ĐỈNH CAO KHÔNG CÒN HOANG VẮNG

ĐỈNH CAO KHÔNG CÒN HOANG VẮNG
               Nguyễn Trọng Luân


Cao điểm Búng báng và măng le Bốn mươi lăm năm sau, Cựu chiến binh thành Vinh - Lê Mạnh Hải- cùng anh em lính cựu f320 Nghệ An mới trở lại nơi này. Người trẻ nhất hồi Kon Tum 72 nay cũng đã 65 tuổi. Còn hầu hết là tuổi 68, 70. Sự ra đi về “chiến trường xưa” của những người lính chiến không phải ngẫu nhiên, mà nó day dứt bao năm nay, như tự thân nợ thì phải trả, như tất yếu lương tri con người. Đến nỗi trong những bữa cơm tháng cuối năm các bà vợ già của lính cứ dò hỏi, bao giờ thì ông đi Kon Tum? Trong tâm tưởng của người thân lính 320 ai cũng biết đến chuyện cao điểm 1015 …1049 ….những câu chuyện bi hùng nửa thế kỉ nay vẫn còn trong mỗi gia đình người lính từng tham gia chiến dịch mùa hè năm 1972 trên Tây Nguyên. Câu chuyện về trận đánh trên đồi Charlie tháng 4 năm 1972 chả lạ lẫm gì với báo giới phía VNCH một thời. Một thời bài hát “Người ở lại Charlie” của phía bên kia họ hát về Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Bảo của họ tử trận. Còn bộ đội giải phóng thì sự hi sinh của tiểu đoàn trưởng Đàm Vũ Hiệp người chỉ huy mũi chính diện trận đánh hôm ấy cứ như một lẽ bình thản. Bởi không những lính mà ngay cả cán bộ chỉ huy thậm chí chỉ huy cấp nào cũng có thể hi sinh vì nhiệm vụ. Mọi sự hi sinh đều như nhau, bình đẳng trước mắt lính, đều vì dân vì nước. Cựu chiến binh Lê Mạnh Hải nói rằng: Với tôi cao điểm 1015 Charlie còn là kỉ niệm của một cao điểm ăn búng báng và măng le thay cơm. Trong ngày xuất phát từ Nghệ An đi Kon Tum xây bia tưởng niệm 1015 anh nghẹn ngào nói với vợ : - Anh đi vào trong nớ xây bia tưởng niệm cho các anh ấy, gần tết anh về. Rồi anh ngắc ngứ: …Không biết cao điểm ấy có còn Búng Báng và măng le không? Hôm ấy 18 người cựu chiến binh Nghệ An đều nghe thấy anh Hải nói với vợ .và hôm ấy ai cũng ngân ngấn nước mắt. 2. Cuộc xuất phát dưới chân núi Quyết. Sáng 24 tháng 12 năm 2017. Trung tướng Khuất Duy Tiến cùng đoàn BLL bạn chiến đấu Sư đoàn 320 từ Hà Nội vào Vinh rất sớm. Hôm nay tại chân núi Quyết hai tấm bia đá nặng hơn 3 tấn sẽ được dâng hương và làm lễ rước vào Kon Tum để đưa lên đỉnh núi Ngọc Rinh Rua. Trên xe ai cũng im lặng, bỏi tất cả những tướng lĩnh sĩ quan ngồi đây đều từng chiến đấu ở đó ngày xưa. Nay họ già yếu nhưng đều muốn làm điều gì đó với đồng đội của mình. Người tướng già đăm chiêu nhìn qua cửa xe. Vùn vụt trôi lại phía sau là làng mạc là đồng ruộng là núi đồi y hệt như gần năm mươi năm trước ông còn là trung đoàn trưởng ngồi xe ra trận. Bên ông những người lính trẻ măng ngày ấy nay cũng đã ngài sáu mươi. Ông đang đi về với anh em ccb sư đoàn, đi về một vùng đồng đội. Khi trung tướng Khuất Duy Tiến đến nơi thì ở chân núi Quyết đã có hai trung tướng ngồi chờ với gần 100 ccb Nghệ An. Đó là Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng và trung tướng Nguyễn văn Minh. Họ ôm nhau ràn rụa nước mắt trong khói nhang và lễ khẩn cáo hương hồn liệt sĩ, khẩn cáo anh linh Hoàng Đế Quang Trung phù hộ cho anh em Nghệ An đưa tiễn bia Liệt sĩ 1015, 1049 tại đất Trung Đô núi Phượng Hoàng về chiến trường Kon Tum. Chúng tôi cùng nhìn lên núi Quyết xanh ngát những thông những bạch đàn. Đại tá Nguyễn Thế Tân nguyên Sư đoàn trưởng 320 đọc lời húa với hương hồn Liệt sĩ. Anh nói …” Chúng tôi những người lính sư đoàn sẽ nguyện làm hết sức mình vì lương tâm với đồng đội vì trách nhiệm với lịch sử vẻ vang của sư đoàn. Chúng tôi làm tất cả công việc này vì chính trái tim người lính chúng tôi…” Nhìn những khối đá đồ sộ chạm khắc công phu và những dòng chữ trên bia, chúng tôi hiểu rằng máu và nước mắt người lính tạc thành văn bia. Tiền có thể mua nhiều khối đá mua được nhiều sản phẩm kiến trúc nhưng tiền không thổi hồn người vào trong những hiện vật tâm linh nhất là những biểu trưng đổi bằng máu người lính chiến. Chúng tôi đứng trước tấm bia kính cẩn thắp nén nhang để chiều hôm ấy xuất phát cuộc hành quân về cao điểm 1015,10149 trong Kon Tum mà cứ như thấy hàng chục hàng trăm đồng đội mình lướt qua rồi họ đi nhanh vùn vụt lên núi Quyết, họ vác đạn, họ khiêng pháo, họ bám nhau leo lên núi mà nổ súng. Trong sáng mùa đông thành Vinh cảm thấy như một sáng mùa khô năm 1972 nơi trận đánh 1015 và 1049 đang diễn ra ác liệt. Hôm ấy mưa rét lắm mà không khí thật là ấm áp như cuộc ra trận ngày nào,cuộc ra trận với tấm lòng tri ân người đã khuất và tôn vinh chính xương máu của đời mình. Chiều nay đồng đội tôi hành quân về Ngọc Rinh Rua. Các anh sẽ lên 1015 , 1049 các anh sẽ làm công việc cho đỉnh cao này không hoang vắng. 3. Đêm trên Charlie Trở lại ngọn Ngọc Rinh Rua lần này gồm 28 cựu chiến binh sư đoàn tất cả đều quê Nghệ An. Ngươi chỉ huy là Đại tá Nguyễn Thế Tân, nguyên Sư đoàn trưởng 320 nghỉ hưu năm 2012. Nhưng người thủ lĩnh trực tiếp là Đại úy Lê Mạnh Hải mà người thành phố Vinh . Hải trông trẻ hơn cái tuổi 67 của mình. Cặp mắt sáng và tác phong nhanh nhẹn lúc nào cũng muốn cười. Lê Mạnh Hải vừa làm lái xe, vừa làm thợ, vừa chỉ huy xây dựng. Bản thiết kế nhà bia 1015 và nhà bia 1049 là do anh và cán bộ Công ty của anh thiết kế . Thiết kế rồi. Nguyễn Thế Tân và Lê Mạnh Hải lại là người đi thực thi suốt mấy tháng trời trong nắng gió mùa khô Tây Nguyên. Ở tuổi gần bẩy mươi mà hơn hai chục người lính già lên xuống ngọn núi cao trên một nghìn mét để làm công trình trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt thật là một kì tích. Đứng trên đỉnh Ngọc Rinh Rua nhìn về Dak To Tân Cảnh con sông Pô cô như dải lụa trắng vắt lên một thảm cỏ xanh. Từ cao điểm 1015 nhìn xuôi hướng nam là nối liếp các điểm cao 1049 ( denta) 1055, 1088 . Nó là hàng loạt các căn cứ bố phòng của lính dù án ngữ thành hành lang phiá tây bảo vệ cho Kon Tum. Phòng tuyến này gọi là phòng tuyến tây sông Pô Cô. Nơi đây ngày 30/3/1972 Tiếng súng mở màn phá toang phòng tuyến sông Pô cô bắt đầu. Đại úy Lê Mạnh Hải lúc ấy là chiến sĩ vận tải đi với trung đoàn 52. Anh nói, tôi ước tìm được người chiến sĩ bị thương vào chân đêm 30/3/72 quê Thanh Hóa quá. Đêm ấy anh ở cùng hầm với tôi gần sáng, anh lại bò lên trận địa… Ngày hôm sau , các chiến sĩ vận tải lên cao điểm đưa tử sĩ và thương binh về. Máu đỏ cả ven suối Rờ Cơi. Hải khóc nưng nức vì thương đồng đội. Chàng trai thành Vinh lần giáp trận 1049 với bao nhiêu là nước mắt. Đánh 1049 ( Den Ta) vừa được mấy ngày thì trận đánh Charlie diễn ra. Tiểu đoàn 11 dù Song Kiếm Trấn ải bị trung đoàn 64 f320 vây hãm suốt 3 ngày. Charlie cháy bùng bùng vì những trận bom B52 và bom hủy trận địa của QL VNCH. Suốt từ 12 tháng tư đến 15 tháng tư năm bẩy hai các mũi tấn công lên 1015 liệt sĩ nằm gối lên nhau. Trận đánh vô cùng ác liệt nhưng không một mũi nào chùn bước. 15/4/72 cả tiểu đoàn dù 11 bị tiêu diệt , phòng tuyến tây sông Pô cô phá toang. Hướng tấn công từ phía tây vào Dak to Tân Cảnh mở tung. Nhưng cao điểm 1015 đã thấm máu của hơn hai trăm chiến sĩ e64 và chỉ cách 5 cây số là 1049 cũng với hơn hai trăm chiến sĩ e52 nằm lại với mùa khô 1972 máu nhuộm đỏ đất đỏ ba zan. Vậy là sau 42 năm những người lính f320 quê Nghệ An lại ngủ đêm trên 1015 và 1049. Gió hun hút, gió mùa khô trên đỉnh núi trọc lốc như ngựa hoang cuồn cuộn quằn quại từ đông sang tây. Gió khô nứt da người dưới nắng ban ngày và lạnh cóng về ban đêm. Đêm nay sau 43 năm ông Quyền lại ngủ trên vùng núi Kon Tum. Quanh ông là ccb cùng thời nay đều ngót 70 tuổi. Ông Quyền thao thức không ngủ, nhớ đến năm 72 khi ông là lính 12, 7 li của sư đoàn. Ông nhớ những ngày tháng 4 năm 1972 bắn máy bay ở đây đến đỏ nòng súng. Ông nhìn sang góc lều bạt vợ chồng gìa đồng đội của ông tên Quỳnh cũng trằn trọc. Bà Hồng đi theo để chăm sóc ông Quỳnh và thành người nấu cơm trên 1015 suốt 21 ngày. Hai ông bà cùng tuổi Nhâm Thìn. Con cái đi làm ăn xa tận trong nam. Cũng giống như các cựu chiến binh khác có mặt trên 1015 vợ chồng người lính già quê Hưng Nguyên này chỉ ước nguyện mang công sức của mình góp một viên gạch xây vào tấm bia tưởng niệm liệt sĩ trên đồi Charlie. Đêm khuya lắm. Ông Quyền không ngủ được. Đỉnh cao này giờ không còn hoang vắng như hôm các ông mới vào hạ trại. Cỏ khô vàng úa đỉnh núi xác xơ ràm rạp dưới gió khơ khấc. Không một bóng cây, không một dòng suối, không có tiếng chim muông. Chỉ có gió và nắng. Gió cuồn cuộn, gió vun vút từ phía Dak Tô sang Chư mom ray, gió làm bạc đầu cả đá Charlie. Ông nhớ hôm đào móng khởi công, trời xanh đến lạ thường, mâm lễ nhòa nước mắt của những người lính già, gió cũng ngừng thổi, ông Quyền nhắm mắt lại và bỗng thấy tiếng súng hôm 12/4/72 dội về. Đỉnh núi như quay quay, và tiếng người ồn ào rộn rã, tiếng hô xung phong, tiếng truyền lệnh và sâu thẳm là tiếng khóc của những đồng đội ông ở sườn dốc dưới kia… 4 Công trình làm bằng tiền gom góp của cựu chiến binh. Từ suối Rờ cơi nhìn lên 1015 thấy ngọn núi trọc đầu sáng lên dưới nắng. Ấy vậy mà 16 ki lô mét mới lên đến điểm cao đặt bia liệt sĩ. Theo chỉ huy của đại tá Nguyễn Thế Tân và Lê Mạnh Hải ngày khởi công móng nhà bia cũng là ngày dựng cột cờ trên cao điểm này. Gió nhiều đến nỗi cứ 2 tháng là anh em lại phải thay cờ. Đứng dưới lá cờ trên đỉnh cao hoang vắng này bao khó khăn cũng thấy vơi đi. Những người trong Ban Liên Lạc bạn chiến đấu Sư đoàn đã phải trải qua hàng chục cuộc họp, bao nhiêu là khó khăn, bế tắc, bao nhiêu là day dứt để có được cuộc bắt tay vào xây dựng công trình trên đỉnh núi này. Bắt đầu từ ý tưởng nung nấu của các cựu chiến binh trong bài bút kí TRỞ LẠI 1015 in trên Tạp Chí VNQĐ tháng 5 năm 2015. Những người trong BLL bạn chiến đấu mà đứng đầu là Trung tướng Khuất Duy Tiên quyết tâm phải trả món nợ với đồng đội mình. Món nợ là một nơi trú ngụ tâm linh ở chốn hoang vắng, mà nơi đó là một VÙNG ĐỒNG ĐỘI. Nơi đó hàng nấy trăm linh hồn trai tân không thêm tuổi nào suốt hơn bốn chục năm qua. Trong một cuộc họp BLL Trung tướng Khuất Duy Tiến xúc động trao cho BLL số tiền tiết kiệm của ông là 450 triệu đồng để góp cùng các cựu chiến binh lấy quĩ xây dựng bia. Một cân xi măng một cân sắt đưa lên đỉnh cao trên một ngàn mét Ngọc Rinh Rua thành 5 cân. Một lít nước suối chở bằng xe máy lên đỉnh núi đắt hơn một chai nước La Vie. Những người lính già xây dựng bia mỗi ngày được dùng 2 lit nước rửa mặt đánh răng. 10 ngày được xuống núi tắm một lần. Mỗi lần xuống núi lấy nước ông Quyền lại khóc. Ông khóc bởi cũng chính chỗ con suối này năm 1972 có nhiều đồng đội ông ra lấy nước bị lính tiểu đoàn 2 dù đóng trên 1049 phục kích mà hi sinh. Mỗi lần lấy nước, mỗi lần chở vật tư lên núi qua bình độ 800 nơi có rừng thông rộn rã tiếng ve kêu là Lê Mạnh Hải lại ngồi nghỉ. Hải nằm xuống thảm lá thông, nhắm mắt lại để nhớ về đêm “Den- ta “ của mấy chục năm trước. Đêm ấy lính ta hi sinh cũng được cáng về qua chỗ rừng thông này. Bây giờ rừng thông xanh mà đất thì đỏ, đất ba zan có máu các anh. Một vùng hoang vu, một vùng bom mìn sót lại, một thời người dân sợ hãi không dám lên núi, vậy mà con đường lên 1015 và 1049 bây giờ không còn hoang vắng. 5 Đỉnh cao không hoang vắng Tôi đã gặp những người cựu chiến binh sư đoàn tôi đang xây nhà bia trên 1015 hôm vào Gia Lai khánh thành bia chiến tích Đức Cơ. Chúng tôi ôm nhau cùng nói về trận đánh phá toang phòng tuyến tây sông Pô Cô ngày xưa. Cùng nhớ về những năm tháng lăn lóc đánh đường 19 giữ vùng giải phóng. Trong nắng gió Tây Nguyên những người lính sư đoàn Đồng Bằng lại thấy như mình trẻ lại. Hôm ấy chúng tôi lại dược gặp những người chỉ huy cũ của mình. Những người tướng già mà cuộc đời có tới chục năm gắn bó với Tây Nguyên. Hôm ấy khi biết lính 320 đang xây bia liệt sĩ trên đỉnh 1015 và 1049, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước đã nói với Trung tướng Khuất Duy Tiến : - Anh Tiến ơi, ngày mai anh bố trí cho tôi lên 1015. Nếu xe không leo được thì cho tôi đến chân núi Ngọc Rinh Rua để tôi khấn anh em liệt sĩ. Còn nếu leo lên núi mà tôi có chết thì anh cho bộ đội 320 chôn tôi ở trên đó cùng các đồng đội của mình. . Ông Khuất Duy Tiến ôm chầm lấy ông Nguyễn Quốc Thước: - Anh ơi ngày mai em sẽ đưa anh lên với anh em mình trên 1015 và 1049. Chúng ta phải xây cho được nhà bia trên ấy để anh em không lạnh lẽo cô đơn. Quay sang Lê Mạnh Hải và Nguyễn Thế Tân, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước cảm động nói : - Các cậu cho chúng tớ chụp tấm ảnh chung với anh em Nghê An đang xây dưng bia trên 1015. Không ở đâu như các anh em 320. Góp tiền để xây nhà bia liệt sĩ chứ không đi xin tiền, không dựa vào ngân sách nhà nước. Nhưng dù có tiền mà không có tấm lòng, không có tình yêu thương đồng đội, thì không thể cõng xi măng sắt thép lên đỉnh núi hơn ngàn thước mà xây được. Chỉ có tình yêu thương đồng đội của người lính chiến mới làm nên câu chuyện này. Đây không còn là câu chuyện dựng bia nữa mà đây là kì tích của cựu chiến binh Sư đoàn 320 anh hùng. - Trở lại Tây Nguyên, trở lại 1015 là trở về một vùng đồng đội một vùng tâm linh rực sáng của người lính Tây Nguyên. Một ngày nào đó chúng tôi ước ao tỉnh Kon Tum sẽ làm được con đường đổ bê tông lên núi để những cuộc hành hương về nguồn của đời sau đến với sự hi sinh của thế hệ đi trước, con đường đi lên 1015, 1049 , để đỉnh cao này không còn hoang vắng.

