháng chiến, sau này đã trở thành một cán bộ cấp cao của quân đội, người đó là đại tá Vũ Đình Thước.
Mấy năm anh đã đi xa, nhưng mỗi lần gặp nhau trong ngày truyền thống của Trung đoàn không ai không nhắc đến anh với lòng quý trọng và mến thương. Và trong cuộc đời của người chỉ huy, dù ở cấp nào cũng không phải ai cũng được sự ân tình lưu luyến thân thương đến như vậy. Cái đó mọi chúng ta hãy tự suy nghĩ để tự giải đáp cho mình.


Đại tá Vũ Đình Thước - người đứng thứ 3 từ trái sang đang nhận nhiệm vụ từ Tư lệnh Quân đoàn 3 Kim Tuấn ( tháng 12/1978 )

    

TRUNG ĐOÀN 28 - SƯ ĐOÀN 10 THAM GIA TẤN CÔNG GIẢI PHÓNG PHNOM PENH

TRUNG ĐOÀN 28 - SƯ ĐOÀN 10 THAM GIA TẤN CÔNG GIẢI PHÓNG PHNOM PENH
                                          Nguyễn Đình Thi 

13 giờ ngày 6/1/1979 , sau khi đánh tan tuyến phòng ngự của địch ở Bắc đường 7 do 1 Sư đoàn quân Pôn Pốt phòng ngự , đội hình Trung đoàn 28 đơn vị đi đầu của Sư đoàn 10 đã có mặt tại phía Bắc sông Kompong Cham . Mặc dù lúc này Sư đoàn 320 đã chiếm được thị xã Kompong Cham nhưng do địa hình đường 7 chật hẹp , các phương tiện xe cộ chở vũ khí , khí tài và xe chở bộ đội rất đông nên ảnh hưởng tới xe bắc phà của công binh đi ở phía sau , mãi 15 giờ 30 bộ đội công binh mới ghép xong được phà . Sông Mê Công đoạn thị xã Kompong Chàm rất rộng , tới hàng km nên tới 18 giờ toàn bộ đội hình Trung đoàn cùng xe tăng , xe bọc thép , pháo binh mới qua hết được sông . Theo yêu cầu của Bộ chính trị các đơn vị tấn công Phnom Penh phải giải phóng xong Phnom Penh trước ngày 8/1 để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của bạn ( CPC) nên khi đội hình vừa qua sông , Bộ Tư lệnh Sư đoàn yêu cầu Trung đoàn 28 phải tổ chức lực lượng hành tiến đánh địch ngay trong đêm 6/1 , để ngày 7/1 có mặt tấn công Phnom Penh . Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn vì từ thị xã Kompong Cham tới Phnom Penh dài hơn 100 km , lại phải tổ chức tác chiến hành tiến trong đêm , Trung đoàn chưa bao giờ tổ chức , địa hình thì hoàn toàn mới lạ , thời gian thì rất gấp , chỉ còn hơn chục giờ đồng hồ . Do tính chất vừa cấp bách , vừa rất quan trọng và khó khăn của trận đánh , Bộ Tư lệnh Sư đoàn cử đồng chí Sư đoàn phó Trần Ngự trực tiếp đi cùng để chỉ đạo Trung đoàn 28 . Để tăng thêm sức mạnh chiến đấu cho Trung đoàn , Tư lệnh Quân đoàn 3 - Kim Tuấn quyết định tăng cường thêm cho Trung đoàn 5 xe bọc thép lội nước PT76 đang đi cùng Sư đoàn 320 . 18 giờ 30 , ngày 6/1/79 , từ thị xã Kompong Cham , 120 xe ô tô chở bộ đội , chở xe pháo các loại dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Vũ Khắc Đua bắt đầu xuất phát tấn công . Để đảm bảo đánh chắc thắng và đến kịp thời gian theo yêu cầu của trên . Cách đánh hành tiến trong đêm 6/1 của Trung đoàn được tổ chức như sau : Dùng đại đội 1 - đại đội chủ công của Tiểu đoàn 1 được tăng cường xe tăng , xe thiết giáp , trinh sát , công binh đi cùng . Lực lượng này dùng hỏa lực 12ly 7 trên xe và pháo cao xạ 37 ly bắn về phía trước và bắn sang 2 bên đường , uy hiếp quân địch , làm cho quân địch dãn ra 2 bên để đội hình toàn Trung đoàn hành tiến . Hỏa lực của các đơn vị như : cối 82 ly , DKZ giá sẵn trên các sàn xe tải , sẵn sàng nhả đạn khi gặp địch . Nơi nào địch tập trung quân và hoả lực ngăn chặn thì dùng pháo xe tăng và pháo binh đi cùng tấn công tiêu diệt . Tầm 20 giờ đêm 6/1 , sau khi vượt qua thị xã Kompong Cham chừng gần chục km , Trung đoàn gặp một trận địa phòng ngự của địch mới lập ở đây sau khi Kompong Cham thất thủ , xung quanh khu vực phòng ngự chúng dải rất nhiều mìn . Trung đoàn đã tập trung hỏa lực xe tăng , pháo mặt đất tấn công , hỗ trợ cho trinh sát và công binh nên gỡ mìn . Trước sức tấn công áp đảo của ta tuyến phòng ngự của địch ở đây nhanh chóng bị phá vỡ , một số bị tiêu diệt , một số bỏ chạy , trong đó có tên Son Sen - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vừa lên tới đây để trấn an tinh thần quân lính . 23 giờ , Trung đoàn phát triển tới ngã 3 Si -Kun , điểm giao cắt giữa đường 7 và đường 6 , đây là Sở chỉ huy của vùng 41 . Khi thấy lực lượng của ta xuất hiện , địch tổ chức chống trả . Xe tăng , xe thiết giáp của ta dũng mãnh tấn công , xông thẳng vào trận địa địch . Sau 15 phút chiến đấu ta làm chủ hoàn toàn trận địa , tại đây ta thu 5 pháo 37 , 2 pháo 105 ly cùng một số ô tô chở đầy súng đạn . 3 giờ sáng ngày 7/1 , Trung đoàn phát triển tới dãy núi Phu Chê , cách phà Tông Lê Sap chừng 3 km . Do trời tối không phát hiện được lực lượng địch phòng thủ tại đây nên 1 xe bọc thép của Trung đoàn bị địch bắn cháy , một xe bọc thép khác bị địch bắn hỏng , đội hình của Trung đoàn bị ùn lại . Sư đoàn phó Trần Ngự cùng Trung đoàn trưởng Vũ Khắc Đua quyết định dùng pháo 105 ly , pháo 85 ly và cả pháo cao xạ 37 ly bắn thẳng vào trận địa phòng ngự của địch , đồng thời tổ chức cho bộ binh cùng xe bọc thép vòng sang 2 bên tấn công . Sau 1 giờ chiến đấu toàn bộ quân địch chốt giữ ở đây đã bị tiêu diệt . 6 giờ sáng ngày 7/1 , đội hình Tiểu đoàn 1 do Tiểu đoàn trưởng Đỗ Bá Tỵ chỉ huy đã phát triển tới bến phà Ton le sap. Tại bến phà Ton le sap , binh lính địch cùng hàng trăm xe cộ các loại bị ta đánh ở các nơi , rút chạy về đây nằm ngổn ngang trên bến phà . Khi thấy bộ binh cùng xe tăng , xe bọc thép của ta xuất hiện đã hoảng loạn bỏ chạy . Ta tổ chức truy kích , tiêu diệt hàng trăm tên . Trước tình hình xe cộ của địch quá nhiều đỗ ngổn ngang trên bến phà , chặn không còn lối xuống cho xe tăng , xe bọc thép và xe chở bộ đội vượt sông . Ban chỉ huy Trung đoàn đã bàn với Lữ đoàn công binh số 7 và Lữ đoàn 249 công binh tổ chức bến vượt mới . Pháo binh Trung đoàn 4 đi cùng lúc này được lệnh bắn sang bờ sông phía Bắc ghìm đầu quân địch để chi viện cho công binh mở bến , ghép phà . 10 giờ , ngày 7/1 , Tiểu đoàn 1 cùng một số xe tăng , xe bọc thép đã vượt qua sông , Trung đoàn phó Lương Công Hiển và Trung đoàn phó Nguyễn Hồng Kháng nhanh chóng tổ chức cho bộ đội đánh chiếm các mục tiêu khu phố phía Tây và Takleat , nhà máy xay , nhà máy hoa quả , khó súng đạn , kho xi măng , xưởng cơ khí . 11 giờ , Tiểu đoàn 1 đã chiếm được Hoàng Cung và bắt liên lạc được với lực lượng chủ công Quân đoàn 4 đánh từ hướng phà Nếc Nương tới , hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Phnom Penh .
Trận tấn công đêm 6/1 và sáng ngày 7/1/1979 trên trục đường 7 và thủ đô Phnom Penh của Trung đoàn 28 là một trận đánh cực kỳ táo bạo . Trong lịch sử chiến đấu của Quân đội ta CHƯA CÓ MỘT TRẬN TẤN CÔNG TRONG ĐÊM BẰNG BINH CHỦNG HỢP THÀNH QUY MÔ LỚN VÀ TRÊN MỘT CHẶNG ĐƯỜNG DÀI NHƯ TRẬN TẤN CÔNG NÀY . Bằng trận thắng này một lần nữa Trung đoàn 28 thật xứng danh với truyền thống vẻ vang TRUNG ĐOÀN ANH HÙNG .
( Mời các bạn đón xem bài : CUỘC TẤN CÔNG THẦN TỐC GIẢI PHÓNG CÁC TỈNH XUNG QUANH KHU VỰC BIỂN HỒ CỦA SƯ ĐÒAN 10 vào số tới )