Nhà bia tưởng niệm các LS Sư đoàn 320 hy sinh tại điểm cao 1015 Kon Tum

    

LỜI HỨA “ SỐNG VỚI MẸ TRỌN ĐỜI “ VÀ 60 LÁ THƯ CỦA LIỆT SỸ 20 TUỔI

TIẾN TỚI KỶ NIỆM 73 NĂM - NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SỸ ( 27/7/1947 - 27/7/2020 )
Phạm Ngọc Hùng quê ở Hà Nội , anh sinh ngày 2/4/1951 , nhập ngũ tháng 9 / 1969 , vào chiến trường Tây Nguyên tháng 2 năm 1970 . Là lính đại đội 9 - Tiểu đoàn 9 - Trung đoàn 66 . Gần 2 năm ở chiến trường anh đã viết 60 bức thư về cho mẹ và gia đình . Bức thư nào của anh cũng chứa chan tình cảm đối với cha mẹ và những người thân yêu . Mặc dù cuộc sống , chiến đấu ở chiến trường vô cùng gian khó , ác liệt song anh vẫn rất lạc quan tin tưởng ngày chiến thắng trở về với mẹ . Tiếc thay nó đã không trở thành sự thật , Phạm Ngọc Hùng đã mãi mãi nằm lại ở chiến trường Tây Nguyên khi mới tròn 20 tuổi ( anh hy sinh ngày 25/11/1971 tại khu vực KLeng - Kon Tum ) . Nhân kỷ niệm ngày thương binh - liệt sỹ , trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc những bức thư của anh viết từ chiến trường gửi về cho mẹ

LỜI HỨA “ SỐNG VỚI MẸ TRỌN ĐỜI “ VÀ 60 LÁ THƯ CỦA LIỆT SỸ 20 TUỔI 
                                                     Phạm Ngọc Hùng
Bức thư đề ngày 26/5/1970
"Là người lính ai chả đặt cho mình một niềm tin chiến thắng và nhất định là như vậy - con sẽ chiến thắng và nhất định trở về sống bên mẹ đến trọn đời. Mẹ hãy vui lên, mẹ đừng buồn nhé" .
Bức thư ngày 10/2/1970 : “Dù cho chiến tranh có tàn khốc và man rợ đến đâu, có gây ra tang tóc, biệt ly, không thể nào cướp được đứa con trai của mẹ đâu, tình yêu thương của bố mẹ gia đình sẽ bảo hộ cho con. Cuối cùng, sau ngày chiến thắng nhất định con sẽ trở về với bố mẹ, vì vậy mẹ hãy yên tâm nhé"
Lúc viết những dòng thư trên gửi về cho gia đình, có lẽ Hùng vẫn luôn nuôi hy vọng và giữ vững niềm tin về ngày hòa bình sẽ trở về bên mẹ để được "sống với mẹ đến trọn đời". Nhưng chiến tranh thật tàn khốc, Phạm Ngọc Hùng đã hy sinh trong lúc đi làm nhiệm vụ ở KLeng - Kon Tum tháng 11/1971 .
Tròn 60 lá thư gia đình nhận được trong 2 năm Hùng đi bộ đội được bố của anh cẩn thận đánh số thứ tự, lưu giữ lại trong một quyển sổ bìa nhung đỏ đến bây giờ vẫn còn nguyên vẹn dù đã 49 năm.
60 lá thư được chàng lính trẻ viết trên đủ chất liệu giấy, nhiều màu mực, thậm chí có cả màu của thuốc đỏ. Có những trang được tận dụng cả phần ngoài lề tờ giấy để gửi gắm tình cảm về cho gia đình.
Nếu bây giờ Hùng còn sống thì ông đã bước sang tuổi 69. Nhưng trong bài viết này, cho phép tôi được gọi người liệt sĩ bằng tên, bởi tôi tin rằng dù có bao nhiêu năm trôi qua nữa, Hùng vẫn mãi mãi tuổi 20 với đầy nhiệt huyết, tình yêu. Và những tình cảm trong 60 lá thư được gửi từ chiến trường của người liệt sĩ này vẫn còn nguyên giá trị cho những thế hệ sau.

Ở độ tuổi 18-20 thời nay, những người trẻ sống cùng với đủ các vật dụng công nghệ hiện đại, dành nhiều thời gian cho mạng xã hội, đi du lịch để có thêm trải nghiệm. Còn với những chàng trai như Hùng thời ấy, lý tưởng của lứa tuổi 19, đôi mươi là xếp bút nghiên vào Nam chiến đấu.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông (lúc đó là lớp 10) đạt loại giỏi, Hùng cùng lúc nhận được giấy báo đại học và nhập ngũ. Hùng chọn lên đường đi bộ đội

"Sao con không đi học đại học đã?", mẹ của Hùng lúc ấy hỏi cậu. Chàng trai 18 tuổi lúc ấy trả lời mẹ: "Mẹ cất tấm giấy học đại học này đi cho con. Chiến thắng trở về con học tiếp mẹ ạ. Con thích học lắm chứ, nhưng trai thời chiến, con phải xếp bút nghiên lên đường chiến đấu".
Vậy là ngày 4/9/1969, Hùng tạm biệt gia đình, bạn bè, hàng xóm ở phố Trần Quốc Toản (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), lên đường nhập ngũ.
Lá thư đầu tiên gia đình nhận từ Hùng được viết vào buổi chiều, trong ngày cậu lên đường. "Như vậy là sáng nay sau khi tạm biệt Hà Nội thân yêu, tạm biệt gia đình, chúng con đi về làng Đại Từ, Thanh Trì, Hà Nội. Lúc đi cũng tương đối vất vả, đường thì trơn như đổ mỡ mà lại mưa to nữa. Nhưng vẫn không sao cả, đây chỉ là khó khăn nhỏ nhặt bước đầu thôi". Lá thư ngắn gọn kèm dòng tái bút (TB) "chưa có địa chỉ của con".
Những lá thư đều đặn được Hùng gửi về cho bố mẹ và các em ở Hà Nội. Đó là những dòng cập nhật tình hình những ngày hành quân, đang ở nơi nào, có địa chỉ hay chưa, dòng thông tin về những đồng đội ở cùng và luôn luôn kèm lời nhắn gửi bố mẹ, anh chị em ở nhà giữ sức khỏe, nhớ viết thư và gửi kèm ảnh cho Hùng...

"20/9/1969
Mẹ ạ! Từ hôm chiều chủ nhật ở Hà Nội đi đến nay đã gần một tuần lễ rồi. Sáng thứ 2 bắt đầu cuộc hành quân gian khổ đầu tiên đi từ Đại Từ đến Đồng Văn. Đây là cuộc đi đầu tiên của chúng con, vai vác nặng vô cùng mà đường đi lại xa nên chân con rộp cả lên, mọng nước, vai đau ê ẩm...
Phong cảnh ở đây rất đẹp, trước mắt là núi trùng trùng điệp điệp, bên cạnh là dòng sông xanh biếc chảy róc rách thật là sơn thủy hữu tình. Nếu cứ ở Hà Nội mãi thì thật là tiếc vì không thể ngắm phong cảnh ở đây, phong cảnh thì đẹp như vậy nhưng bóng người thì thật là buồn, buồn lắm. Song con tin chắc rằng mọi sự gian khổ, buồn tẻ sẽ không lùi bước, nó sẽ theo thời gian mà trôi cả thôi. Có phải không mẹ".
"2/12/1969
Chúng con vì tập luyện chuẩn bị đi B cho nên rèn luyện tinh thần khẩn trương lắm. Dạo này đi 'rèn' nhiều, vai nặng hơn và đi dài lắm , thường thường mỗi tối đi ngủ phải để 'vợ' (súng nằm bên cạnh). Sáng sớm nghe tiếng còi là vội vàng mặc quần áo, xách súng, ba lô chạy vũ trang toàn tiểu đoàn. Mệt lắm bố mẹ ạ, có nhiều lúc cảm giác không phải thở bằng mũi mà thở bằng cả tai, mắt, mồm... nữa, trời giá rét như vậy nhưng chúng con ai cũng mồ hôi đầm đìa ướt hết cả áo.
Rồi những buổi đi 'rèn' vác đất nặng khoảng 28 kg đi hàng chục cây số không nghỉ, những chiếc nan sọt như cố tình trêu ghẹo chúng con thích vào sườn ê ẩm như những mũi dao con...".
"Đất Kon Tum, 12/4/1970
Mẹ ạ! Mưa nhiều chúng con khổ quá. Bây giờ đi vùng đất B này thực sự là chúng con đang được ôn lại những hôm leo dốc Trường Sơn. Dốc rất cao và nhiều mưa dầm càng làm cho đường trơn và khó đi. Vắt và , muỗi rất nhiều, lúc nào cũng bao vây và tấn công dữ dội bọn con. Vượt được Trường Sơn qua khỏi đất Lào vẫn an toàn đấy, mưa là điều đáng mừng với bọn con. Mà qua khỏi đất B này mới là điều hạnh phúc nhất, vì nước ở vùng này rất độc, nhiều biệt kích và B52 ném bom dữ".
"Gia Lai, 26/5/1970
Mẹ ạ! Ba lô hành quân chiến đấu hiện giờ lúc nào cũng nặng tới 40 kg - gạo 18 kg cả tháng - đạn - pháo cối - lựu đạn - súng tất cả lúc nào cũng è trên cổ, lại leo dốc của vùng đất B3 này nữa. Mùa mưa tới lại càng gây cho bọn con thêm khốn khổ".