Hình : quân tình nguyện Việt Nam và quân đội CPC tấn công giải phóng Phnom Penh tháng 1/79
    

TIẾN VÀO HANG Ổ CUỐI CÙNG CỦA ĐỊCH Ở TÀ SANH

TIẾN VÀO HANG Ổ CUỐI CÙNG CỦA ĐỊCH Ở TÀ SANH    

Trần Thụ - Nguyên cán bộ Sự đoàn 31

   Sau khi Phnôm Pênh và một số tỉnh thất thủ , Pôn Pốt và cơ quan Trung Ương của chúng chạy về dãy núi phía Tây Căm Phu chia , giáp biên giới Thái Lan lập Sở chỉ huy mới . Đây là cơ quan đầu não của địch . Phải quyết tâm tiêu diệt bằng được bọn chúng . Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao cho Quân đoàn 3 nhanh chóng tổ chức lực lượng đánh thẳng vào cơ quan đầu não này . Sư đoàn 31 lúc này đang đóng quân ở Xiêm Riệp đã được lệnh cơ động về khu vực Căng Hót , tây nam tỉnh Bát Tam Băng trước ngày 18 tháng 3 năm 1979 để thực hiện nhiệm vụ này . Ngày 20 tháng 3 năm 1979 đồng chí Nguyễn Quốc Thước - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn giao nhiệm vụ cho Sư đoàn là : tấn công tiêu diệt căn cứ Trung ương của Pôn Pốt ở Tà Sanh . Đây là mục tiêu cực kỳ quan trọng có tính chất quyết định cho công cuộc cách mạng của nhân dân Cam Phu Chia . Tà Sanh - là một bản của đồng bào nằm giáp biên giới Thái Lan cách Bát Tam Băng tới 60 km, để đến được đây phải vượt qua dãy núi Đăng Rếch hiểm trở . Đặc biệt là khu vực này rất hiếm nước .
Tại Vưòn Cam nơi tập kết tiền phương Sư đoàn bộ 31 và Trung đoàn bộ 866 , hội nghị Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn do đồng chí Trần Thụ - Bí thư Đảng ủy chủ trì, đồng chí Bùi Thanh Điếm - Trung đoàn trưỏng phổ biến quyết tâm, cách đánh trong hành tiến kết hợp thọc sâu, luồn sâu được các cán bộ bộ binh, binh chủng đồng tình nhất trí.
Ngày 23 tháng 3 , Trung đoàn được tăng cường đại đội xe tăng 4 chiếc, đại đội thiết giáp 4 xe, 2 pháo 85mm, 2 pháo 105mm, đại đội công binh; trong khi triến khai nhiệm vụ thì có ngưòi dân Cam-pu-chia tại Vườn Cam, chị Sô Pi 35 tuổi cho biết đường vào Tà Sanh dài 30-40km, không có suối nước, muốn đến phải mang nước theo. Theo yêu cầu của Trung đoàn 866, Sư đoàn tổ chức một đội xe gồm 5 chiếc , chở 100 thùng phuy nước cơ động theo bộ đội, mỗi cá nhân mang theo 2 lít nước. Trong 3 ngày vừa cơ động, vừa đánh địch mở đường ở Bãi Bằng , Ta Tếch, Thơ Minh, đánh 7 trận cấp tiểu đoàn.
Đúng 6 giờ 30 phút ngày 27 tháng 3 Trung đoàn 866 tiến công căn cứ Tà Sanh, pháo bắn chuẩn bị 100 viên vào mục tiêu. Tiểu đoàn trưởng Mai Nga chỉ huy Tiểu đoàn 3 cùng 4 xe thiết giáp tấn công hướng chủ yếu, phát hiện bãi mìn và xe tăng địch đánh chặn phải dừng lại. Trung đoàn xốc lại đội hình, tổ chức Đại đội 5 Tiểu đoàn 2 dùng 3 xe thiết giáp đánh vu hồi vào cụm xe tăng địch, cùng lúc Tiểu đoàn 3 và 4 xe tăng ta tấn công chính diện, một đại đội của Tiểu đoàn 1 bất ngờ đánh từ hướng bắc xuống, 4 xe tăng địch tháo chạy về Săm Lốt bị ta chặn đánh, 11 giờ Tiểu đoàn 3 nhanh chóng đột phá vào khu trung tâm cứ điểm, Tiểu đoàn 1 cũng chiếm được các mục tiêu ở tây bắc, địch hốt hoảng bỏ chạy, hầu hết bị ta đón lõng, bắt làm tù binh, chiến sĩ nuôi quân Tiểu đoàn 1 bắn cháy 1 xe tăng, trận chiến đấu diễn ra 3 giờ rưỡi.
Lúc 14 giờ 30 phút ngày 27 tháng 3, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ Tà Sanh, trên 700 tên địch thuộc Trung đoàn cận vệ Phnôm Pênh bảo vệ cơ quan trung ương của Pôn Pốt bị loại khỏi vòng chiến đấu; ta thu 14 kho vũ khí cùng hàng trăm phương tiện chiến tranh.
Sáng ngày 28 tháng 3 năm 1979, Tiểu đoàn 2 tiếp tục đánh chiếm phum Tức Xóc, nơi đặt Đài phát thanh và cơ quan trung ương tàn quân Pôn Pốt. Tiểu đoàn 1 cơ động vào Tuân Tác phát hiện và đánh chiếm cơ quan trung ương và bộ ngoại giao Khơ-me đỏ, thu nhiều tài liệu, 2 con dấu bộ ngoại giao và vùng 4, hộ chiếu Iêng Xari, tên Pôn Pốt , Iêng Xari bỏ trốn vào rừng, chạy sang biên giới Thái Lan. Trung đoàn 866 thu nhiều tài liệu, hàng hoá, kim loại quý nộp lên trên bàn giao cho bạn.
Ngày 21 tháng 4 Trung đoàn 866 được Bộ Quốc phòng tặng cờ luân lưu thi đua quyết thắng toàn quân, Huân chương Quân công hạng Ba và được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1979.
    

BAN LIÊN LẠC BẠN CHIẾN ĐẤU MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN ( B3 ) - QUÂN ĐOÀN 3 DỰ LỄ KHÁNH THÀNH NHÀ BIA TƯỞNG NIỆM CÁC LIỆT SỸ SƯ ĐOÀN 320 HY SINH Ở ĐIỂM CAO 1015 VÀ 1049 - KON TUM

Để tưởng nhớ tới các đồng đội đã anh dũng hy sinh trong trận đánh tại điểm cao 1049 và 1015 ở Kon Tum, ngày 12/5/2018, đoàn cán bộ Ban liên lạc Bạn chiến đấu Mặt trận Tây Nguyên ( B3 ) - Quân đoàn 3 do Trung tướng Nguyễn Vĩnh Phú - trưởng ban và Trung tướng Mai Hồng Bỉnh - phó ban thường trực đã vào Kon Tum dự lễ khánh thành nhà bia tưởng niệm các Liệt sỹ của Sư đoàn 320 hy sinh tại điểm cao 1049 và 1016.
Sau đây là một số hình ảnh buổi lễ khánh thành nhà bia tưởng niệm.















    

LĂNG CHA CẢ - SÀI GÒN NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 ( phần 2 )

Vừa qua nhân ngày 30/4, trang Lính Tây Nguyên có đăng bức hình 3 chiếc xe tăng của Trung đoàn xe tăng 273 đi cùng Trung đoàn 24 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất và phía trước cổng Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn bị địch bắn cháy ở khu vực Lăng Cha Cả để làm minh chứng về sự ác liệt của trận đánh và cái giá chúng ta phải trả cho trận đánh cuối cùng này.Thực ra trận đánh vào Sài Gòn sáng 30/4 của Trung đoàn 24 và Trung đoàn xe tăng 273, mũi tấn công này của ta bị địch bắn cháy tất cả 7 xe tăng và 1 xe bọc thép ( tại ngã tư Bảy Hiền ta bị  địch  bắn cháy 2 xe tăng, tại Lăng cha Cả ta bị địch bắn cháy 5 xe tăng, 1 xe bọc thép ). Theo tôi đây là một trong những bức hình sống động nhất về sự khốc liệt của cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Sau khi bài báo đăng có một số bạn hoài nghi về bức hình, cho là ảnh dựng, ảnh minh họa.
Để bạn đọc hiểu rõ về trận đánh có bức hình 3 chiếc xe tăng cháy, Trang Lính Tây Nguyên xin đăng lại bài viết của Nguyễn Đình Thi, lúc đó là chính trị viên phó đại đội 2 - Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10, đại đội đi trên 3 chiếc xe tăng bị cháy này .

LĂNG CHA CẢ - SÀI GÒN NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 
( phần 2 )

                                                  Ghi chép của Nguyễn Đình Thi - Trung đoàn 24 

... 8 giờ sáng 30/4 , sau khi vượt qua ngã tư Bảy Hiền đội hình xe tăng đi cùng đại đội 2 tiến tới Lăng Cha Cả . Lăng Cha Cả là khu Lăng mộ của một giáo sĩ người Pháp có tên là Bá Đa Lộc, rộng chừng 2.000m2, ba mặt đều trống, rất tốt cho việc phòng thủ. Từ đây tới cổng số 5 Sân bay không xa, chừng hơn 200m, cách Bộ Tổng tham mưu Ngụy cũng chừng 300 đến 400m. Đây là hai khu vực quân sự rất trọng yếu nên địch phòng thủ ở đây rất mạnh: Xe tăng, xe bọc thép, hoả lực các loại, hỏa tiễn chống tăng M72 được chúng bố trí ở những vị trí hiểm yếu và trên các nóc nhà , cả trên các xe di động. Ngoài số quân đã có sẵn ở đây, ngày 26/4/75, chúng còn tăng cường cho hai khu vực này Liên đoàn 81- biệt cách Nhảy Dù với số quân trên 1000 tên, do thiếu tá Phạm Châu Tài chỉ huy. Mật độ quân số bố phòng của địch ở đây như vậy là rất lớn, lại là lực lượng tinh nhuệ nhất của quân Ngụy Sài Gòn .
Sau khi chiếm được một phần khu vực Lăng Cha Cả, xe tăng, xe bọc thép của Đại đội 2 và đại đội 7 đánh phát triển theo dãy phố bên phải đường Võ Tánh. Địa hình ở đây rất bất lợi cho ta vì tầm nhìn phía bên phải bị che khuất bởi dãy nhà , mà hỏa lực của chúng lại tập trung nhiều ở hướng này (phía trước Bộ Tổng Tham mưu). Xe tăng đầu tiên 875 vừa vượt hết dãy phố, nhô đầu ra khoảng trống thì bị hỏa tiễn M72 đặt trên một cái tháp đang xây dở ở phía trước cổng Bộ Tổng Tham mưu bắn tới. Đứng cách xe tăng 875 chừng 30m, tôi thấy một quả cầu lửa lớn bùng lên ở phía đầu xe, bộ đội ngồi trên xe rơi tự do xuống đất. Từ phía sau chiếc xe tăng thứ 2 tiếp tục lao lên . Cũng như chiếc xe tăng 875, chiếc xe này vừa nhô đầu ra khỏi dãy phố, lại trúng hỏa tiễn của địch, xe bốc cháy dữ dội . 2 chiếc xe tăng vừa cháy chặn mất đường . Bất chấp nguy hiểm , lách sang trái hai chiếc xe vừa cháy, chiếc xe tăng thứ ba húc tung dải phân cách đường , tiếp tục lao lên, nhưng vừa nhô ra khỏi khoảng trống của dãy nhà, lại bị bắn cháy.
Thế là trong vòng chưa đầy 20 phút cả ba chiếc xe tăng của ta đã cháy tại đây- Lăng Cha Cả. Thật đau xót. Thật đáng khâm phục các chiến sỹ xe tăng quả cảm, anh hùng .
Không biết có phải bọn địch được tiếp sức bởi việc bắn cháy xe của ta hay không mà lúc này chúng bắn ra càng dữ dội. Đạn nổ khắp nơi, liên hồi, tôn che trên mái hiên rơi loảng xoảng. Cả khu vực Lăng Cha Cả mù mịt khói đạn. Tôi cùng mấy anh em của Đại đội 2 bị thương ở chiếc xe tăng đầu tiên gồm có Thêu - văn thư, Thiện – A trưởng, Thếnh – B phó , Tô - A phó , Việt - chiến sỹ nằm rạp ở hè tránh đạn. May quá số anh em này chỉ bị thương nhẹ. Chỉ có Thêu bị một mảnh đạn xuyên qua hàm, đa số còn lại bị bỏng và bị sức ép. Nằm ở hè được một lúc , thấy không an toàn vì chỗ nãy trống trơn , mảnh đạn địch bay vèo vèo, rất nguy hiểm. Không cẩn thận anh em thương binh lại bị thương một lần nữa. Mấy lần định đưa anh em lùi lại phía sau nhưng đều không được vì đạn nổ dữ quá. Tôi và mấy anh em quyết định đập mạnh vào cửa xếp ngôi nhà chúng tôi đang nằm tránh đạn, gọi chủ nhà ra mở cửa. Gọi mấy lần không thấy thưa, đang định phá cửa thì may quá ông chủ nhà ra mở cửa. Cửa mở, mọi người ào vào trong. Việt đi cùng tôi hỏi ông chủ nhà.
- Có lối nào xuống phía sau được không ông? Lúc đầu ông có vẻ sợ sệt. Không biết có phải ông sợ chúng tôi hay sợ đạn địch đang nổ? Nhưng chỉ một lát sau ông lấy chìa khoá, mở cửa sau nhà ra một con hẻm, rồi chỉ dẫn cho chúng tôi lùi xuống phía sau.
Sau ngày giải phóng Phạm Minh Việt - chiến sĩ cùng tôi vào nhà ông hôm đó có trở lại thăm ông và gia đình. Ông cho biết: ông là người Hà Đông, vào đây từ năm 1954, vốn là thợ may từ ngày ở miền Bắc, khi vào đây ông vẫn làm nghề này. Lấy tên là tiệm may Hải Phòng. 41 năm rồi không biết ông có còn không? nhưng tấm lòng của ông hôm đó thì chúng tôi vẫn luôn nhớ mãi.
Vừa lùi xuống đầu đường Trương Minh Ký thì thấy đạn địch từ đâu bắn đến chiu chíu trước mặt, cày thành từng vệt trên đường nhựa. Ngoảnh lại phía sau, tôi giật mình nhìn thấy một chiếc trực thăng đỗ trên nóc ngôi nhà bên kia đường Trương Minh Ký. Hoá ra bọn địch ở đây đang bắn xuống chúng tôi. Tôi hô mọi người dùng AK bắn về phía bọn này. Một lúc sau thấy tiếng súng của địch ở đây im hẳn. Sau này tìm hiểu tôi được biết. Chiếc trực thăng đó chiều 29/4 có nhiệm vụ đến đón gia đình một viên tướng Ngụy đi di tản. Khi cất cánh, cánh máy bay va đập vào nhà bên cạnh, bị hỏng. Máy bay không bay lên được, phải nằm lại.
Khi tôi và mấy anh em Đại đội 2 lùi xuống được phía sau thì đội hình tiểu đoàn 5 phát triển lên cũng dồn lại ở khu vực đầu Lăng Cha Cả. Xe tăng, xe bọc thép của ta cũng ùn lại tại đây. Gặp 2 khẩu cối, 1 khẩu 82 ly, 1 khẩu 60 ly ( chắc là của Đại đội 8 - Tiểu đoàn 5 ) đang ùn ở đó. Tôi yêu cầu anh em đặt khẩu cối ngay giữa đường, bắn cầu vồng vào phía trong. Vì lúc này vướng nhà, hỏa lực xe tăng không phát huy được. Mặc dù không phải cán bộ chỉ huy trực tiếp của phân đội này. Nhưng nghe tôi nói, anh em chấp hành ngay. Cả 2 khấu cối cứ thế liên tục nã đạn vào sâu phía trong, bắn tới lúc không còn quả đạn nào.
Tôi biết được Dương Văn Minh – Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng khi lệnh này trôi qua khoảng hơn 20 phút. Chả là lúc đang đánh nhau thì thấy một đoàn xe lam 4 - 5 chiếc, trên xe toàn thanh niên đeo băng đỏ. Trống, chiêng rầm rầm, xe nào cũng treo cờ giải phóng, chạy từ phía ngã tư Bảy Hiền lên. Hô lớn:
- Dương Văn Minh đầu hàng rồi các chú ơi!
- Hòa bình rồi các chú ơi!
Thấy vậy tôi đứng ra giữa đường ngăn và nói lớn:
- Yêu cầu tất cả quay lại. Ở đây vẫn còn đang đánh nhau !
Số thanh niên này có vẻ chưa tin lời tôi nói. Đúng lúc đó pháo của địch bắn tới, nổ rầm rầm. Cả đoàn xe hốt hoảng, rú ga quay đầu chạy.
Khi tiếng súng ở các nơi trong nội đô Sài Gòn thưa dần sau tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh thì tại khu vực Lăng Cha Cả cuộc chiến của tiểu đoàn 5 – Trung đoàn 24 vẫn diễn ra rất ác liệt. Bọn lính dù ở đây quả là rất ngoan cố. Chúng vẫn coi như chưa biết gì về lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Trung đoàn trưởng Vũ Tài quyết định điều hai khẩu pháo 85 ly nòng dài lên hỗ trợ tiểu đoàn 5 tấn công. Khẩu đội pháo đầu tiên của Trung Đoàn 4 - Pháo binh do Đại đội trưởng Chính - quê Ninh Bình chỉ huy vừa vào tới khu vực bên trái Lăng Cha Cả , đang triển khai pháo, chưa kịp nổ súng, lại trúng hỏa tiễn của địch. Pháo hỏng, cả khẩu đội cùng Đại đội trưởng Chính hy sinh. Trước tình hình pháo binh chưa thể triển khai tấn công được. Trung đoàn phó Trương Văn Việt và Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 – Lê Xuân Chuyển quyết định đột phá sang khu vực bên trái Lăng Cha Cả. Bộ binh các đại đội 5, 6, 7 chia thành 2 mũi. Một mũi cùng xe tăng đánh theo cổng số 5. Một mũi đánh vào cổng phía Tây. Tại cổng số 5, địch vẫn chống trả rất quyết liệt, thêm 3 xe tăng nữa của ta lại bị địch bắn hỏng nặng. Các chiến sỹ xe tăng không dời xe, dùng súng 12,7 ly trên xe bắn hỗ trợ cho bộ binh tấn công. Ở cổng phía Tây, 3 xe tăng của Đại đội 1 cùng 4 xe thiết giáp của Đại đội 11 phát triển khá thuận lợi đã nhanh chóng cùng bộ binh Đại đội 5 và 6 đánh thẳng vào trong Sân bay. Chiếm được Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 không quân, Khu truyền tin, Khu cố vấn, Khu ra đa. Toàn bộ quân địch còn lại ở đây đã nhanh chóng bị tiêu diệt .
Trong lúc tôi và một số anh em của đại đội 2 đi cùng xe tăng đánh nhau ở khu vực Lăng Cha Cả thì đại đội 2 lúc trước do nhận lệnh nhầm, đã được lệnh quay trở lại cùng đội hình tiểu đoàn 4 đánh vào Bộ Tư lệnh Sư đoàn Dù ở đường Hoàng Hoa Thám . Lúc 10h30, tiểu đoàn 4 đã tấn công vào Bộ Tư lệnh Sư đoàn Dù. Địch ở đây chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy. Lợi dụng địa hình Sư đoàn Dù tiểu đoàn 4 vừa chiếm, tiểu đoàn 6 đánh phát triển vào trong Sân bay từ hướng Tây Bắc. Chiếm được Bộ tư lệnh Không quân và gặp phái đoàn quân sự của ta ở đây. 11giờ 30, Trung đoàn đã làm chủ hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất .
Chiều 30/4 tôi và một số anh em đại đội 2 được giao nhiệm vụ giải quyết công tác tử sỹ tại khu vực 3 chiếc xe tăng cháy. Tôi nhận ra anh Khúc Duy My. Trợ lý tác chiến của tiểu đoàn, chết nằm ở bên trái chiếc xe tăng cháy đầu tiên. Anh đi cùng anh em Đại đội 2 trên chiếc xe tăng này. Lúc ở Ban Tuyên huấn Trung Đoàn cùng tôi ,anh là đội trưởng đội Tuyên văn. Anh có biệt tài kéo nhị và diễn hài. Là lính Văn nghệ nhưng anh vẫn mang đậm chất nông dân, hút thuốc lào liên tục, giọng thì lúc nào cũng têu tếu. Sáng nay, lúc dừng chân ở đường Lê Văn Duyệt chờ lệnh tấn công, tôi và anh còn đứng nói chuyện với nhau. Anh đi đi lại lại trong đội hình tiểu đoàn, tay lăm lăm khẩu K54, trông thật hài. Anh hy sinh vào đúng những phút cuối của cuộc chiến. Xót xa làm sao! Thế là 5 anh em trong đội Tuyên văn xuống đơn vị hồi đầu năm, hôm nay anh là người thứ 3 lại ra đi, trước đó là anh Then và Thành.
Khoảng 16 giờ, tôi và mấy anh em Đại dội 2 mới giải quyết xong công việc ở chỗ những chiếc xe tăng cháy. Sài Gòn lúc này đã sang chiều, nắng vàng trải nhẹ trên các đường phố, gió từ sông Sài Gòn thổi vào mát rượi. Đường phố rợp cờ, hoa, người đông nghịt, trong đó có rất nhiều binh lính của chế độ Sài Gòn cởi trần, đi chân đất, mặc mỗi chiếc quần đùi. Quần áo, phù hiệu, giày, mũ và các thứ liên quan đến lính Ngụy họ vứt đi hết. Đi từ hướng Củ Chi vào nội thành. Họ cũng vui mừng không kém gì chúng tôi. Chiến tranh dài dằng dặc thế là đã kết thúc.
Sau ngày giải phóng, mỗi lần từ Miền Bắc vào Sài Gòn, tôi đều trở lại Lăng Cha Cả để tìm dấu tích kỷ niệm xưa và thắp nén nhang cho đồng đội. Lần trở lại gần đây, tôi không còn nhận ra Lăng Cha Cả năm xưa nữa. Khu vực này đã đổi khác hoàn toàn. Cả cái Lăng Cha Cả giờ cũng không còn. Nơi đây giờ là một nút giao thông rộng lớn, rất đẹp, có nhiều bồn hoa, cây xanh, người đi lại nhộn nhịp suốt ngày đêm. Có cả một cây cầu vượt lớn bắc ngang qua. Chạnh lòng, tôi ao ước: Nơi đây nếu không có một tượng đài, thì cũng có một tấm bia ghi lại TRẬN ĐÁNH ÁC LIỆT VÀ KÉO DÀI NHẤT TRONG NGÀY 30/4/75 Ở SÀI GÒN để những người hàng ngày đi qua đây và thế hệ mai sau không quên những người đã ngã xuống tại mảnh đất này: LĂNG CHA CẢ - SÀI GÒN