Ở chiến trường có những đêm mất ngủ, có những ngày hành quân dài đằng đẳng, ba lô vác nặng, ròng rã leo dốc, ăn cơm vắt ngủ hầm, bom đạn bắn kế bên mình. Ở đó là những ngày "cơm ăn 5 lạng một ngày cũng đói", đào thêm củ mài ở rừng ăn thêm, muối không đủ ăn... nhưng Hùng cùng đồng đội vẫn cứ lạc quan, yêu đời, ca hát, Hùng còn tự học thổi armonica...
Trong lá thư được Hùng chú thích "miền Tây, 26/2/1971", Hùng kể về tình hình những đồng đội của mình, người tên Dũng bị sức ép B52 động kinh, người tên Doanh bị thương mất 1/4 bán cầu não. Hay như trong lá thư viết cho anh trai đề ngày 22/8/1971, Hùng kể 3 người bạn Thọ, Cường, Mỹ đã hy sinh.
Nhiều đồng đội lần lượt ngã xuống hay bị thương nặng, được chuyển về đơn vị nơi mà Hùng gọi là "đơn vị Minh béo". Thế nhưng, Hùng vẫn kiên cường, mạnh mẽ trong những dòng thư gửi về để gia đình an tâm.
“Ngồi viết thư cho cậu mợ (cách gọi khác của bố mẹ - PV) máy bay địch vẫn gầm rú cuồng loạn trên đầu. Thỉnh thoảng vài loạt đại bác địch bắn cầm canh ầm ì từ xa - ở đất này là vậy, ngày cũng như đêm không bao giờ ngừng tiếng súng - Nhưng chúng con ở đây thì an toàn lắm, có lo gì là bom đạn địch đâu. Màu xanh của rừng núi là cái áo giáp che thân của bọn con. Loại máy bay trinh sát của địch L/19 - OV10 suốt ngày vè vè trên đầu mà cũng như không thôi".
Và trong lá thư cuối cùng Hùng gửi cho bố mẹ đề ngày 19/9/1971, trong sự khó khăn của đời lính, Hùng vẫn cho bố mẹ thấy sự "thú vị riêng" của chiến trường.
"Ở đây rừng rú âm u tuy buồn, nó cũng dạy cho mình nhiều cái hay và thú vị riêng nhất định của nó. Bây giờ đã là cuối mùa mưa rồi, mùa mưa thứ 2 ở chiến trường đến với con cũng có phần dễ chịu hơn - không phải là mưa kém tai quái hơn đâu mà do sự quen biết và chịu đựng hơn thôi.
Chúng con bây giờ cả ngày chỉ ăn 1 lạng rưỡi gạo và ăn độn thêm 8 lạng ngô do tự chúng con làm ra. Muối năm nay mùa mưa có đầy đủ hơn không bị tình trạng ăn nhạt kéo dài hàng tháng như năm ngoái"


Xuyên suốt những dòng thư của Hùng chỉ có gia đình, có mẹ, anh chị em, bạn bè, đồng đội. Lá thư nào Hùng cũng nhờ bố mẹ gửi lời hỏi thăm bà con hàng xóm, dặn bạn bè rảnh viết thư cho mình và luôn nhờ cả nhà gửi thật nhiều ảnh chứ không cần gì cả.
Trong những dòng thư biên từ chiến trường, Hùng luôn tự đặt câu hỏi rằng có phải mẹ đang ở nhà lo lắng và khóc vì nhớ thương cậu nhiều lắm không, rồi anh dặn dò người mẹ của mình "hãy tin tưởng nơi con", "mẹ hãy vui lên mẹ đừng buồn nhé", "mẹ hãy thật khỏe mạnh, đừng làm việc nhiều quá mà ảnh hưởng sức khỏe...".
Thậm chí, trong lá thư viết ngày 3/4/1970 - sinh nhật 19 tuổi của mình, Hùng còn sẵn sàng không lấy vợ mà chỉ nguyện sống với mẹ. Trong 60 lá thư gửi về, Hùng vẫn luôn nhắc đi nhắc lại lời hứa "sẽ về và sống với mẹ đến trọn đời".
"Sau này không lấy vợ cũng được, con chỉ sống bên mẹ đến trọn đời thôi. Mẹ hãy luôn vui khỏe đợi con về nhé. Bây giờ xa mẹ, con đang viết một quyển nhật ký tâm sự nỗi lòng con với mẹ trong những ngày hành quân gian khổ nhưng vinh quang. Sau này trở về con sẽ xin tặng lại mẹ. Mẹ hãy yên tâm mẹ nhé".
"Sau này trở về con cũng không cần mợ thưởng cho con cái gì cả. Chỉ cần một chiếc hôn của mẹ với con là phần thưởng cao quý nhất rồi, còn gì mà bằng được nữa".
Những lá thư viết cho anh chị và các em, Hùng cũng không quên "tị nạnh" với mọi người hạnh phúc hơn mình nhiều vì được ở gần bố mẹ và nhắn gửi "đừng bao giờ để bố mẹ buồn phiền hay lo nghĩ gì cả nhé. Bố mẹ thì già yếu và vất vả nhiều lắm rồi, để cho bố mẹ nghĩ ngơi và lúc nào cũng vui vẻ nhé".
Thế nhưng, trước tình hình ác liệt của chiến tranh, nhìn thấy những đồng đội của mình ngã xuống, dù có lạc quan đến thế nào, Hùng vẫn chuẩn bị tâm thế có thể hy sinh. Giữa những dòng thư gửi về, Hùng vẫn canh cánh nỗi lo chia lìa và tranh thủ dặn dò bố mẹ đừng buồn nếu cậu có ra đi mãi mãi.
"1/5/1970
Bố mẹ thương của con! Cuộc đời người ta ai là người biết trước số phận của mình được nhỉ. Khó lắm mẹ ạ! Cho nên dù phải trả 1 giá đắt nhất thì bố mẹ cũng đừng buồn gì cả. Mà mẹ hãy tự hào và kiêu hãnh vì có 1 người con hay một giọt máu của chính mình đã cống hiến cho tổ quốc trong sự nghiệp của cả dân tộc anh hùng này".
“Gia Lai, 26/5/1970
Xa mẹ để gần mẹ mãi mãi... Nhưng trong cuộc chiến sắp tới, ai là người biết trước số phận của mình được nhỉ. Không biết rằng ước mơ đó của con có thực hiện được không? Hay là xa mẹ - xa mãi mãi. Mẹ! Mẹ có buồn không mẹ!".

Trong lá thư Hùng viết ngày 28/4/1971, anh có ghi "kỳ trước 18/3 con nhận được 2 lá thư của cậu mợ gửi cho con hồi tháng 9 và 10/1970".
Điều này có nghĩa là những lá thư gia đình gửi có khi mấy tháng sau Hùng mới nhận được. Và cũng không biết đã có thêm bao nhiêu lá thư được Hùng gửi từ chiến trường về nhưng không đến được tay người nhận.
Từ những tháng cuối năm 1971, gia đình không còn nhận được lá thư nào từ Hùng nữa.
"Thời điểm đó, bố tôi cũng hay tin anh Hùng mất, người này người kia cũng có đồn là anh tôi đã hy sinh. Nhưng vì lo cho sức khỏe của mẹ có thể ngã quỵ, tăng xông khi hay tin nên ông giấu mẹ tôi. Và mẹ sau đó cũng biết, nhưng không nói cho bố. Ở nhà mấy mẹ con ôm nhau khóc, nhưng thấy bố về là vội lau nước mắt. Gia đình cứ giữ kín về cái chết của anh Hùng như thế, không khí im lìm và nặng nề cho đến 2 năm sau, khi nhận được giấy báo tử", bà Phạm Thị Kim Anh (67 tuổi, em gái của liệt sĩ Phạm Ngọc Hùng trò chuyện với Zing.
Chuyện là trong một lần tiểu đội 3 người có Hùng đi trinh sát, chẳng may đã lọt vào ổ mai phục của địch. Khi Hùng bị bắn trúng phổi, biết mình không thể qua khỏi, anh đã lôi quyển nhật ký viết cho mẹ để nhờ đồng đội tên Cường đem về giao lại cho mẹ của mình. Nhưng tiếc thay, Cường sau đó cũng đã hy sinh trong một trận đánh khác.
Qua lời kể của người bạn cùng đơn vị, giây phút trước khi nhắm mắt, Hùng lôi từ ngực trái tấm hình của bố mẹ - tấm ảnh mà có lần bị mất, Hùng vẫn dặn bố mẹ gửi vào lại tấm mới cho anh - cố mở mắt nhìn lần cuối, nói xin lỗi vì đã không trở về như lời đã hứa. Tấm ảnh đó bây giờ vẫn còn lưu lại, thấm vết máu năm xưa của người lính trẻ.
Điều đặc biệt là có một lá thư được Hùng găm trong lọ penixilin, thả trôi theo dòng nước từ Kon Tum về xuôi, chỉ mong ai đó nhặt được, gửi về cho gia đình. Đây là cách mà nhiều chiến sĩ thời đó đã áp dụng, nhưng có biết bao người chờ mong trong vô vọng. Nhưng kỳ lạ thay, lá thư này cũng được một người nhặt được và mang về đưa tận nhà cho bố mẹ Hùng. Nhưng cũng chính lúc đó, chàng trai 20 tuổi ấy đã mãi mãi nằm lại ở chiến trường Tây Nguyên.
Trong những lá thư gửi về, Hùng luôn kỳ vọng vào những người em của mình, rằng Kim Anh sẽ trở thành họa sĩ, Hiệp sẽ thật chăm ngoan không nghe lời bạn bè xấu, Yến sẽ làm bác sĩ... Chàng trai Phạm Ngọc Hùng ngã xuống, nhưng những lời nhắn gửi, yêu thương đong đầy của anh vẫn là động lực cho những người em. Để giờ đây, Kim Anh, Hiệp và Yến ngày nào đều trở thành người đúng như Hùng mong mỏi.( Tư liệu sưu tầm của tác giả Hoài Thanh )


    

LÍNH ĐOÀN ĐẮC TÔ KỂ CHUYỆN ĐÁNH CHIẾM SỞ CHỈ HUY SƯ ĐOÀN 23 NGỤY

LÍNH ĐOÀN ĐẮC TÔ KỂ CHUYỆN ĐÁNH CHIẾM SỞ CHỈ HUY SƯ ĐOÀN 23 NGỤY
                                                Đinh Lương Nhới - chiến sỹ đại đội 2 - Trung đoàn 24

Phần 1: TRỞ THÀNH LÍNH ĐOÀN ĐẮC TÔ

Tôi nhập ngũ tháng 4 năm 1974, vào chiến trường tháng 11/1974. Đi B sau Hiệp định Pari nên chúng tôi được hành quân bằng cơ giới.
Từ Ga Lương Sơn Thái Nguyên vào Vinh đi tàu hỏa; từ Vinh đi ô tô qua cầu Hiền Lương, Đông Hà, Quảng Trị rồi rẽ phải theo đường số 9, rồi lần lượt qua các binh trạm trên đường Trường Sơn. Dọc đường, gặp nhiều xe ra. Gặp xe nào chúng tôi cũng cứ hỏi bằng tiếng Mường là ”Có ai là người dân tộc Mường không?” Họ nhìn chúng tôi không hiểu gì, chắc họ nghĩ chúng tôi là bộ đội ở hành tinh khác đến!
Rồi chúng tôi vượt ngã ba Đông Dương đến địa bàn thuộc tỉnh Kom Tum, đây sẽ là địa điểm giao quân. Đại đa số chúng tôi được bổ sung về d4/e24/fBB10. Riêng tôi và một số anh em được về Đại đội 2. Ra binh trạm đón chúng tôi là một số cán bộ Đại đội. Trong số cán bộ này, có anh Đàm chính trị viên sau khi gặp nhau hỏi truyện biết anh Đàm là người cùng xã, anh đi bộ đội năm 1965. Mừng quá gặp được người đồng hương lại là người cùng xã nên rất mừng. Cái lạ đầu tiên là cán bộ ở đây không đeo xà cột da như ở ngoài Bắc mà họ đeo túi đựng mìn claymo của Mỹ.
Chúng tôi bắt đầu hành quân đi bộ. Khi leo qua cao điểm 1015, nhìn thấy dấu vết những trận đánh của bộ đội ta với quân địch những năm trước, mũ sắt vẫn ngổn ngang. Đối với chúng tôi rừng núi không có gì là lạ vì đa số chúng tôi là người dân tộc, nhưng leo núi mà phải mang vác nặng theo đội hình cự ly, tốc độ đều phải tuân thủ nghiêm ngặt. Hơn nữa, đây là chiến trường đã nghe tiếng máy bay pháo bắn cầm canh nên cũng có phần căng thẳng.
Về tới đơn vị sau khi nghỉ ngơi, làm công tác ổn định biên chế, tôi được về a1của trung đội 1, do anh Lập làm B trưởng, Anh Thảo người Lập Thạch làm B phó. Anh Luyện lính 1972 người Vĩnh Tường làm A trưởng. Thời gian này, đơn vị chủ yếu là học chính trị, ổn định tổ chức, chuẩn bị vào mùa khô.
Mấy hôm sau tôi cùng một số anh em được phân công đi cải thiện giúp anh nuôi.Một điều lạ nữa là nếu ở ngoài Bắc đi cải thiện tức là mổ lợn là có bữa ăn tươi nhưng ở đây đi cải thiện là được các anh lính cũ dẫn đi hái mít non, hoặc đi nhổ sắn về nấu canh. Là lính mới không quen nên thật khó nuốt nhưng vẫn phải ăn. Sau đó tôi được cử đi học lớp trinh sát cấp tốc do trung đoàn mở. Đơn vị trinh sát có sân bóng chuyền,buổi chiều hết giờ hành chính anh em tập trung chơi thể thao. Ban ngày học lý thuyết,tối ra thao trường tập khắc phục vật cản. Thời tiết ở Tây Nguyên ban ngày thì nắng,đêm thì lạnh, tập vất vả nhưng khi về được bồi dưỡng xôi lạc ăn rất ngon.
Cùng tổ với tôi có anh Khang lính 1973, người Yên Bái. Anh ấy ở C3, có tài làm thơ và kể chuyện rất hay. Anh đã hy sinh ngay ngày đầu tiên (11/3/1975) khi tham gia đánh vào SCH Sư đoàn 23 ngụy trong thị xã Buôn Mê Thuột. Nếu anh còn sống, tôi tin rằng, chắc chắn rằng anh sẽ trở thành cán bộ xuất sắc của Quân đội.
Kết thúc khóa học tôi lại trở về đơn vị lại học chiến thuật đánh công sự vững chắc, học đủ các thứ mà người lính trận cần biết. Lúc nào rỗi là anh em lại chuẩn bị những thứ cho cá nhân mình như vót tăm. Mỗi người lính chúng tôi có một cái ống tăm bằng nhôm, mài dũa rất đẹp. Rồi cắt ca INOX ra làm thành hai mảnh, một đầu có lỗ dùng vòng rút chốt quả lựu đạn US một đầu thì móc vào làm quai rút dép hoặc đan rổ giá đựng cơm. Lính ta vót nan đan rất khéo, cạp vành thì đã có dây điện thông tin vừa chắc vừa đẹp. Còn đèn thắp sáng thì xin lọ thuốc của y tá, tim đèn được luồn vào một cái ống có gờ uốn 1 cái lò xo (như lò xo bút bi bây giờ ), khi hành quân ấn bấc xuống,đậy nắp lại, vặn kỹ… thế là không lo đổ dầu, rất tiện. Rồi còn giã gạo làm bánh tráng, phở nữa chứ. Hôm đầu tiên được phân công đi giã gạo tôi cứ phân vân giữa rừng núi này lấy đâu ra chày cối mà giã gạo? Hóa ra lính cũ rất khéo, chày thì tìm một cây vừa ý, cưa ngang, lấy ni lông quấn quanh buộc dây chun thật chắc; còn cối thì mũ sắt ngụy nhiều vô thiên lủng. Còn muốn bột mịn thì rây bằng màn tuyn.
Rồi đơn vị tổ chức ăn tết trước để đi chiến dịch cũng có bánh chưng, đỗ xanh, thịt lợn, kẹo lạc. Bộ đội mình làm lấy hết, nguyên liệu thì trên cấp.
Ăn tết xong, đơn vị chuyển đi cánh Nam hành quân bằng cơ giới, không phải cuốc bộ nên lính rất sướng. Hành quân đến một khu rừng thì mới biết hôm đó mới là đến tết Nguyên đán thật. Đơn vị dừng lại, rồi đến đêm 30 tết cũng hái hoa dân chủ văn nghệ rất vui, giao thừa anh em đi chúc tết nhau một năm mới vui vẻ bình an.
Sáng ra lại lên xe hành quân tiếp mấy hôm sau đến một khu rừng khộp cạnh con suối. Tôi không biết khu vực này ở đâu, nhưng thấy dấu vết thú rừng rất nhiều, đặc biệt là trâu rừng, có hẳn một bãi phân trâu 30 – 40 phân. Tại vị trí mới, lính thông tin rải dây xuống các đơn vị (để đảm bảo bí mật vì thời gian này thông tin vô tuyến không được dùng). Quả đúng như vậy, chúng tôi được lệnh dựng lán ở cạnh bờ suối. Những ngày sau đó, chúng tôi tổ chức đi tát cá cải thiện bữa ăn. Lính chọn chỗ nào suối cua có vũng, xẻ một đường rãnh tránh qua vũng đó sau đó lấy ni lông đắp phần trên cho nước chảy theo rãnh đào rồi tát phần vũng, nói hơi quá nhưng mà thượng vàng hạ cám có gì chúng tôi nhặt tất miễn là sinh vật đó ăn được. Thời gian này các tiểu đội tự nấu cơm lấy, nên số chiến lợi phẩm thu được ở suối thì bữa ăn chúng tôi cùng rôm rả.
Rồi chúng tôi được học đánh thành phố. Không biết công binh hay đơn vị nào đã làm sẵn thao trường nhà 2 tầng, có cầu thang lên xuống toàn bằng gỗ! Cứ nhớ anh Đàm, chính trị viên, cầm loa định vận đến từng phòng gọi hàng mệt mà vui đáo để. Rồi học lên xuống xe tăng, xe bọc thép, học sa bàn đánh thành phố nhưng có một điều đặc biệt là lính không được biết sa bàn mình học là ở đâu? Thành phố nào? (mãi sau này khi vào tiền nhập đào hầm xong tôi ngồi hầm cùng anh Lập B trưởng có anh Đại đội trưởng ngồi cùng các anh giở bản đồ ra tôi mới biết đó là Buôn Mê Thuột).

Phần 2: VÀO TRẬN VÀ NHỮNG KỈ NIỆM CƯỜI RA NƯỚC MẮT


Rồi giờ G ngày N cũng đến chúng tôi hành quân tiền nhập vào vị trí quy định đêm tối hành quân đi qua rẫy cà phê của dân những vườn cà phê lúp súp ngang đầu người nhìn vào Thị xã Buôn Mê Thuột, điện sáng chưng. Khoảng 12h đêm, đơn vị tôi cũng vào đến vị trí qui định, nhưng do bộ phận trinh sát dẫn đường đưa bộ đội đi quá vào đến tận hàng rào nên lại phải lùi ra khoảng 200m cạnh vườn chuối, đào hầm chờ lệnh.
Khoảng 2h sáng phía sân bay Hòa Bình đã rộ lên tiếng súng các loại, đạn lửa xen nhau trên không trung. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Khi trời sang, sương mù tan dần nhìn vào phía địch thấy một cái chòi canh có thằng lính Ngụy không biết nó có nhìn thấy chúng tôi không mà nó cứ bắn hàng loạt AR15 lóp bóp. Một tình huống bất ngờ xảy ra, do sương mù nên xe tăng không xác định được vị trí hướng tiến nên yêu cầu bộ binh cắm cờ để xe tăng làm chuẩn tiến vào. Lập tức tổ cắm cờ được giao nhiệm vụ lên cắm cờ chuẩn gồm Kiều Hải Âu A phó và là Tổ trưởng Tôi và Cảnh người Yên Lập,Phú Thọ. Chúng tôi bò lên tìm vị trí thích hợp anh Âu trực tiếp cắm cờ, tôi mang AK, Cảnh mang B40 cảnh giới. Cắm cờ xong chúng tôi trở về hầm (chi tiết này sau được nhắc đến trong vở chèo “Bức tranh dũng sĩ ” phát trên đài tiếng nói Việt Nam).
Nhìn thấy cờ xe Tăng lao vào. Đến nơi anh em chỉ chiếc chòi canh cho xe tăng. Pháo tăng hướng nòng bắn một phát tung chiếc chòi canh rồi chúng tôi được lệnh vận động lên phá cửa mở. Vì c2 được giao nhiệm vụ là đơn vị mở cửa của Tiểu đoàn mà tôi ở a1/b1, chúng tôi ôm bộc phá lao lên. Rất may cửa mở hướng này không khó khăn kiên cố như những gì chúng tội đã được học, chỉ có mấy lớp hàng rào đơn. Chúng tôi nhanh chóng chiếm khu đầu cầu (không có lô cốt), lúc đó anh Đàm chính trị viên và anh Chuyển - Đại đội trưởng lấy pháo hiệu ra bắn, ba phát pháo hiệu vụt lên trời báo hiệu cửa mở đã thông (mặc dù trước đó các anh đã báo cáo bằng vô tuyến điện và điện hữu tuyến cho cấp trên và các đơn vị bạn phối thuộc).
Theo qui định, đơn vị mở cửa sẽ chốt lại đầu cầu để đơn vị bạn phát triển vào trung tâm. Chúng tôi ở lại khu đầu cầu cả ngày, hình như bên cạnh là khu gia bình vì thấy có dân. Đến chiều, khoảng tầm 5h30p tôi cùng một số anh em được giao nhiệm vụ đi vận chuyển tử sỹ. Khi đến cổng kho Mai Hắc Đế, nhìn vào bên trong cổng thấy 3, 4 liệt sỹ nằm cạnh chiếc K63. Đây là lần đầu tiên nhìn thấy đồng đội hy sinh, tôi cũng sợ.Trong số liệt sĩ hi sinh, có một anh đeo sắc cốt hay túi mìn mo gì đó. Than ôi, sau này tôi mới được biết, đó là anh Trương Ngọc Oánh, Tiểu đoàn trưởng cùng một số cán bộ đi theo K63 vào đến đấy thì hy sinh. Chúng tôi đưa các anh ra ngoài bàn giao cho bộ phận làm công tác tử sỹ rồi trở về làm công tác ổn định bổ sung vũ khí đạn dược chuẩn bị sáng ngày 11/3 đánh tiếp. Mục tiêu được giao vẫn là đánh chiếm Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 ngụy.
Những chuyện cười ra nước mắt
Nói về những người lính ở C2, K4 ở đơn vị lúc đó thì chúng tôi là lính mới tò te. Xin được kể lại một vài kỷ niệm cười ra nước mắt trong trận này.
(1) Sáng ngày 11/3 chúng tôi được lệnh hành tiến vượt qua khu truyền tin, kho xăng. Lúc này kho xăng đang bốc cháy, khói mù mịt, trên đầu máy bay địch gầm rú thả bom loạn xạ. Nhưng khói đã vô tình làm màn ngụy trang cho chúng tôi. Trung đội tôi vận động theo xe tăng. Lần đầu tiên đi cạnh xe tăng, tiếng gầm rú xe tăng nhức óc. Bỗng tôi nghe một tiếng rầm rất to. Tôi run bắn người, tưởng xe tăng bị vấp mìn, nhìn lại thấy anh em không ai việc gì, xe tăng vẫn chạy sau đó tôi mới biết đó là tiếng nổ đầu nòng của pháo tăng. Chúng tôi theo đường nhựa một đoạn rồi rẽ trái cắt đường đột phá thẳng vào Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23. Bỗng phía bên phải hướng đối diện xuất hiện một chiếc xe tăng, anh Luyện Tiểu đội trưởng hô: “đ/c Nhới tiêu diệt xe tăng” (lúc này tôi đang giữ B40 vì hôm 10/3 a hỏa lực bị thương gần hết nên hỏa lực được giao về các trung đội). Đang loay hoay tháo bảo hiểm quả đạn B40 thì anh Âu, a trưởng giật lấy khẩu súng của tôi nói: “để tao bắn cho”, chắc anh sợ tôi lính mới, run tay không bắn trúng, vừa lúc đó có một người hét lên: xe tăng ta có cắm cờ giải phóng mọi người đều nhìn lại thì đúng là xe tăng có cắm cờ giải phóng thật. Hú vía, nếu lúc đó không phát hiện kịp thời thì đúng là “quân ta chiến thắng quân mình”, hậu quả sẽ không biết thế nào? Một kỷ niệm nhớ đời!
(2) Sau khi làm chủ Bộ Tư Lệnh sư đoàn 23, chúng tôi chốt ở lại đó khoảng ngày 13, 14 gì đó thì rời mục tiêu, hành quân ra đồn điền cà phê để đến tối hành quân đi đánh trung đoàn 45 ngụy tiếp viện hòng tái chiến BMT. Khi đến vườn cà phê, đơn vị đào hầm, nghỉ ngơi ăn cơm trưa xong anh em nằm nghỉ. Còn lại một mình, tôi lấy súng ra lau chùi. Lúc này tôi được đổi khẩu B40 bằng khẩu B41. Ngồi cạnh miệng hầm, tôi ấn túm giẻ vào nòng súng rồi lấy que ấn nút giẻ vào, không ngờ súng B41 không như súng B40, mà phần giữa của súng rỗng nên khi giẻ vào đến đó phình ra không thể nào lấy giẻ ra được. Loay hoay cả buổi trưa, suốt gần 4 tiếng đồng hồ tôi đã khóc vừa sợ bị kỷ luật, vừa sợ không có vũ khí chiến đấu. Cuối cùng tôi vào trong hầm lấy thông nòng súng AK ra thọc vào xoay theo chiều kim đồng hồ, rất may giẻ đã cuốn vào rãnh xoắn thông nòng, tôi rút được túm rẻ ra. Thật là một bài học nhớ đời cho cánh lính mới chúng tôi!
(3) Không biết có chỉ điểm hay không, mà vừa tập trung đại đội chuẩn bị hành quân thì máy bay địch đến ném bom. May mà bộ đội có hầm trú ẩn nên không có thiệt hại gì đáng kể, nhưng cũng phải mất một thời gian mới ổn định được đội hình tiếp tục hành quân. Chập tối lính buồn ngủ vô cùng, nhất là lính mới chúng tôi. Đang đi chợt có tiếng nổ “ bép” vang lên (như tiếng nổ của nụ xòe lựu đạn), cả đơn vị nằm rạp xuống hai bên vệ đường nhưng chờ mãi không thấy có tiếng nổ nào nữa, cũng không thấy gì lạ, hóa ra một anh lính mang cục pin cối (mà lính gọi là pin cặc ngựa ) bị chập nên phát ra tiếng nổ ấy. Số là sau khi vào Buôn Mê Thuột, lính ta bỏ hết đèn dầu lấy pin chiến lợi phẩm để thắp sang, không cẩn thận nên bị chập. Đúng là “chẳng có cái dại nào giống cái dại nào” lại thêm một bài học nhớ đời cho cánh lính mới chúng tôi!
Những chuyện cười ra nước mắt như thể này, kể lại, hi vọng những đồng đội có mặt hôm đó sẽ cùng nhớ lại.
    