Hình ảnh 3 chiếc xe tăng của ta bị địch bắn cháy tại Lăng Cha Cả sáng 30/4/75 ( ảnh của phóng viên người Pháp )

    

ĐÃ HOÀ BÌNH RỒI, NGÀY ĐẦU TIÊN

ĐÃ HOÀ BÌNH RỒI, NGÀY ĐẦU TIÊN

Chiến quả đầu tiên của lính ta trong buổi chiều tối ngày 30 tháng Tư là giấc ngủ. Khắp nơi trong nhà ga sân bay Tân Sơn Nhất la liệt những cánh võng. Nhưng tôi với Quang và Nghi không được cái sướng ấy. Nhận lệnh trực tiếp từ chính ủy Hòe, chúng tôi phải đưa hai đứa bé bị lạc ở cửa Phi Long về với gia đình. Bố mẹ của hai đứa chở chúng tới cửa phi trường, để chúng lại trong xe, họ nhào vào nhà ga, rồi không thấy quay ra. Chúng bị bỏ rơi tại đấy giữa cảnh pháo dập đạn lia suốt từ sáng ngày 29 tới tận trưa ngày 30 ! Chúng tôi kiếm trong bãi xe vô chủ một chiếc Jeep lùn và nhặt trong đám dù vừa đầu hàng một tay tài xế, rồi cùng hai đứa nhỏ rời sân bay. Thành phố lớn lao, chằng chéo muôn ngả. Tay lính dù lại là dân quê chẳng rành gì đường xá Sài Gòn, cứ lái phập phù. Mà tiếng súng, không rõ ràng là chỉ thiên hay bắn thẳng thì càng lúc càng rộ. Ngồi trên xe, ba chúng tôi AK vẫn lăm lăm dò dẫm qua từng ngã tư, ngã năm, ngã bảy, chỗ đông nghịt người xe ùn tắc, chỗ vắng tanh. Mãi 9 giờ tối mới thấy biển đề tên đường Đồng Khánh. Tìm đúng số nhà, chúng tôi vào, bấm chuông, cẩn thận “ bàn giao” hai đứa bé cho người thân xong là quay ra luôn. Chiếc Jeep đã cạn xăng, chúng tôi trả tự do cho tay tài xế rồi đi bộ về sân bay. Một quãng đường ngoắt nghoéo và rất xa từ dưới tít phía nam lên thấu mạn bắc thành phố.
Ngủ vùi đến giữa buổi sáng 1 tháng 5 thì tôi phải cuốn võng, tức tốc ra xe lên trình diện Sư bộ cũng đóng trong sân bay. Nhận một bộ tô châu mới tinh, một mũ cối cũng mới cứng, giày vải đế cao su thay cho dép đúc, băng đỏ đeo vào tay, tôi thành lính “ quân cảnh ” của Quân đoàn. Sở dĩ thế là do trong suốt ba tháng trước trận Buôn Ma Thuột tôi đã được điều tạm thời vào đoàn 93 ; nhiệm vụ của đoàn 93 dạo đó là tuần tra kiểm soát miền rừng trên đôi bờ Đắc Đam để ngăn ngừa mọi biểu hiện vi phạm kỷ luật bảo mật chiến dịch có thể nảy sinh trong vùng ém quân. Nay, không chỉ Buôn Ma Thuột mà cả Sài Gòn quân ta cũng đã dứt điểm xong, chúng tôi lại về với nhiệm vụ gần giống dạo đó.
Thành thử, chăm sóc trẻ con, đấy là nhiệm vụ cuối cùng của tôi trong ngày cuối cùng của cuộc chiến, còn nhiệm vụ đầu tiên trong ngày hòa bình đầu tiên là làm kiểm soát quân nhân, cũng khá giống với sự chăm sóc : ấy là kiểm tra đôn đốc việc gìn giữ quân phong quân kỷ.
Ngay sau buổi trưa ngày 30, bộ đội Quân đoàn 3 đã lập tức triển khai công tác ổn định đời sống nhân dân tại phụ cận những nơi đóng quân : phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu… tức là cả một vùng rộng lớn tây bắc Sài Gòn. Lính ta dốc sức ra khẩn trương thu dọn bãi chiến trường trải dài trên con đường hành tiến tốc chiến dọc suốt hai ngày 29 và 30 ; lính ta sửa chữa hệ thống điện nước bị trúng bom và pháo ; lính ta trực tiếp chỉ huy giao thông ; lính ta trấn giữ và tuần tra các phường phố để bảo đảm an ninh trật tự cho đời sống dân sự thường nhật. Riêng chúng tôi, Kiểm soát Quân nhân, cũng đi tuần tra, nhưng “ đối tượng” kiểm tra là lính mình.
Tổ tuần tra hỗn hợp gồm tôi lính E24, Huy lính pháo E40 và Bính xe tăng 273, với một tổ ba người khác nữa, phụ trách khu vực quanh Lăng Cha Cả. Bính là tổ trưởng, K54 và xà cột đeo bên hông, tôi với Huy khoác AK Tiệp đi cận vệ anh. Kiểm soát Quân nhân được lệnh thay AK Nga bằng AK báng nhựa của Tiệp chắc là để cho dáng vẻ nom dịu nhẹ hơn khi đi tuần dọc phố xá đông người. Súng không được lên đạn, khóa nòng cũng phải cẩn thận đóng lại. Và không mang lựu đạn. Lệnh thế. Vì hòa bình rồi.
Hòa bình rồi. Như trẩy hội. Bùng binh Lăng Cha Cả, đường Trương Minh Ký, đường Võ Tánh, ngã tư Bảy Hiền, dân chúng dạt khỏi vùng chiến sự nay trở về, nườm nượp. Bộ đội cũng rất đông. Bởi vì quân ta dứt điểm Sài Gòn bằng chủ yếu lực lượng của Thê đội 1, nên tới chiều 30 các đơn vị Thê đội 2 mới vào. Nhất là trong ngày 1 tháng 5, tăng, pháo, bộ binh rầm rập. Tại khu vực Lăng Cha Cả do hậu quả của trận chiến khốc liệt ngày 30 chưa dọn quang nên giao thông còn nhiều lúc bị tắc, xe pháo phải từ từ nhích. Dù vậy hôm ấy tổ chúng tôi đã không phải chặn hỏi kiểm tra bất kỳ anh chàng nào lính mình. Quân ta toàn thắng, ào ạt tiến vào thành phố, hân hoan với hạnh phúc hòa bình, nhưng nghiêm túc, giữ vững kỷ luật. Hôm ấy kể cả bộ binh cũng hầu hết hành quân bằng cơ giới. Di chuyển chậm, thường xuyên phải dừng, nhưng không có nhiệm vụ không xuống xe. Chúng tôi không bắt gặp dọc phố một ai bận quân phục mà đi lẻ. Các đơn vị hành quân bộ cũng ít nhất là theo đội hình trung đội, và tuy vui vẻ tay bắt mặt mừng tiếp xúc với người dân nhưng vẫn hàng dọc tiến bước chứ không dừng tụ lại. Tất nhiên càng không có chuyện tụt tạt vào hàng vào quán và vào các nhà dân.
Thế nhưng, chính chúng tôi, tổ KSQN lại đã buộc phải bước chân vào nhà người ta.
Khi đấy đã cuối chiều ngày 1 tháng 5. Nắng đã dịu nhưng trời vẫn nóng, đường Võ Tánh đặc sệt bụi và khói xăng . Một cậu chừng 13, 14, chạy tới kéo tay anh Bính, nói quả quyết là có ông lính còn giữ súng đang tử thủ trên lầu trong hẻm. Lúc đó gần đấy không thấy có tổ tuần tra nào khác. Bên đường, một dọc mấy chiếc PT76 đang dừng nổ máy tại chỗ nhưng lại chẳng có bộ binh bám trên thành xe. Ba chúng tôi đành tự thân. Cậu bé đưa đường chúng tôi đi đến cuối ngõ, chỉ vào một ngôi nhà hai tầng. Chúng tôi áp sát. Ngõ rộng, nhưng vắng lặng, biệt khỏi tiếng ồn ngoài lộ. Thú thực là tôi thấy chợn. Địch một tên thôi, theo lời cậu bé, nhưng mà hắn chốt trong nhà, liều chết. Chúng tôi tuy ba nhưng chỉ hai tiểu liên. Lại không lựu đạn. Với lại đã hòa bình rồi còn gì ! Anh Bính thì cương quyết tổ mình phải dứt điểm ngay cái “ thằng rồ này ”, song cũng nhất trí là đã hòa bình rồi, nên anh bảo để chiêu hàng cái đã. Nhưng anh chưa “chiêu ”, trong nhà đã “ hàng”. Mà không phải thằng. Giọng đàn bà, từ sau cánh cửa đóng kín, vọng tiếng ra “ xin nộp súng”. Anh Bính cho phép. Từ từ, cửa mở. Trong nhà đẩy sệt qua ngưỡng cửa ra thềm một khẩu súng ngắn. Còn không ? – Dạ, hết rồi – Ra ! Theo lệnh, người đàn bà bước thật chậm ra hiên, hai tay đưa cao trên đầu. Trông rất buồn cười, nhưng tất nhiên là chẳng ai cười. Anh Bính bước tới thu lấy khẩu ổ xoay và bảo chị đàn bà hạ tay xuống. Chị ta thưa súng này của chồng, ảnh đang đau, bệt trên lầu, không thể xuống để tự mình nộp súng đầu hàng quí ông. Chị ta mếu máo, cam đoan trong nhà chỉ có hai vợ chồng với sắp nhỏ bốn đứa chớ không ai khác nữa. Gạt nhẹ chị ta sang bên, chúng tôi xô rộng cửa, ập vào thật nhanh, chiếm giữ tầng dưới. Tầng trệt, (trong Nam gọi vậy), gồm một phòng khách, một căn bếp, một buồng tắm, đều tối và nóng. Điện bị ngắt, cửa rả kín mít, nên cầu thang và tầng gác cũng vậy, tối om, bí rì. Chúng tôi thận trọng hườm súng, lục soát. Tầng gác có ba phòng. Ở hai phòng đầu, giường chiếu bề bộn nhưng không người. Buồng tắm cũng không có ai. Gia chủ “ tử thủ ” trong căn phòng còn lại. Một căn phòng nóng ngột thở, sáng lên đùng đục dưới ánh nến. Im ắng. Người đàn bà chạy lên gác sau chúng tôi, đã thôi khóc, đứng nép vào ngưỡng cửa. Tay chồng ở trần, đầu với một bên vai quấn băng, nửa nằm nửa ngồi dựa lưng vào thành giường, và như thể bắt chước hành động khi nãy của vợ, anh ta lẩy bẩy đưa cánh tay còn cựa được lên cao trên đầu, ra ý xin hàng ; bốn đứa con, im thít, đứng quây bên giường như là để che chắn cho bố.
Đó, lần đầu, thời khắc đầu tiên chúng tôi đặt chân vào một ngôi nhà, một căn phòng ở Sài Gòn, cảnh tượng là như vậy.
Huy kéo rèm, đẩy cửa chớp ra. Ngay lúc ấy cũng vừa khi công binh nối lại được dòng điện. Chiếc quạt trần phập phập quay, tỏa một luồng gió mạnh làm tắt nến, trước cả khi khí trời bên ngoài kịp ùa vào. Tôi nhoài tay bật công tắc. Đèn neon kêu lạch tạch rồi bừng sáng. Mấy đứa nhỏ không kìm được òa lên reo.
Mặc dù tới rạng sáng ngày 30 đường điện mới bị đứt, nhưng gia đình này thì đã phải náu trong bóng tối từ khuya ngày 28. Tay chủ nhà là nhân viên của Cảnh sát cuộc quận 5, ( cảnh sát công lộ thôi – anh ta phều phào khai thế), nửa đêm, vẫn vận cảnh phục với súng dắt hông, bỏ nhiệm sở chạy xe máy về với vợ con ; anh ta liều mạng lao vượt qua barie của Biệt cách dù chặn chỗ ngã tư Bảy Hiền, bị đạn bắn rượt theo rách má toác vai, vỡ lốp, phải vứt xe chạy bộ, may mà gần nhà nên ôm đầu máu nhào về được. Tắt hết đèn, bưng kín cửa, cả nhà câm nín bất động vậy là đã gần bốn ngày đêm. Cả khi quân dù cố thủ khắp trong khu vực đã tháo chạy và tiếng súng tấn công của Quân Giải phóng đã ngưng, trong bóng tối chết ngốt, vợ chồng con cái vẫn không dám hó hé đụng cựa. Cho tới khi, qua khe cửa, chị vợ nhìn thấy chúng tôi trước nhà. Cho tới khi đấy, chỉ cầm cự với một ít thuốc trụ sinh, anh chồng đã sốt rất cao và bắt đầu những cơn sảng. Do sợ hãi quá trời sợ hãi, hoang mang mù mịt, mà chậm chút nữa anh ta chết chắc, cho dù đã hòa bình được một ngày đêm rồi.
Tôi ra đầu ngõ chặn một cái xe lam, điều nó tới trước cửa nhà của viên cảnh sát. Anh ta được dìu xuống, rồi cùng vợ lên xe cấp tốc chạy đến nhà thương Vì Dân không xa đấy. Lũ trẻ với đứa lớn nhất chừng 12 tuổi ở lại giữ nhà. Chúng đóng chặt cửa ra vào, nhưng mở toang các cửa sổ. Và ở trên ban công tầng hai, một lá cờ Giải phóng giấu sẵn trong nhà từ bao giờ, bọn trẻ đã đưa ra cắm, lật phật bay trong gió cùng cả loạt những lá cờ xanh đỏ sao vàng khác lúc ấy đã rợp khắp trong ngõ ngoài phố.
                                                                                                                 Bảo Ninh
    

KÝ ỨC THÁNG TƯ

Chiến tranh đã lùi xa gần 1/2 thế kỷ, nhưng ký ức về những tháng ngày khói lửa vẫn in đậm trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người lính Tây Nguyên. Đặc biệt là vào dịp tháng tư hàng năm, khi cả nước tưng bừng kỷ niệm ngày Giải phóng miền Nam thì nỗi nhớ lại bùng lên mạnh mẽ. Đó là nỗi nhớ về những gương mặt đồng đội người còn, người mất, là những ngày đói quay, đói quắt, là những cơn sốt rét mửa mật xanh, mật vàng, là những địa danh mãi mãi không thể quên như đường 14 đường 19, đường 21, Đắc Tô, Tân Cảnh, Võ Định, Play Cần, 1015, Thanh An, Bầu Cạn, Đắc Siêng...Nhân dịp 30 tháng 4 năm nay, Nguyễn Trung Du có bài thơ KÝ ỨC THÁNG TƯ
Trang Lính Tây Nguyên xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

KÝ ỨC THÁNG TƯ 
(Kính tặng các anh Lính Tây Nguyên nhân dịp kỷ niệm 43 năm ngày Giải phóng Miền Nam)

Ai đã từng đi qua tháng tư
Sẽ không quên những ngày khói lửa
Giữa thẳm sâu một vùng quên - nhớ
Luôn hiện về ký ức tháng tư

Những chàng trai còn trẻ măng tơ
Vượt Trường Sơn vào Nam đánh giặc
Bỏ lại sau lưng quê hương miền Bắc
Mẹ mỏi mòn, khắc khoải chờ con.