CHUYỆN TÔI VÀO LẤY XÁC ĐỒNG ĐỘI GIỮA VÒNG VÂY CỦA ĐỊCH.

CHUYỆN TÔI VÀO LẤY XÁC ĐỒNG ĐỘI GIỮA VÒNG VÂY CỦA ĐỊCH.
Quách Sơn - Sư đoàn 320


Các Bạn ạ !
Tháng 3 về là lại nhớ đến Tây Nguyên nơi chiến trường ác liệt gian khổ, nhớ mãi những hình ảnh của những trận chiến ác liệt, nhớ như in những người đồng đội nằm lại nơi này, chuyện đau lòng này Tôi nhớ mãi cả trong giấc mơ hàng ngày luôn.
Tổ trinh sát của chúng tôi làm nhiệm vụ nắm Địch ở cứ điểm Làng siêu 711, sau khi ta giải phóng xong cứ điểm đó địch cho trung đoàn 45 ngụy là trung đoàn mạnh của sư đoàn 23 nống ra để chiếm lại cứ điểm Làng Siêu . Trung đoàn 48 đã rút ra bàn giao lại cho tiểu đoàn 7 của trung đoàn 64 chốt giữ . Sau 3 ngày chốt giữ không chịu nổi với bom và pháo của Địch từ Play Cu và trận địa pháo Hàm Rồng bắn ra suốt ngày đêm, tiểu đoàn 7 cũng được lệnh rút khỏi cứ điểm Làng Siêu, lúc này tổ trinh sát của chúng tôi phải bám và nắm Địch giải toả đóng dã ngoại ở ngoài rừng, Địch di chuyển lúc chỗ này lúc chỗ khác rất khó nắm bắt được địch . Tôi nhớ hôm đó đầu giờ chiều , tổ trinh sát của chúng tôi có 5 người gồm 3 trinh sát viên có súng AK còn 1 y tá và 1 thông tin không có súng, chúng tôi gặp địch không kịp né tránh thì xảy ra tao ngộ chiến với địch, chúng tôi lực lượng mỏng địch thì đông cả đại đội địch xông lên bắn như mưa và ngay loạt đầu 1 y tá bị thương vào đùi, 1 trinh sát là Anh Lưu Sỹ Hồng quê Đại Từ - Thái Nguyên bị hi sinh, tôi cõng Anh Hồng trên lưng vừa bắn trả lại địch, rút lui được vài trăm mét tôi thấy 1 bụi cây chuối , tôi để Anh Hồng nằm lại nơi đó rồi lấy lá chuối đậy vào cho kín , vừa bắn vừa rút ra, tôi bị tiếp mảnh đạn M79 của địch bắn vào đùi phải và trên trán , máu chảy ra rất nhiều, còn Anh Sử không bị thương thì cõng anh Chanh y tá , anh Long thông tin ôm máy chạy, chúng tôi rút ra được đến vùng an toàn thấy địch không đuổi theo nữa chúng tôi dừng lại mang bản đồ ra để xác định vị trí đứng cho chính xác để còn biết để sau này vào lấy xác anh Hồng.
Chúng tôi điện về cho ban trinh sát Sư đoàn báo cáo tình hình cụ thể để ĐƠN VỊ cho thêm người vào phối hợp để vào lấy xác và đưa người bị thương đi viện, riêng tôi chỉ được băng bó và sơ cứu thôi phải ở lại để còn đưa người vào lấy xác anh Hồng . Địch lúc này vẫn ở đó thêm 4 ngày nữa, chúng tôi đã chui vào nhiều lần nhưng đều gặp địch nên chưa thể lấy xác của anh Hồng ra được, mãi đến ngày thứ 5 mới tạm yên, chúng tôi vào tìm nơi đã giấu anh Hồng , trong đêm tối ngửi thấy mùi thối rồi đi theo, mãi 2 giờ đêm mới tìm được nơi để xác của Anh, chúng tôi cẩn thận buộc giây vào chân Anh rồi dòng dây ra ngoài khoảng gần chục mét rồi kéo xác anh Hồng ra khỏi bụi chuối, vì thông thường xác người hi sinh địch hay gài lựu đạn ở bên dưới người để nếu mình vào lấy xác mà không biết lật xác đó ngay thì lựu đạn nổ sẽ chết thêm mấy người nữa . Khi kéo xác anh Hồng ra khỏi bụi chuối , chúng tôi đưa anh lên võng và kéo trượt đi theo khoảng vài trăm mét nữa mới đưa đòn vào để khiêng anh ra, trời tối như mực chúng tôi bám vào nhau để đi , thỉnh thoảng lại ngã, mùi thối của xác người chết bốc lên thật là sợ, khi ra ngoài được khá an toàn rồi chúng tôi ngồi nghỉ để chốc đi tiếp, sau khi nghỉ đã đỡ mệt chúng tôi tiếp tục đi nhưng vướng phải giây rừng thế là cả người khiêng và cái võng cùng ngã , xác của anh Hồng bật ra khỏi võng, tôi mới sờ mó để tìm đưa vào võng thì không thấy có đầu, vậy là lúc kéo anh ra khỏi bụi chuối chắc cái đầu anh đã đứt khỏi cổ rồi, tôi quay trở lại tìm giữa đêm đen , tìm lại cái bụi chuối thật khốn khổ, cũng may tôi đã tìm được cái đầu của Anh Hồng, tôi ôm cái đầu của anh vừa đi ra vừa ngã lên ngã xuống vì nó thối nó nhớt máu nhơ nhớp , khi ra đến chỗ cái võng có xác người của anh thì tôi để phần đầu của anh vào trong võng và chúng tôi cùng thay nhau cáng anh, đến khi trời sáng cũng là về đến nơi an toàn rồi, trời sáng nhìn xác của anh Giòi bọ nhung nhúc vậy mà đêm tối chả thấy gì, chúng tôi đào hố chôn anh ngay làng CORA2 ,số anh thật vất vả , chôn anh cũng phải dừng lại vì chạy pháo địch bắn đến 2 lần mới chôn cất anh xong Tôi tìm cái vỏ thịt hộp , lấy dao găm trích dòng chữ để làm bia cho anh, lấy một cành cây chẻ đôi ra kẹp chiếc bia vào và cắm trên mộ anh, lấy bản đồ ra xác định tọa độ và làm hồ sơ phần mộ của anh xong chúng tôi được lệnh về đơn vị nghỉ ngơi vài ngày.
Suốt cuộc đời tôi không bao giờ quên được hình ảnh của Anh Hồng hi sinh và lấy xác của anh khó khăn đến thế nào .Gần 50 năm rồi, nay phần mộ của anh đang nằm ở nghĩa trang Chư Prông tỉnh Gia Lai, tháng 6 vừa rồi Tôi đưa vợ và 5 đứa cháu của tôi vào thăm và viếng phần mộ của anh .
    

THỰC HÀNH TẤN CÔNG THỊ XÃ KÔNG PÔNG CHÀM

Trận vượt sông Mê Kông đánh chiếm thị xã Kông Pông Chàm của Sư đoàn 320 và các đơn vị phối thuộc là trận đánh vượt sông táo bạo và quy mô lớn nhất của quân đội ta từ trước tới nay. Đã có nhiều bài viết về trận đánh này, hôm nay trang Lính Tây Nguyên giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của bạn Trần Đăng Quế - một cán bộ trinh sát của Quân đoàn.