Mấy tháng trời lội suối, trèo non
Ăn sắn, ăn măng, kim cang, môn thục
Cánh võng giữa rừng, chập chờn ngủ - thức
Đơn vị đã vào chiến đấu ở Tây Nguyên

Giữa bom thù, đạn pháo triền miên
Sự sống dập vùi, người còn, người mất
Đồng đội bên nhau, tình thương chân thật
Hơn bốn chục năm rồi, nhớ lại vẫn còn thương

Giải phóng Tây Nguyên, đơn vị lại lên đường
Đánh Lữ Dù 3 trên đèo Ma đơ rắc
Đường 21 ghi tên Phượng Hoàng lẫm liệt
Chiến thắng lẫy lừng, xương máu cũng nhiều thêm

Tiếp tục lên đường mười mấy ngày đêm
Tiến về Nha Trang, Cam Ranh, Bình Phước
Dầu Tiếng, Lâm Đồng, Di Linh, Bảo Lộc
Trận Ba Ngòi lại tổn thất máu xương

Mỗi vùng miền, trên mọi quê hương
Đã nằm lại bao nhiêu đồng đội
Giữa hào quang của vinh quang chói lọi
Có sắc hồng dòng máu những chàng trai

Ai đã từng đi trên quốc lộ 22
Không thể quên trận Đồng Dù ác liệt
Sư 320 yểm trợ cho Sư 10 quyết tiến
Về Sài gòn giải phóng thành đô

Tháng 4 năm 1975, trang sử đẹp như thơ
Có khắc sâu hơn những con đường huyền thoại
Được dệt bằng bao máu xương đồng đội
Đã trở nên linh diệu tự bao giờ???

Tháng tư về đỏ rợp bóng cờ
Những tiệc tùng, liên hoan mừng ngày giải phóng
Đường Võ Tánh càng thêm dài rộng
Ngã tư Bảy Hiền giờ tấp nập người qua

Lăng Cha Cả năm nào tiếng súng đã lùi xa
Chỉ những người lính già chúng tôi tụ hội
Lần nào cũng rưng rưng nhớ về đồng đội
Thương những người mãi mãi tuổi đôi mươi

Lịch sử sang trang rồi, ký ức vẫn xanh tươi
Như màu xanh của cà phê, hồ tiêu bất tận
Dẫu thời gian đã xóa nhòa thù hận
Vẫn luôn hiện về ký ức - tháng tư

Nguyễn Trung Du
    

KÝ ỨC ĐƯỜNG 7

Chiến tranh đã gây ra biết bao những đau thương, nhưng cũng để lại rất nhiều câu chuyện đầy tính nhân văn cao đẹp. Trang Lính Tây Nguyên xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một trong những câu chuyện đó của nhà văn Nguyễn Trọng Luân.

KÝ ỨC ĐƯỜNG 7
Hôm nay ngồi nhìn những dòng nhật kí ngắn ngủi về những ngày tháng ba năm 1975. Những ngày mà cách đây đã 38 năm, thế mà nó cứ hiện về rõ mồn một. Muốn viết thật vui thật hóm hỉnh về chuyện sống chết mà lại cứ đưa mình về cái mạch suy nghĩ khác, tệ thế.
Mình đa cảm ngay từ xưa bé nhỏ , cái gì nhớt hì day dứt , cái gì yêu thì đến đớn đau . Mới ngẫm lời xưa kẻ đa đoan thì đừng kêu ca sướng khổ . Muốn thăng tiến thì đừng đa đoan , biết dẫm đạp cũng là sự tích cực của đời .
Mà thôi , mình kể chuyện ở đây là với bạn bè chiến đấu thôi cơ mà . Xin kể :
Cái ngày 28/3/75 trong nhât kí có vẻn vẹn một dòng . Nhưng sự thật thì không phải . Nó dài lắm , dài đến tận bây giờ .
Tôi trích nhật kí " 28/3/75: hành quân tới ven một bãi lầy Phú Yên . ở đây dọc sông máng , bộ đội địa phương đánh một đoàn xe - hành quân đêm trên bờ máng đầu tiên . nghỉ lại đây mộ tngày ."
Gọi là hành quân thực ra chỉ có nhóm đi bám địch trước chúng tôi thôi , còn đơn vị vẫn ở đằng sau . Khi chúng tôi đánh địch trên Củng Sơn Phú Túc thì có một đoàn xe đã vượt qua rồi .Về tới khúc sông máng , đường 5 này thì gặp bộ đội Phú Yên chặn đánh . Việc đó đã diến ra ngày hôm trước . Phía xa , làng mạc miền Nam đầy những vườn dừa , những đồng lúa xanh ngút ngát , chiều nắng vàng sau lưng , chúng tôi hít căng lồng ngực cái hương đồng miền Nam mà xưa nay vẫn hát "...Miền nam em dừa nhiều , miền nam em dứa nhiều .."
Không có quân địch , không thấy có súng nổ , chiều hôm ấy thật lạ . 5 thằng chúng tôi ngồi trên mép sông máng , dưới chân là đồng lúa xanh mượt mà . Bỗng từ dưới ruộng có tiếng động. Nhỏm dậy ! bờ ruộng bùng nhùng. Thằng Luật nổ mấy viên đạn lên trời. ( may thế , nó không bắn xuống ruộng ) Từ dưới bùn rùng rùng đứng dậy một chú lính VNCH người bê bết bùn nước, tay xách cái làn nhựa đỏ lót kín bằng những mảnh ni lông, run rẩy. Thưa ông , con xin các ông ...
Chúng tôi nhào xuống bờ ruộng chĩa súng. Nhìn vào cái làn đỏ trước tiên vì nghi đó là vũ khí. Không .. Không có vũ khí nào hết mà là.. một hài nhi. Hài nhi hai tay hươ hươ mắt ti hí ... Người lính xụp xuống ..Thưa các ông con đưa vợ con chạy từ quân khu 2 , vợ con ngang đường sổ dạ rồi chết luôn. Các ông có bắt con xin các ông làm phước cho con gửi đứa bé này ...cho nó làm... làm ...người .
Người lính VNCH gục đầu nức nở. Năm đứa tôi nhìn nhau…rồi vội nhìn đi chỗ khác. Chả thằng nào muốn thằng kia nhìn thấy mắt mình có nước. Có tiếng đạn pháo vút qua đầu, người lính VNCH ôm chặt cái làn đỏ vào ngực : Ới con ơi !
Chúng tôi cũng sà xuống che người xung quanh cái làn nhựa loe hoe những mảnh vải vụng về, và tiếng cựa quậy của đứa trẻ lọt lòng.
Thằng Luật là đứa cục cằn nhất lên tiếng. Thằng Luân chữ đẹp viết một tờ giấy chứng nhận quân giải phóng đã đồng ý cho anh này gửi đứa bé vào địa phương đi. Làm nhanh kẻo du kích họ lại không tin thì khổ... Còn thằng nào có cái gì đưa ra .
Chúng tôi ngó vào trong làn nhựa ở đó có hai hộp sữa rồi, bây giờ chúng tôi mỗi đứa đưa ra một hộp nữa. Tôi có mấy tờ tiềnTrần Hưng Đạo đưa ra cho người lính. Thế là chúng nó bắt chước moi hết tiền ra cho người cha tội nghiệp kia .
Người lính VNCH đờ đẫn cám ơn. Tôi giục : thôi đi ngay vàol àng đi, anh không nuôi được cháu đâu, gửi dân họ nuôi thôi. Chúng tôi cảnh giới cho mà đi ... Tôi nhìn người lính xách cái làn đi qua cánh đồng vào làng trong hoàng hôn, bước cao bước thấp cho tới khi người lính khuất sau vườn dừa yên ắng rồi chúng tôi mới hành quân .
Chiến tranh lùi lại phía sau còn kí ức thì lại nhao về phía trước mắt những người lính bây giờ già nua.
Ba mươi tám năm rồi. Người lính VNCH ấy còn sống ở đâu ?anh có tìm về một làng ven con sông máng đường 5 Phú Yên tìm đứa con gái tội nghiệp của anh không ?
Ba mươi tám năm rồi, cháu bé khốn khổ ấy còn sống ở đâu? Trong hàng đêm ngần ấy năm trời tôi luôn cầu mong cháu sống và làm người nhân hậu .
Tôi cũng đã già, cũng đã trở lại con đường máu lửa ngày ấy, tôi cũng đã từng ngồi khóc khi xem chương trình kí ức đường 7 củaThu Uyên, bởi hơn ai hết chúng tôi là người chứng kiến tận mắt những mảnh đời bất hạnh vì chiến tranh
Nguyễn Trọng Luận