THỰC HÀNH TẤN CÔNG THỊ XÃ KÔNG PÔNG CHÀM
                                    Trần Đăng Quế


Sau mấy ngày tiến quân dồn dập, các đơn vị của ta đã tiến vào đất CPC với một quảng đường khá xa. Lúc này hầu hết các đơn vị của Quân đoàn cùng các đơn vị của Quân khu 7 và của Bộ đã đứng chân trên đất CPC. Để chẩn chính lại đội hình và chuẩn bị cho các cuộc tấn công tiếp theo, hơn nữa sông Mê Công coi như một vật cản tự nhiên ngăn bước tiến của Quân ta. Sau khi đã điều chỉnh xong đội hình của các đơn vị thuộc Quân đoàn. Các đơn bắt đầu làm công tác chuấn bị cho cuộc tấn công này. Cũng phải nói thêm tình hình địch một tý. Sau khi bị thất bại nhưng các đơn vị của Pôn Pốt chưa tan rã hẳn mà dạt sang hai bên. Chúng vẫn còn cơ bản hệ thống chỉ huy các cấp. Các đơn vị thọc sâu của ta theo mục tiêu được giao cứ tiến. Các đơn vị phía sau làm nhiệm vụ truy quét tàn quân . Nhiệm vụ này cũng không kém phần ác liệt đòi hỏi mất nhiều thời gian. Quân ta tiến đến sát phía đông Koong Pông Chàm nhưng chủ yếu dọc theo Quốc lộ, cách xa hai bên đường ta chưa thể triển khai quân đến các khu vực này , có nhiều vùng địch vẫn kiểm soát. Cụ thể phía bờ đông Kông Pông Chàm , cách trục đường khoảng 3 km vẫn còn địch, chúng còn khá mạnh. Các đơn vị của ta khi tiến đến đây đã phải bố trí ngay phòng ngự chống các đợt phản kích của định. Phía bờ Tây , lợi dụng bờ sông Mê công tương đối dốc , qua quan sát địch bố trí một hệ thống phòng ngự tương đối vững chắc. Theo các tin tức ta nắm được. Bộ trưởng Quốc phòng của Pôn Pốt là Xo Xen trực tiếp chỉ huy trận tuyến phòng ngự này. Phía ta các đơn vị đã được giao nhiệm vụ cụ thể. Riêng trinh sát của Quân đoàn trước lúc thực hành tấn công theo lệnh của Tư Lệnh Kim Tuấn, tổ chức một toán trinh sát vượt sông bằng thuyền thẳng vào trận địa phòng ngự của địch, như nhiệm vụ được giao "sang trước bộ binh 5 phút cũng được ". Tôi lại được giao nhiệm vụ tổ chức chỉ huy thực hiện nhiệm vụ này , tiến hành lựa chọn và cử những đồng chí dạn dầy trận mạc tham gia toán này. Thực tế nhiều đồng chí khi giao nhiệm vụ đều nghiêm chỉnh chấp hành, mặc dù biết khả năng hy sinh là rất cao . Cùng lúc này tiểu đoàn giao cho đ/c Tân(lúc này đã có quyết định chính thức là đại đội trưởng, sau này là Đại tá nguyên Trưởng phòng điều tra hình sự Quân đoàn 3 hiện đang sống ở Gia lai) trực tiếp chỉ huy một tổ đi tìm thuyền cho toán chúng tôi vượt sông. Lần này thì toàn bộ toán xác định coi như toán "cảm tử quân". Khi một chiếc thuyền nhỏ bé bơi qua sông rộng khoảng 1 km thẳng vào trận địa phòng ngự của địch thì thoát làm sao được. Một ngày làm công tác chuẩn bị thấp thỏm lo âu và thực sự căng thẳng. Đến chiều đ/c Tân báo cáo lên trên là đã đi suốt dọc bờ sông nhưng không tìm thấy một chiếc thuyền nào cả, đồng thời cấp trên cũng bỏ luôn phương án cho toán trinh sát vượt sông bằng thuyền sang trước . Thôi nhiệm vụ này thì lập tức n/v khác lại đến. Tôi lại được giao nhiệm vụ tổ chức một toán trinh sát khác đi cùng Trung đoàn bộ binh 52 lên phía bắc , vượt sông bằng thuyền, tấn công một bên sườn trận địa phòng ngự của địch, chọn bến vượt cách phía bắc trực đường khoảng 2 km. Khi đội hình lên đến nơi và bắt đầu ghép thuyền để thực hành vượt thì bất ngờ địch bên cạnh sườn phản kích bắn vào đội hình của ta dữ dội, một số đồng chí của ta đã thương vong ngay khi chưa vượt sông. Tôi cùng cả toán nằm rạp xuống dưới làn đạn của địch. Vì đêm tối không thấy rõ và không phân biệt được. Tôi chỉ cách khẩu 12,7 ly của địch hơn chục mét, địch bắn xối xả, có lẽ súng không thể hạ tà âm hơn nữa cho nên chúng tôi không dính đạn. Lúc này cả đạn ta và đạn địch bắn loạn xạ, không phân biệt được đâu là ta đâu là địch. Một lúc sau đơn vị bộ binh yêu cầu pháo cối bắn chi viện. Nhưng mà đêm tối địch ta đan xen rất khó. Cả cối , pháo ta và pháo địch cùng bắn vào một chỗ nghe chát chúa. Khoảng một giờ sau thì được lệnh rút. Coi như mũi tấn công bí mật phía bắc không thực hiện được, một số đồng chí của ta đã thương vong. Tôi cùng toán quay về trục đường lộ, lại được giao n/v chuyển cánh sang cùng vượt sông với Trung đoàn 64 - Sư đoàn 320 , dưới sự chi viện hỏa lực . Suốt cả đêm không hề chợp mắt. Các đơn vị tìm vị trí triển khai trận địa bắn dọc phía đông bờ sông đủ các loại từ ĐKZ57, ĐKZ75, 85 ly nòng dài, 14ly5, 12ly7 cả 37ly, 57ly.. vv cũng được bố trí bắn bộ binh địch. Phía Tây sông Mê công , địch chắc cũng đã biết ta chuẩn bị tấn công. Suốt đêm chúng cũng dùng hỏa lực bắn thẳng sang phía đông , nhằm phá chuẩn bị của ta, đạn bay vèo vèo, tiếng nổ chát chúa, cũng khen cho các đơn vị vẫn bình tĩnh triển khai coi như không có gì xảy ra. Đến gần sáng tất cả các lực lượng đã sẵn sàng. Bộ binh , Xe tăng PT76 , Xe bọc thép lội nươc đã ám sát bờ sông, các Ca nô của Công bình dùng để chở bộ binh đã được hạ thủy, các trận địa đã sẵn sàng nhả đạn, tất cả chỉ có chờ lệnh tiến công.
Rồi trời cũng sáng dần đến mức đã quan sát được phía Tây bờ sông . Lệnh nổ súng bắt đầu. Các trận địa pháo của ta đồng loạt nã pháo vào các trận địa địch, tạo ra một màn khói dầy đặc bao trùm trận địa địch. Các đơn vị bộ binh bắt đầu xuống Ca nô( mỗi chiếc chở một trung đội). Các xe tăng PT76, Xe lội nước bắt đầu thực hành bơi vượt sông. Khi bốn chiếc Ca nô nổ máy chạy ra được một đoạn tôi thấy một chiếc dừng lại , tôi đoán trúng đạn của địch, lúc này các trận địa hỏa lực của địch cũng bộc lộ. Lập tức các trận địa hỏa lực của ta nhả đạn. Tôi thấy ngay loạt đạn đầu tiên hầu hết các trận địa hỏa lực địch bị tiêu diệt. Qua ống nhòm quan sát thấy cả súng và xác địch tung lên. Dưới sông còn lại ba chiếc mở hết vận tốc chạy thẳng vào trận địa phòng ngự của địch. Khi sát bờ bộ binh nhanh chóng tiếp đất. Địch trên bờ ném lựu đạn xuống, quân ta rất nhanh nhặt lựu đạn ném lại, đồng thời hỏa lực bắn thẳng của ta đã chi viện tối đa làm cho địch không ngóc đầu lên được. Các chiến sĩ bộ binh của ta đã nhanh chóng tràn lên đánh chiếm đầu cầu vào trận địa địch tạo cho các chuyến vận chuyển sau được thuận lợi, các Ca nô dưới sông tiếp tục quay vòng chở các đơn vị tiếp sau. Các xe tăng PT76 , Xe bọc thép của ta sau khi xuống sông thực hành bơi vượt sông nhưng do tốc độ chậm lại bị nước đẩy cho nên dạt xuống hạ lưu, không lên đúng bến vượt theo dự kiến. Tôi đã chứng kiến nhiều trận đánh nhưng đây có lẽ là trận đánh đẹp nhất tôi được thấy. Rồi đến lượt toán trinh sát của tôi cũng xuống Ca nô vượt sông. Tôi nhớ chúng tôi sang chuyến thứ ba. Khi xuống Ca nô đạn địch vẫn bắn rất nhiều nhưng tôi nghĩ toàn súng nhỏ lại đuối tầm cho nên chỉ nghe lạch cạch bên mạn thuyền và lụp bụp như vãi đạn giữa sông.Toàn bộ người trên Ca nô đều nằm rạp xuống và rồi chúng tôi cũng sang bờ, nhanh chóng cùng bộ binh phát triển vào trung tâm thị xã. Đang vận động thì bỗng nghe một tiếng nổ khủng khiếp rung chuyển mặt đất và một cột khói khổng lồ ngay trung tâm thị xã, sau thời gian trấn tĩnh tôi nghĩ địch bị thất thủ và đã cho hủy một kho đạn lớn ngay trung tâm , mảnh đạn cùng nhiều loại đạn khác nhau bay tung ra với bắn kính rất lớn , cả Thị xã Kông Pông Chàm phủ một màn khói pháo đạn đầy đặc. Toán trinh sát cùng bộ binh phát triển chiến đấu. Tôi cũng khen cho các đơn vị bộ binh từ đánh rừng núi sang đánh Thành phố mà động tác cứ thoăn thoắt , rất linh hoạt, chỉ tội bắn hơi nhiều, tôi hỏi sao các đồng chí bắn nhiều thế, họ trả lời nghi ngờ là bắn không chờ thấy địch, bắn nhầm hơn bỏ sót.Tôi nghĩ đây có lẽ là kinh nghiệm chiến đấu của họ. Sau vài giờ nổ súng quân ta đã tràn sang thị xã Kông Pông Chàm rất đông. Tôi cùng toán trinh sát tìm một ngôi nhà tầng cao nhất thị xã cẩn thận tiểu trừ định và lên sân thượng đặt đài quan sát. Quân ta tiếp tục phát triển vào cả chiều rộng và chiều sâu. Các phà cũng được lắp ghép xong, xe các loại cũng đã bắt đầu sang sông. Quá trình tham gia trận đánh toán tôi có thông tin đi cùng mọi diễn biến tôi đã trực tiếp báo cáo với đ/c Nguyễn văn Nội tiểu đoàn trưởng và Nguyễn Văn Tức - Trưởng phòng Trinh sát , quân báo Quân đoàn , đồng thời nhận sự chỉ đạo của cấp trên. Đến trưa toàn bộ Thị xã Kông Pông Chàm đã được giải phóng, địch một số bị tiêu diệt còn lại dạt ra hai bên. Trận tấn công Thị xã Kông Pông Chàm đã giành thắng lợi . Lợi dụng thắng lợi trận Kông Pông Chàm của Sư 320 , các đơn vị của Sư đoàn 10 đã nhanh chóng vượt lên tổ chức lực lượng đánh thẳng về hướng Nông Penh , Kông Pông Thom , Xiêm Riệp./.
                                                                                 Vinh tháng 5 năm 2019
    

MỘT KỶ NIỆM VỚI TƯ LỆNH KIM TUẤN


MỘT KỶ NIỆM VỚI TƯ LỆNH KIM TUẤN
 Đại tá Khuất Duy Hoan - nguyên Phó Tư lệnh Quân đoàn 3 


Đầu năm 1973 chúng tôi lớp tân binh thời Tổng động viên được bổ sung về Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 đứng chân tại huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai làm nhiệm vụ bảo vệ vùng giải phóng sau hiệp định Pari. Một hôm bạn tôi là Nguyễn Trọng Luân cùng nhập ngũ và huấn luyện tại Sư đoàn 304B, cùng được biên chế về Trung đoàn 64 đang công tác trên trung đoàn bộ về thăm Đại đội 7 nói với tôi: “Tớ nhìn thấy Sư trưởng rồi nhé”. Tôi trừng mắt: “Bốc phét”, nó khảng định: “Thật mà, ông ấy xuống trung đoàn ,mà cậu biết không, ông ấy nói chuyện với Trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến toàn bằng tiếng Pháp”. Hôm sau, Luân về trung đoàn bộ. Tôi cứ vẩn vơ suy nghĩ, Sư trưởng bằng tuổi cha mình, đi đánh giặc mấy mươi năm mà vẫn giỏi tiếng Pháp. Kỳ thật rồi bâng khuâng nghĩ tới cái vốn tiếng Nga mấy năm học cấp 2 chỉ đọc giỏi chứ nghe người khác nói thì có hiểu được mấy từ đâu. Mùa xuân năm 1975, khi chúng tôi đang truy kích quân ngụy đang rút chạy trên đường 7 – Cheo Reo. Tại ngầm Củng Sơn, chúng tôi tạm dừng ở Nam sông Ba. Anh Kiều Thế người Thái Nguyên đang là trợ lý chính trị trung đoàn từng chỉ đạo mấy mùa chúng tôi tham gia hội diễn văn nghệ của trung đoàn 64 với mặt trận đường 19 kéo dài. Gặp tôi anh ấy bảo: “Hoan này, Sư đoàn mình nằm trong đội hình Quân đoàn 3 rồi đấy nhé”. Quân đoàn! Ôi cái tên nghe như hồi còn nhỏ xem phim, đọc chuyện của Liên Xô chống phát xít Đức ấy. Anh Thế còn nói: “Cậu biết ai là tư lệnh không? Thiếu tướng Vũ Lăng đấy, cụ Kim Tuấn nhà mình là Tư lệnh phó”. Suốt chặng đường đuổi địch trên đường 7 về đến Phú Yên, tôi cứ lâng lâng khi nghĩ rằng mình là lính Quân đoàn mới tinh thành lập chưa được một tuần. Sư trưởng nhà mình là Tư lệnh phó, bọn cùng trung đội với mình chưa cậu nào biết tin này, oai phết. Cái đêm nằm trong hang đá gần đèo Cả trước trận đánh giải phóng thị xã Tuy Hòa, tưởng tượng ra “Cụ Tuấn” dáng to cao, phúc hậu nói tiếng Pháp mà Luân đã kể lại, cứ hình dung bố mình nếu không đau dạ dày phải phục viên chuyển ngành từ 1956 thì biết đâu cũng vào đây thành ra hai cha con chung một chiến trường… Rồi chiến tranh kết thúc ở Sài Gòn ngày 30/4/1975 lịch sử. tôi đi học trường Hạ sĩ quan Quân đoàn và trở về đại đội 7, tiểu đoàn 8, trung đoàn 64 làm Quản trị trưởng. Suốt thời gian ở Đồng dù chỉ nhìn thấy Sư đoàn trưởng Bùi Đình Hòe là to nhất thôi. Thật may ngày Sư đoàn 320 đón danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang tôi mới được nhìn thấy Tư lệnh Kim Tuấn khi cùng đội Tuyên văn của Sư đoàn múa hát chào mừng lúc diễu qua lễ đài. Trong bộn bề vui sướng, hân hoan, chỉ nhìn thấy ông tươi cười vẫy tay chào mọi người mà cảm thấy phấn khích như ông vẫy tay động viên mình ấy thôi. Vài năm sau, trong cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây nam và làm nghĩa vụ Quốc tế trên đất nước Chùa tháp, tôi cũng chỉ được gặp ông một lần và rồi ông ra đi mãi mãi như bao người lính của ông trên chính chiến trường Cam Pu Chia, ông hy sinh lẫm liệt như những người lính trận. Tôi cũng trưởng thành trong cuộc chiến này, từ những trận đầu ở Sa Mát, Đà Ha tới Phum Sâm, Công Pông Chàm, Nông Pênh…từ chính trị viên đại đội lên Tham mưu trưởng trung đoàn. Mỗi trận đánh, mỗi mùa chiến dịch, người lính Trung đoàn chúng tôi luôn nhận được sự dìu dắt ân tình của các thủ trưởng như Tư lệnh Sư đoàn Khuất Duy Tiến đến Tư lệnh Quân đoàn Kim Tuấn. Càng về sau tôi càng thấm thía, để làm người chỉ huy đến cấp sư đoàn, quân đoàn phải có cái đầu chịu đựng được mọi thứ, vui mừng đau thương, mất mát…Sau trận vượt sông Công Pông Chàm bằng sức mạnh đầu năm 1979, khi về lại hậu phương Tư lệnh Sư đoàn Khuất Duy Tiến kể lại “ Trước giờ G (giờ nổ súng), Tư lệnh Kim Tuấn hỏi tớ: Ai chỉ huy bến vượt bí mật? Tớ trả lời: Đồng chí Khuất Duy Hoan – Tham mưu phó trung đoàn 64. Tư lệnh lại hỏi: Có phải Hoan Phum Sâm không?...”. Tôi bồi hồi nhớ lại trận chốt giữ Ph.Sâm hồi đầu tháng 8-1978 của Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 do tôi làm Tiểu đoàn trưởng. Trong giây phút cam go nguy kịch nhất của trận chiến, khi xe tăng và lính Pôn Pốt đã tràn vào trận địa chốt của toàn tiểu đoàn chỉ còn vài tay súng chiến đấu. Chúng tôi hội ý và quyết định xin pháo binh cấp trên bắn chi viện trực tiếp vào trận địa chốt của tiểu đoàn. Tư lệnh Sư đoàn báo cáo lên Quân đoàn. Tư lệnh Kim Tuấn đắn đo hồi lâu rồi ra lệnh chỉ được bắn pháo đạn nổ trên không khi chắc chắn bộ đội đã xuống công sự có nắp an toàn. Cũng nhờ vậy mà quân địch phải giãn ra cho lực lực lượng tăng viện vào hỗ trợ chúng tôi giũ vững trận địa. Thế đấy, một trận đánh mà người chỉ huy cấp trên lo đến từng chiến sĩ, sâu sát hiểu đến từng chỉ huy hai, ba cấp dưới như ông thì lẽ nào mà Trung đoàn, Sư đoàn, Quân đoàn tôi không luôn đánh thắng. Tôi gặp Tư lệnh Kim Tuấn chỉ ít ngày trước khi ông hy sinh. Khi ấy đơn vị tôi đang làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch ở Công Pông XPư…Trận đánh vừa kết thúc thắng lợi thì cơn mưa giông ập tới. Tôi cùng các sĩ quan trên trung đoàn đi kiểm tra trận địa và bổ sung nhiệm vụ cho đơn vị thì nghe báo Tư Lệnh Kim Tuấn xuống thăm, kiếm tra và đang hỏi các chiến sĩ: “Đây là đơn vị nào…chính trị viên đâu…gọi cán bộ tiểu đoàn cho tôi…”. Được tin Tư lệnh Quân đoàn tới, tôi và anh Nguyễn Thái Hiển chính trị viên tiểu đoàn vội vàng chạy lại, thoáng thấy nét mặt Tư lệnh buồn buồn. Ông hỏi: “Cậu là chính trị viên à?”. “ Vâng ạ”, (anh Hiển trả lời). “ Bộ đội cậu đây phải không”. “Vâng ạ”. “ Bộ đội cậu là Phỉ”. “ Vâng ạ”. “ Cậu cũng là Phỉ”. “Vâng ạ”. Anh Hiển biết mình lỡ lời rồi mà cứ đứng ngây đơ ra, tôi cũng đứng ngây đơ ra…Tư lệnh quay mặt đi trong dáng vẻ buồn rầu, tôi chợt thấy trên gương mặt trận mạc của ông giọt nước mắt lăn nhanh. Ông đã không kìm được bực tức khi nhìn thấy các chiến sĩ đang cầm trên tay những trái xoài, trái vú sữa chín mọng vừa rụng xuống trong cơn mưa giông, dù biết rằng những trái cây ấy lính ta nhặt về cho anh em thương binh ăn tạm trong khi chờ xe đưa về tuyến sau cứu chữa. Vì ngày ấy theo quy định của cấp trên, chúng tôi chỉ được sử dụng không khí, nước lã và củi đun trên đất bạn mà thôi. Đã bốn mươi năm qua rồi. Tôi cũng đã trưởng thành đến cán bộ Quân đoàn.Càng nghĩ càng thấy thương yêu và kính trọng nhưng người chỉ huy cấp trên của mình trước đây. Khi bước vào tuổi ngoài năm mươi, mắt phải đeo kính, xương cốt đã bắt đầu nhức mỏi mỗi khi trái gió trở trời, nghĩ lại cũng ở cái tuổi ấy mà các thủ trưởng ngày xưa vẫn xông pha trận mạc, đi nhiều, lo nhiều mà các ông vẫn vượt qua. Cái lúc Tư lệnh Kim Tuấn nhìn những người lính trẻ như con trai mình đang đói, đang kiệt sức sau trận đánh, tôi bỗng nghĩ người cha trong ông thương chúng tôi lắm. Ông hy sinh ngày 17/3/1979 trên đất nước Chùa Tháp khi chỉ huy chúng tôi làm nhiệm vụ Quốc tế thiêng liêng, cao cả của những người lính tình nguyện. Đầu năm 2017. Cùng với Trung Tướng Khuất Duy Tiến và đại diện Thường trực Ban liên lạc Đại đoàn Đồng Bằng – Sư đoàn 320 tại Hà nội đến thắp hương tưởng nhớ và kính tặng gia đình biểu tượng của Đại đoàn. Thiếu tướng Nguyễn Thị Thanh Hà, người con gái đầu của ông và Đại tá Nguyễn Công Hiệu, con trai thứ hai của ông đưa chúng tôi lên phòng thờ của gia đình. Đứng trước di ảnh của ông, tôi bất chợt bồi hồi sống lại kỷ niệm lần gặp ông ở chiến trường năm nào. Viết những dòng kỷ niệm về ông,về người Tư lệnh Quân đoàn một thời được sống, chiến đấu và trưởng thành. Tôi như đang nghĩ về chính người cha của mình.