Ảnh: Nhà văn Nguyễn Trọng Luân, Nguyễn Đình Thi cùng các con của Thượng tướng Vũ Lăng
    

THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC TIẾP ĐOÀN CỰU CHIẾN BINH MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN (B3 ) - QUÂN ĐOÀN 3

THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC TIẾP ĐOÀN CỰU CHIẾN BINH MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN (B3 ) - QUÂN ĐOÀN 3

Nhân kỷ niệm 43 năm, ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng , chiều nay 24/4/2018, tại Hội trường Văn phòng Chính phủ tại thủ đô Hà Nội , mặc dù công việc rất bận , đồng chí Nguyễn Xuân Phúc - Uỷ viên Bộ chính trị , Thủ tướng Chính phủ vẫn giành thời gian gặp mặt với đoàn Cựu chiến binh Mặt trận Tây Nguyên ( B3 ) - Quân đoàn 3 . Đây thật sự là một vinh dự lớn cho các thế hệ cán bộ , chiến sỹ Mặt trận Tây Nguyên ( B3 ) , Quân đoàn 3 . Phát biểu trong buổi gặp Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc , đồng chí trung tướng Nguyễn Vĩnh Phú - Trưởng Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên ( B3 ) - Quân đoàn 3 đã cảm ơn Đảng , Nhà nước và nhân dân các địa phương trong suốt nhiều năm qua đã tạo điều kiện để Mặt trận Tây Nguyên ( B3 ) , Quân đoàn hoàn thành nhiệm vụ . Đồng chí cũng báo cáo khái quát với Thủ tướng chặng đường chiến đấu và trưởng thành của Mặt trận Tây Nguyên ( B3)- Quân đoàn 3 : Hoạt động ở một chiến trường đặc biệt khó khăn , gian khổ nhưng cán bộ , chiến sỹ Mặt trận Tây Nguyên ( B3 ) - Quân đoàn 3 đã đoàn kết một lòng , khắc phục mọi gian khổ , khó khăn vươn lên , lập công xuất sắc : Là đơn vị đánh mở màn cho cuộc tổng tấn công mùa xuân năm 1975 , tiêu diệt và đánh tan Quân đoàn 2 địch , giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên và 3 tỉnh Bình Định , Phú Yên và Khánh Hoà , tạo nên cục diện mới cho công cuộc giải phóng Đất nước , đánh chiếm 2 trong 5 mục tiêu quan trọng trong chiến dịch Hồ Chí Minh ( sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu Nguỵ ), giải phóng 5 tỉnh ở Campuchia trong chiến dịch cùng quân dân CPC lật đổ chính quyền Pôn Pốt năm 1979 . Xứng đáng là một Quân đoàn chủ lực thiện chiến của Quân đội nhân dân Việt Nam .
Phát biểu trong buổi gặp mặt , Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhiệt liệt khen ngợi và đánh giá rất cao những chiến công mà Mặt trận Tây Nguyên ( B3 ) - Quân đoàn 3 đã đạt được trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và trong giai đoạn xây dựng Đất nước hiện nay . Thủ tướng cũng gửi lời thăm hỏi và chúc sức khỏe tới tất cả cán bộ , chiến sỹ Mặt trận Tây Nguyên ( B3 ) - Quân đoàn 3 . Thủ tướng mong mỗi cán bộ , chiến sỹ Mặt trận Tây Nguyên ( B3 ) - Quân đoàn 3 luôn giữ vững và phát huy truyền thống vẻ vang đó , mãi xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng của nhân dân .
Dưới đây là một số hình ảnh trong buổi gặp mặt .












Tin và ảnh Nguyễn Đình Thi

    