Thiếu tướng Kim Tuấn ( bên trái ảnh ) đang trình bày phương án tác chiến .



    

CHUYẾN CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT THÂM NHẬP VÀO CĂN CỨ TRUNG ƯƠNG PÔN PỐT Ở TÀ SANH

Chiến thắng TÀ SANH là một chiến thắng lớn của Quân đoàn 3, đã đập tan hang ổ cuối cùng của cơ quan Trung ương Khơ Me Đỏ. Để có chiến thắng này, một tổ trinh sát Quân đoàn 3 do Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn trinh sát Trần Đăng Quế chỉ huy đã chấp nhận mọi khó khăn, gian khổ, kể cả hy sinh tính mạng, vượt qua nhiều tuyến phòng thủ của địch, vào tận sào huyệt căn cứ Trung ương Pôn Pốt nắm tình hình, báo cáo kịp thời cho cấp trên chỉ huy giành thắng lợi. Trang Lính Tây Nguyên trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của tiểu đoàn phó Trần Đăng Quế về chuyến đi trinh sát đầy mạo hiểm và gian khó này.

CHUYẾN CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT THÂM NHẬP VÀO CĂN CỨ TRUNG ƯƠNG PÔN PỐT Ở TÀ SANH
Trần Đăng Quế - nguyên Tiểu đoàn phó tiểu đoàn trinh sát Quân đoàn 3