SỰ TÍCH DỐC ĐẦU LÂU

SỰ TÍCH DỐC ĐẦU LÂU

                       Đại tá Phạm Văn Quyết

Ai đã từng đi qua trung tâm huyện Đắk Hà nằm trên đường 14 (nơi đây trước gọi là Võ Định) theo đường 14 đi về thị xã Kon Tum khoảng hơn l km là gặp đỉnh dốc Đầu Lâu. Bên phải có kỳ đài do nhân dân tỉnh Kon Tum xây dựng để kỷ niệm những chiến công oanh liệt của quân dân tỉnh Kon Tum, gần đó là điểm cao 601A bên trái đường 14 là điểm cao 601B.
Nhưng dốc Đầu Lâu có từ bao giờ, sự tích ra sao thì không nhiều người biết rõ. Người dân họ bảo: Chúng tôi nghe nói trên đường 14 đỉnh của dốc này có đầu lâu người lăn lóc thì gọi là dốc Đầu Lâu. Nơi đây gọi là dốc nhưng không dốc lắm vì dốc xuôi theo đường 14 từ bình độ 601 xuôi xuống dài khoảng lkm về hướng thị xã Kon Tum.
Dốc Đầu Lâu, phía bên phải cách khoảng 200 mét là cao điểm 601. Nơi đây địch còn gọi là căn cứ “Lam Sơn”. Nó là một vị trí rất quan trọng, là cánh cửa thép để bảo vệ thị xã Kon Tum.
Năm 1972 phối hợp với chiến trường toàn miền, quân và dân tỉnh Kon Tum đã chiến đấu và chiến thắng oanh liệt giải phóng một vùng rộng lớn phía tây và tây bắc tỉnh Kon Tum, tạo thế và lực mới trên chiến trường. Trước sức tấn công mạnh như vũ bão của quân và dân ta địch không đủ khả năng tái chiếm lại được, buộc chúng phải co cụm lập thành phòng tuyến, xây dựng căn cứ vững chắc có hàng rào kẽm gai, có hỏa lực chi viện kịp thời hòng ngăn chặn đà tiến công của quân và dân ta.
Căn cứ 601 của địch là một căn cứ được chúng bố phòng, xây dựng khá vững chắc, có công sự, hàng rào dây thép gai và hệ thống mìn các loại dày đặc, để bảo vệ và chi viện cho căn cứ phía bên còn có cụm chốt 601B. Phía đông có căn cứ 751. Căn cứ Bãi ủi, Đồi Tròn, phía nam có căn cứ Ngọc Bay cao điểm 674 và căn cứ Kon Trang Năng Loi tạo thành một hệ thống phòng tuyến hoàn chỉnh và khá vững chắc hòng ngăn chặn ta tiến công.
Quyết không cho địch thực hiện được ý đồ trên . Đầu tháng 12 năm 1972 lệnh của trên phải tiêu diệt và chiếm lĩnh bằng được cao điểm 601A của địch. Nhằm mở toang cánh cửa phía tây tỉnh Kon Tum, áp đảo quân địch, tạo thế tấn công khi thời cơ tới.
Trung đoàn 66 được Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 giao cho thực hiện trọng trách này. Tiểu đoàn 8 đảm nhiệm mở cửa từ hướng đông đánh vào. Tiểu đoàn 9 là hướng đột kích chủ yếu từ hướng bắc theo đường 14 đánh lên dưới sự chi viện đắc lực của hỏa lực pháo binh, cối, ĐKZ của cấp trên. Những ngày này mọi công tác chuẩn bị đánh địch được thực hiện khẩn trương, cả trung đoàn ngày không nghỉ, đêm đêm không ngủ, người nào việc ấy theo chức năng từng cá nhân, đơn vị, người tải đạn, gùi hàng, người khiêng vác pháo 105 ly, ĐKZ 106,7 ly, cối 120 ly cũng được tháo rời để khiêng vác đưa vào trận địa trên điểm cao cách căn cứ 601A có 900 mét, thật là một việc làm táo bạo, một sáng kiến mới của chiến trường. Mà chỉ có lính Sư 10 mới làm như vậy.
Mọi công tác chuẩn bị khẩn trương của trên dưới đã hoàn tất. Lệnh của trên phát ra, ngày nổ súng tiêu diệt căn cứ 601A đã đến. Tôi nhớ ngày đó là ngày 12-13 tháng 12 năm 1972. Đêm ngày 12 chúng tôi được lệnh bí mật mang vác đầy đủ các trang thiết bị vượt đường 14 từ phía bắc sang bí mật ém quân theo dọc sườn núi 601A và cách cửa mở khoảng 200 mét. Sáng ra máy bay trinh sát địch lượn lờ nhòm ngó, có thể địch đã phát hiện hoặc nghi ngờ nên pháo cối của chúng bắn ra tới tấp xung quanh căn cứ, pháo binh của địch từ các căn cứ xung quanh cũng bắn tới làm một số anh em ta thương vong. Nhưng trên cho biết, đây chỉ là địch bắn vu vơ hoảng loạn, chúng chưa phát hiện được ý đồ của ta, nên chúng tôi yên tâm phần nào và động viên anh em giữ vững tinh thần chiến đấu.
Đến 10 giờ 30 lệnh đơn vị lên phá rào chiếm cửa mỏ bắt đầu. Dưới sự chế áp của hỏa lực cấp trên chi viện cửa mở , anh Tạ Ngọc Oanh đại đội trưởng cùng đồng chí Lăng trung đội trưởng 2cùng lúc điểm hỏa hai giá mìn định hướng để phá rào. Tôi (Phạm Văn Quyết) chính trị viên đại đội dẫn đội mở cửa lên dùng bộc phá ống phá nốt các hàng rào còn lại. Nhưng do anh em cơ động chạy vào theo sườn đồi rất khó đi, lại mang vác nặng, bộc phá, súng trang bị tổng số mỗi đồng chí mang hơn 30kg trên người, đến cửa mở, anh em mệt phờ, có đồng chí ngã quỵ, không lên được. Nếu lúc này chậm trễ sẽ mất thời cơ, chỉ cần hai ba tên địch trên giao thông hào, lô cốt phát hiện ta đang từ dưới chân dốc lên thì sự việc nguy hiểm diễn ra không thể lường hết được.
Bài học này đã xảy ra tại cửa mở Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8 tại cao điểm Ngọc Bờ Biêng (lính gọi vui là Nhọc Mà Khiêng) và cửa mở Tiểu đoàn 8 đánh Plei Kần đợt một 1972 hoặc cửa mở Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 đánh Đắk Xiêng... Không thể để chậm chễ, chần chừ, ý nghĩ thoáng trong đầu, tôi nói chiến sĩ bộc phá: "Đưa bộc phá của cậu đây". Nói rồi tôi ôm bộc phá lao lên phá hàng rào, lần lượt 6 quả liền phá nốt 4 hàng rào dây thép gai của địch, cùng anh em xông lên chiếm lô cốt đầu cầu. Bọn địch hoang mang sợ sệt vì tiếng bộc phá, tiếng mìn nổ. Khi chiếm lĩnh được lô cốt đầu cầu vẫn còn năm sáu tên địch đang nằm nép dưới giao thông hào giơ tay xin hàng.
Phát huy thắng lợi, tôi tiếp tục chỉ huy đại đội đánh theo các hướng đã định. Lúc này pháo lớn của ta tạm dừng, địch lợi dụng giao thông hào, công sự vững chắc chống trả ta quyết liệt. Nhưng được Đại đội 9 và Đại đội 10 cùng hỏa lực của tiểu đoàn đã cơ động đến chi viện kịp thời. Mũi chỉ huy của anh Hoàng đại đội phó chỉ huy anh em đánh vòng về phía đông hướng cửa mở của Tiểu đoàn 8, tạo điều kiện Tiểu đoàn 8 phá nốt hàng rào cùng xông lên đánh địch.
Cuộc chiến đấu trong căn cứ diễn ra vô cùng ác liệt, hai bên tranh chấp nhau từng lô cốt, từng đoạn hào.
Biết khả năng căn cứ bị tiêu diệt, địch dùng cả pháo lớn bắn trùm lên trận địa, ta địch đều thương vong. Đã hơn một giờ quần nhau với địch cuối cùng mũi anh Hoàng đại đội phó cùng anh Thể vừa chỉ huy anh em đánh địch chi viện vừa xông lên cùng một lúc. Hai anh điểm hỏa hai quả bộc phá ống loại 6kg tông thẳng vào trong hầm chỉ huy của địch, toàn bộ quân địch trong hầm ngầm bị tiêu diệt. Nhưng cũng là lúc hai anh ngã xuống ngay cạnh hầm chỉ huy địch vừa bị các anh tiêu diệt. Địch bị hoảng loạn, các mũi các hướng xông lên hoàn thành các mục tiêu, địch lần lượt bị tiêu diệt, ta làm chủ hoàn toàn trận địa bắt tù binh thu vũ khí.
Với một trận đánh địch trong công sự vững chắc hơn 2 giờ đồng hồ, ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa, tiêu diệt toàn bộ một tiểu đoàn địch bắt hơn 70 tù binh, thu toàn bộ vũ khí, ta thương vong tổn thất thấp so với các trận chiến đấu khác. Đó là một trận đánh thắng với hiệu suất cao.
Phát huy thắng lợi chỉ bốn năm ngày sau Tiểu đoàn 9 có hỏa lực cấp trên chi viện đã đánh chiếm làm chủ hoàn toàn căn cứ Kon Trang Lăng Loi diệt 1 tiểu đoàn địch, bắt toàn bộ tù binh thu toàn bộ vũ khí trong đó có 5 khẩu pháo 155 ly.
Cuối tháng 12 năm 1972, Hiệp định Pa-ri được ký kết thời điểm có hiệu lực đã đến gần trước sự thất bại nặng nề. Địch ngày đêm tung quân, tung lực lượng dùng bom pháo oanh tạc dữ dội hòng giành lại điểm cao then chốt 601A và các khu vực khác đã mất, trong lúc này Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 đảm nhiệm giữ cao điểm 601 này. Bao lần chúng dùng lực lượng máy bay, quân số đông với hỏa lực mạnh đánh chiếm lại nhưng đều bị các chiến sĩ Tiểu đoàn 8 đánh bật gây cho chúng thiệt hại nặng nề. Mặt khác chúng còn tung các toán biệt kích, thám báo, luồn sâu đánh vào phía sau hậu cứ của ta đó là khu vực Cống Ba Lỗ, vùng Đắk Uy, Võ Định, khu vực bản Ngô Thanh, Tà Rộp, điểm cao 674, Ngọc Bay... đi tới đâu cũng bị lực lượng Sư đoàn 10 đánh cho tan tác.
Ngày 28 tháng 1 năm 1973, là thời điểm Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, tiếng súng đạn, bom pháo, tiếng máy bay tạm thời yên ắng được một hai ngày đầu, các ngày tiếp theo địch cố tình không chấp hành hiệp định vẫn cho pháo bắn rải rác về phía chốt của chúng ta. Cảnh giác trước âm mưu của chúng, cán bộ, chiến sĩ ta ở các khu vực đặc biệt Tiểu đoàn 8 luôn luôn cảnh giác, tiếp tục củng cố hầm hào, bố trí lại trận địa bố phòng, tích trữ vũ khí, lương thực, sẵn sàng giáng trả quân địch nếu chúng liều lĩnh phá hoại hiệp định.
Thời gian đó khoảng ngày 3 hay ngày 5 tháng 2 năm 1973, khoảng 9 giờ sáng, trinh sát báo về có một đơn vị địch đang từ hướng Đắk Uy, Võ Định bắc đường 14 đang lén lút về Kon Tum đã đến gần khu vực chốt giữ 601.
Nắm được tâm lý đang hoang mang dao động vì bị lực lượng ta giáng cho tơi tả. Hơn nữa chúng cũng ngỡ tưởng hiệp định ngừng bắn có hiệu lực rồi, không phải đi đánh nhau nữa, tính mạng chúng được bảo toàn nên được về sống cùng vợ con... các đồng chí chỉ huy Tiểu đoàn 8 và chỉ huy Đại đội 6 đã mưu trí, một mặt lệnh cho toàn chốt sẵn sàng chiến đấu, một mặt cử một tổ ra sát đường 14 kêu gọi binh sĩ ngụy trở về hòa hợp dân tộc. Tiếp đó có tên chỉ huy địch lên tiếng, hiệp định ký kết rồi, đã có hiệu lực hai bên không đánh nhau nữa, nên để cho chúng được đi lại trở về Kon Tum. Chính trị viên Đại đội 6 Bùi Viết Nhần nói luôn: “Đúng hiệp định đã có hiệu lực, bên nào phải ở yên bên đó, tại sao các anh lại đưa quân sang xâm phạm khu vực chúng tôi quản lý, chính vì hiệp định có hiệu lực nên chúng tôi không cho đơn vị nổ súng để tiêu diệt các anh. Toàn khu vực này chúng tôi đã bố trí sẵn hỏa lực và lực lượng, nếu không có sự đồng ý của chúng tôi các anh cứ liều lĩnh đi thì sẽ bị tiêu diệt hết. Nhất trí không đánh nhau không nổ súng nhưng trước mắt yêu cầu chỉ huy các anh vào làm việc với chỉ huy tôi để bàn bạc...”.
Trước những lời nói khôn ngoan và sự cảnh báo cho địch biết, không còn cách nào khác, một số tên sĩ quan ra lệnh cho lính của chúng theo anh em ta vào chỉ huy của đại đội. Bằng những lời lẽ thuyết phục và chính sách 14 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trong tình thế này không còn cách nào khác, các sĩ quan địch phải nghe theo và chấp thuận các điều kiện của cán bộ chiến sĩ Đại đội 6 Tiểu đoàn 8.
Từ sự mưu trí khôn khéo đó của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 6 Tiểu đoàn 8, toàn bộ 1 đại đội địch ngụy gồm hơn 100 tên đã bị ta bắt mà đơn vị không tốn một viên đạn. Trong số đó có 4 sĩ quan cấp úy ngụy, qua khai thác ta biết được cả tiểu đoàn địch đánh vào phía sau ta, đã bị tiêu diệt, số còn lại tìm cách trở về thị xã Kon Tum.
Đúng như dự kiến của ta, Hiệp định Pa-ri vừa ký kết chưa ráo mực, quân ngụy đã hò hét xua quân tái chiếm lãnh thổ, chiếm lại vùng đất, giành lại dân mà chúng đã mất. Cao điểm 601A là điểm then chốt nên là trọng điểm đánh phá hết sức ác liệt hòng chiếm lại nơi này. Nhưng chúng xông lên lần nào đều bị ta đánh bại phải bật ra xa. Tại chính dốc ở điểm cao 601 có 2 xác lính Nguỵ chết . Mưa nắng hàng ngày đã phân hủy 2 xác này , trơ lại 2 chiếc đầu lâu . Dốc “Đầu Lâu” cũng có tên từ hồi ấy (tháng 2-1973).
Cho đến nay tại địa điểm này cái tên: Dốc Đầu Lâu trên đường 14 xuôi về Kon Tum, đã trở nên quen thuộc với mọi người và cũng chính nơi đây một kỳ đài uy nghi, ghi lại những chiến công hào hùng của quân và dân Kon Tum nói chung và Trung đoàn 66 Sư đoàn 10 nói riêng mãi mãi trở nên bất diệt.

Đài tưởng niệm tại điểm cao 601 - Kon Tum