Từ đầu tháng 1 đến ngày 16 tháng 3 , các đơn vị của Quân đoàn 3 đã mở cuộc tiến công thần tốc có thể nói là chưa từng có trong tác chiến của quân đội ta trước đây. Lần lượt giải phóng các tỉnh Công Pông Chàm, Công Pông Thom, Xiêm Riệp, Si Sô Phôn, đánh lên Cửa khẩu Pôi Pét giữa CPC và Thái Lan rồi quay lại giải phóng Thành phố Bát Đăm Boong( TP lớn thứ 2 của CPC, chỉ sau Nông Pênh).Tiếp tục tấn công theo Quốc lộ 56 sang hướng Cửa khẩu Pai Lin. Địch bị dồn vào thế chân tường chống trả kháng cự quyết liệt. Thực tế giai đoạn đầu khi ta tấn công quân Pôn Pốt tan rã là chủ yếu, sau một thời gian choáng váng chúng hồi phục và đã có những cuộc phản công có xe tăng yểm trợ ít nhiều đã gây ra những khó khăn và tổn thất cho các đơn vị của ta. Đến khoảng ngày 13, 14 tháng 3 /1979 , các đơn vị của Sư 10 tạm dừng tấn công , tổ chức phòng ngự tại khu vực Bản bông (chúng tôi đặt tên cho là Bản Bông,vì vào bản thấy nhiều bông vải). Cũng trong thời điểm này các tin tức thu thập được cho rằng Trung ương Pôn Pốt đã rút vào Tà Sanh , một khu vực hẻo lánh cách Biên giới Thái Lan khoảng 10 km . Trung ương Pôn Pốt được các đơn vị bảo vệ bởi các tuyến phòng ngự trên các hướng, đặc biệt là trên các trục đường dẫn vào địa điểm này. Để xác định chính xác cơ quan Trung ương Pôn Pốt có phải đóng tại Tà Sanh hay không, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 quyết định cử một toán trinh sát luồn sâu vào TÀ SANH , điều tra nắm tình cụ thể báo cáo về Quân đoàn để có phương án tác chiến cụ thể. Tôi nhớ khoảng thời gian đó Tư lệnh Kim Tuấn trực tiếp ra Sở chỉ huy phía trước ở Bản Bông( Lúc này Sở chỉ huy cơ bản đang ở Thành phố Bát Đom Băng ) , trực tiếp thị sát và giao nhiệm vụ cho các đơn vị (sau đó vài ngày thì Tư lệnh Kim Tuấn hy sinh). Tôi lúc này là Tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn Trinh sát ở phía trước ( đ/c Nguyễn Văn Nội - Tiểu đoàn trưởng đang ở Sở chỉ huy cơ bản) . Sau đó Trưởng phòng 2 - Nguyễn Văn Tức trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi , đại ý, tổ chức một toán Trinh sát do tôi trực tiếp chỉ huy thực hành luồn sâu vào tận căn cứ Trung ương Pôn Pốt ở Tà Sanh để điều tra nắm tình hình , thu nhập tin tức báo cáo về Bộ Tư lệnh Quân Đoàn . Đây quả thực là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và không kém phần nguy hiểm, bởi là một căn cứ nằm sâu trong lòng địch hơn nữa được bảo vệ tương đối chắc chắn bởi các tuyến phòng ngự. Địch và dân bị dồn ép vào đây tương đối đông, địa hình rất phức tạp, đồng bằng, đồi núi xen lẫn, rừng già, rừng thưa, rừng khọc đan xen, hơn nữa Căm Phu Chia mùa này nắng nóng có thể nói là như đổ lửa, tầm từ 10 đến 15 giờ quân ta hoa cả mắt ,tầm nhìn bị hạn chế, như đom đóm bay trước mắt, riêng người CPC họ quen nhìn xa được. Khi giao nhiệm vụ và thực tiễn cũng đã cảnh báo là sẽ rất thiếu nước, đặc biệt trong mùa nắng nóng này. Buổi chiều sau khi nhận nhiệm vụ tôi có suy nghĩ : nếu tổ chức một toán đông người khi gặp địch chiến đấu thì sức mạnh sẽ cao hơn, nhưng đội hình dài, rồng rắn rất dễ bị lộ. Ngược lại một toán nhỏ gọn dễ luồn lách sẽ bảo đảm bí mật hơn. Đứng trước 2 phương án, tôi quyết định chọn phương án 2, tổ chức một toán rất gọn nhẹ , lựa những cán bộ , chiến sĩ có kinh nghiệm đã từng trải tham gia đợt hoạt động. Toán gồm 8 người do tôi trực tiếp làm toán trưởng , đ/c Chinh(hiện đang sống ở Bắc Ninh) làm toán phó cùng các trinh sát Quí,Sang,Minh,Hải và 2 thông tin Vũ và Động . Toán được tăng cường 2 người của lực lượng nổi dậy có tên là Ru Xâu và Chia Mon( Ru Xâu từng là Bác sĩ học ở Pháp 7 năm). Toán làm mọi công tác chuẩn bị về vũ khí súng đạn , lương khô , gạo sấy, đặc biệt là ngoài bi đông mỗi đ/c thêm một túi rùa để đựng nước, chuẩn bị xong chờ trời tối chúng tôi bắt đầu xuất phát.
Theo hướng Nam cách Sở chỉ huy phía trước khoảng 2 km là một dãy đồi thấp , đây là tuyến tiền duyên phòng ngự phía trước do các đơn vị của f10 đảm nhiệm, bên kia dãy đồi là tuyến phòng ngự và vùng đất địch đang chiếm đóng. Chúng tôi chọn đây là điểm xuất phát đầu tiên. Từ đây trong đêm chúng tôi bí mật luồn qua tuyến phòng ngự của địch, đến sáng hôm sau chúng tôi tiếp cận được ven rừng của dãy núi Vai Cháp. Đoạn này lợi dụng rừng che khuất đi ban ngày được toán tiếp tục đến trưa đã đi được một quảng đường khá xa. Từ đây chúng tôi bằng mắt thường có thể quan sát được các cao điểm ở Tà Sanh mặc dù đang rất xa. Tiếp đến là xuống cánh rừng khọc xen lẫn các cánh đồng rộng , đi ban ngày dễ bị lộ, toán phải dừng lại chờ đêm xuống. Khi trời tối dần toán tiếp tục hành quân. Khoảng 24 giờ , toán tiếp cận đến bờ suối, trong đêm tôi nghe rì rầm rất nhiều tiếng người nói, không phân biệt được địch hay dân, bên kia suối nhiều ánh lửa vẫn đang sáng, mạnh dạn, toán nhẹ nhàng xuống suối tất cả đều phải đong đầy bi đông và túi rùa nước rồi bí mật tiếp tục luồn qua các ngôi nhà, vườn của dân đang sót lại. Đây có thể là thử thách thứ hai toán đã vượt qua, đi được một quảng thì chúng tôi vào một cánh rừng bằng rậm rạp buộc phải dừng lại không thể đi đêm được chờ cho trời sáng. Coi như toán đã hành quân được 2 đêm một ngày. Những ngày đêm qua nắng nóng với gạo sấy lương khô cũng đã hao tốn sức khỏe của cả toán.
Ngày thứ 3 cả toán tiếp tục luôn sâu đến mục tiêu đã định. Trời vẫn nắng nóng, toán đi vào một khu rừng tương đối bằng phẳng và rậm rạp, thỉnh thoảng có một vài quả đồi nhô lên nhưng không đáng kể, biểu hiện của khát nước đã bắt đầu xuất hiện, tôi nhắc tất cả mọi người phải tiết kiệm nước. Mỗi lần uống chỉ được một nắp bi đông, tận dụng các cây trong rừng có nước chặt ngửa miệng cho nước chảy vào. Cứ thế cả toán tiếp tục hành quân.
Lính chiến trường có lúc cũng mê tín, thường có câu " Gặp rắn thì đi, gặp Qui quay lại ". Có nghĩa là gặp rắn thì an toàn, gặp rùa là rủi ro. Không hy sinh thì cũng bị thương. Trong lúc cả toán đang vừa đi vừa xóa dấu vết, vừa cảnh giác phát hiện địch, thì Sang phát hiện một con rùa to nằm dưới lớp lá, Sang chỉ cho tôi, tôi đã nháy dặn Sang là không được nói với ai để anh em khỏi hoang mang. Cứ thế cả toán leo lên một đỉnh dốc vừa phải nghỉ giải lao. Đang nghỉ thì Ru Xâu người đi sau cùng vừa lên, đưa ba lô ra khoe và chỉ bắt được con rùa to. Cả toán tròn mắt ngơ ngác có vẻ lo lắng. Tôi vừa bực vừa vội trấn an tinh thần anh em, nói cứ bình tĩnh không có vấn đề gì đâu, nói Ru Xâu thả nó ra. Thực tế thì tôi phụ trách đi rất nhiều đợt, cũng có lần hy sinh, thương vong mất một số đồng chí , nhưng cơ bản hoàn thành nhiệm vụ, an toàn cho nên anh em thích đi với tôi. Từ đây đến Tà Sanh cũng đã gần và lại bắt đầu vào khu rừng khọc, tầm quan sát rất xa buộc tôi cho cả toán dừng lại chờ trời tối. Tôi hỏi đùa Ru Xâu: cấp trên bảo bạn dẫn đường cho chúng tôi mà. Ru Xâu trả lời : tôi chỉ dẫn theo đường có sẵn thôi còn đi theo bản đồ ,địa bàn tôi chịu, tôi nói thôi được cứ vào mục tiêu bạn xác định cho tôi đúng Tà Sanh là được. Trời tối dần toán tiếp tục đi càng đến gần Tà Sanh càng khó khăn bởi dân lính bị dồn ép vào đây khá đông, chỉ cần một sơ suất nhỏ sẽ lộ ngay. Chờ đến khoảng 24 giờ cả toán tiền nhập trèo lên một đỉnh đồi nhỏ có độ cao khoảng 70 mét so với dáng đất hiện tại sát ngay Phum Tà Sanh, tôi hỏi Ru Xâu phải Tà Sanh đây không, Ru Xâu trả lời chính xác. Coi như toán đã đến được vị trí qui định, từ đây quan sát rất rõ Tà Xanh. Rất may là một quả đôi nhỏ đất đá lởm chởm có vật che khuất che đỡ và cấu tạo như thế thì ít người lên đây, phần nào giúp chúng tôi yên tâm.
Tôi triển khai cho cả toán vào các vị trí qui định và nhắc chú ý bảo đảm bí mật tuyệt đối, nếu địch lên tất cả AK về nấc một để tiết kiệm đạn, chiến đấu đến cùng và mỗi đồng chí dành riêng cho chính mình một quả lưu đạn đề phòng khi bất trắc phải tự sát, kiên quyết không để địch bắt sống(bởi để Pôn Pốt bắt được cũng sẽ chết và phải chịu một cái chết đau đớn hơn), đồng thời phải rất tiết kiệm nước.
Trời sáng dần, tiếng động đầu tiên tôi nghe là kẻng có lẽ báo thức, sau đó là tiếng người nói rất nhiều dưới suối ngay sát chân đồi. Như vậy là chúng tôi rất gần dân và địch. Sáng hơn một tý là dân bắt đầu đi làm cày cuốc, quan sát trong phum bằng mắt thường tôi thấy rất nhiều thùng gỗ giống thùng đựng đạn pháo. Sau đó một lúc là tiếng động cơ, phân biệt rất rõ tiếng động cơ ô tô, xe tăng, xe máy hon đa. Tầm 8 giờ có một xe tăng từ đây chạy về hướng Xầm lốp. Tất cả các tin tức nắm được tôi đều báo cáo về Sở chỉ huy Quân đoàn. Qua tin báo các thủ trưởng Bộ Tham mưu và Quân đoàn biểu dương và khen ngợi các tin tức báo về đồng thời động viên toán tiếp tục làm nhiệm vụ.
Một ngày trời nắng như thiêu đốt, nín thở căng thẳng trên quả đôi thấp nhỏ, đề phòng địch lên, mức nước mang theo của từng người cũng cạn dần, nguy cơ cơn khát đang cận kề. Rồi một ngày căng thẳng cũng gần qua đi, càng về đêm có lẽ sẽ không ai trèo lên đồi nữa. Đến tầm 23 giờ, được trên chấp nhận, tôi cho cả toán bí mật xuống núi, bắt đầu trên đường ra . Qua mấy ngày làm nhiệm vụ ăn uống của cả toán không bảo đảm, đặc biệt thời tiết quá nắng nóng sức khỏe của cả toán giảm. Xuống núi vượt qua được khu rừng khọc thưa, lại vào khu rừng già rậm rạp, rất khó đi đêm chúng tôi dừng lại nghỉ. Vì mệt và mất ngủ cả toán đều toán đều thiếp đi. Đột nhiên có tiếng động gần tôi bừng tỉnh, thấy đèn pha rất sáng đang quét khắp rừng, tôi chợp nghĩ toán bị lộ địch đang truy đuổi, tuy nhiên cả toán lợi dụng vật che khuất ngồi im nín thở, ánh đèn rất gần chỉ cách toán khoảng 15m sau một bụi cây dạng mân xôi, cả toán tay đã vào vòng cò, chỉ cần ánh đèn tiến thêm ít nữa tôi sẽ ra lệnh nổ súng nhưng rồi đèn tắt, cả hai đều ngồi im nín thở căng thẳng chờ đợi. Rồi như linh tính báo đèn pha lại sáng và quét đi nơi khác rồi xa dần, tôi thở phào nhẹ nhõm, hóa ra người đi săn thú ban đêm, chúng tôi một phen hú vía.
Chúng tôi lại quay lại khu rừng rậm, không thể đi đêm được, nên đi được một quảng thì phải dừng lại nghỉ trong đêm, lúc này nước của mọi người cơ bản hết, anh em vừa khát vừa đói, không có nước không thể ăn được.
Rồi một đêm nữa cũng qua đi, trời sáng dần chúng tôi tiếp tục tìm đường về. Một ngày nữa trong rừng rậm vừa đi chúng tôi vừa chặt cây có nước để chống khát. Vì quá khát một số đồng chí đã phải uống cả nước tiểu của mình, nhưng khi khát nước tiểu đỏ như máu không tài nào uống được. Gần tối toán cũng ra được đến bãi rừng. Bắt đầu một quảng đường trống trải chỉ có đi đêm, không thể đi ngày. Khi ra bìa rừng đi được một quảng, vượt qua được con đường đất có vết xe ô tô chạy rồi vào trong một phum nhỏ vẫn thấy có người, cả toán gần như kiệt sức không thể đi được nữa. Đã cởi hết quần áo, lấy dao găm khoét đất áp da vào cho mát hy vọng đỡ khát, nhưng không giải quyết được gì. Toán có 10 người thì 8 người đều nói với tôi" Trả quần áo súng đạn cho anh Quế, tôi chết". Nằm ngửa mặt nhìn trời cầu cứu " mưa thì em sống, nắng thì em chết" kể cả 2 người CPC Ru Xâu và Chia Mon, chỉ còn lại tôi và Sang còn gọi là khỏe hơn một tý. Nguy cơ cái chết khát cận kề. Tình huống đến bắt tôi phải xử lý. Tôi nói bây giờ Tôi và Sang còn sức đi tìm nước, còn cả toán nằm tại chỗ. Lấy nước về cãy miệng đổ vào, ai tỉnh lại có sức đi tiếp, ai chết dấu xác đó, đánh giải phóng xong vào lấy xác sau. Tôi cũng dặn Chinh, đêm xuống trời mát nếu anh em tỉnh hồi phục sức khỏe thì cứ góc phương vị thế mà đi, đừng chờ tôi về. Thế là tôi và Sang bắt đầu đi lấy nước trong đêm. Đo cự ly trên bản đồ từ vị trí toán nằm ra đến suối hơn 6 km. Tôi bảo Sang mình còn khỏe hơn mình đi trước cắt rừng Sang đi sau 2 người mang một khẩu AK, mỗi người 2 quả lựu đạn, Sang mang súng đi sau. Tôi dặn Sang nếu gặp địch phải đánh nhau Sang phải đưa súng cho tôi, mỗi người phải giữ một quả lựu đạn cho chính mình, không được để địch bắt sống, thế rồi chúng tôi cắt rừng đi. Khi ra đến gần Suối tôi dặn Sang xuống suối phải uống từ từ đề phòng bội thực nước và rồi chúng tôi cũng ra đến Suối, rất may đoạn này không có dân và địch. Úp mặt vào khe chúng tôi bắt đầu uống. Có ai biết cảm giác của chúng tôi lúc này không? Nước chảy đến đâu trong cơ thể chúng tôi biết đến đó. Có cảm giác các tế bào trong cơ thể lạo xạo như ruộng khô nứt nẻ gặp dòng nước chảy qua,uống một ít chúng tôi phải dừng sợ bội thực nước, rồi lại uống, xong lấy bi đông túi rùa đong đầy nước bắt đầu quay lại tiếp nước cho anh em. Nhưng đúng như tôi dự đoán, lên đến bờ suối cả 2 người đều ngất xỉu ngủ lịm đi không còn biết gì nữa. Mãi đến gần sáng mới bừng tỉnh, tôi nhớ lúc này trăng lên hơi cao, tôi vội đập Sang dậy, hai anh em hoảng hốt tìm đường khẩn trương quay về tiếp nước cho anh em. Cũng may vừa về đến chỗ cũng trời chưa sáng hẳn, tôi kiểm tra không thấy anh em đâu cả, chỉ nhặt được một ít đồ dùng còn rời bỏ lại, tôi vội nhặt và xóa dấu vết. Tôi nghĩ như vậy là Chinh đã thực hiện theo lời tôi dặn anh em hồi phục sức khỏe và đã tìm đường ra. Rồi trời cũng sáng dần, lúc này đi ban ngày rất nguy hiểm, tôi bàn với Sang hay 2 anh em tìm một bụi cây rậm rạp lẩn trốn chờ tối hãy đi. Sang nói với tôi " bây giờ lấy tro cháy đang có sẵn bôi khắp người cải trang thành người CPC rồi ta đi anh ạ, chờ đến tối lâu quá". Thế là 2 chúng tôi đều làm thế. Tôi dặn Sang cố gắng tránh khi thấy người, trường hợp địch thấy ta, chúng nổ súng trước ta mới bắn lại không thì thôi. Thực tế trên đường ra chúng tôi gặp mấy trường hợp nhưng rất may không có lần nào phải nổ súng. Có hai lần bất ngờ gặp dân sát mặt ,hai bên nhìn nhau ngơ ngác rồi im lặng đi luôn. Đến tầm 11 giờ thì tôi và Sang đang tiến vào sát mé rừng của dãy Vai Cháp, điểm hôm trước dừng để tối đi thì cũng rất bất ngờ gặp lại tám anh em đang thu máy thông tin và chuẩn bị cơ động. Hai bên gặp nhau mừng vô kể. Tất cả ôm nhau khóc như trẻ con kể cả hai người CPC. Ru Xâu nói chỉ có bộ đội VN mói có hình ảnh đẹp nhu thế này, trong hoạn nạn đã không bỏ nhau. Chinh tranh thủ báo cáo lại với tôi từ tối hôm qua đến lúc đó và đã điện báo cáo về SCH tình hình như vậy (lúc này ở SCH tin rằng tôi và Sang đã hy sinh. Lam Giang bạn tôi hiện đang sống ở Hà Nội đã thắp hương cho tôi, khi tôi về đến Bộ Tư Lệnh Lam chỉ : tao thắp hương cho mày chân hương còn đó). Tôi tiếp tục chỉ huy toán tìm đường ra. Đồng thời báo cáo lại là đã bắt được liên lạc với nhau, yêu cầu Quân đoàn cho biết quân ta đã tiến đến đâu và thông báo cho tất cả các đơn vị tuyến tiền duyên phòng ngự chú ý bắt liên lạc với toán trinh sát hoạt động trong vùng địch đang trên đường ra. Thực tế Quân đoàn cũng đã đáp ứng yêu cầu của chúng tôi. Lúc này Trung đoàn 66 - Sư đoàn 10 đã đánh lên cua chữ V và đang phòng ngự tại đó. Cả phân đội đang loay hoay tìm kẽ hở để vượt qua, phía trước cua chữ V nghe súng nổ rất nhiều. Tôi phán đoán hai bên đang đánh nhau. Tôi đang chỉ huy toán rẽ tay phải tránh khu vực có nhiều tiếng súng nổ. Lúc này cả toán đang trong một vạt rừng tương đối trống trải, bỗng nhiên nghe một tiếng hét rất lớn, cả toán hoảng hốt, quan sát không thấy người đâu. Sau một lát thấy có chiếc mũ quay tít(ký ám tín hiệu bắt liên lạc đã được qui định), tôi vội giơ tay lên cuốn ba lần. Như vậy là quân ta và chúng tôi tiến hành bắt liên lạc với nhau. Đây là toán trinh sát bộ đội Biên phòng cũng đang luồn sau lưng nắm địch. Tôi kể sơ qua về chúng tôi, họ trả lời chúng tôi đã được thông báo mấy ngày nay và cũng đã sẵn sàng bắt liên lạc. Tôi đề nghị các đồng chí nắm địch gần hiểu rõ dẫn chúng tôi về với, họ nhất trí. Tưởng rằng họ dẫn an toàn, ai ngờ dẫn ngay trước tuyến phòng ngự của địch thế là đạn bắn như mưa. Cả toán chúng tôi chạy. Riêng toán TS Biên phòng họ trụ lại chiến đấu, chạy khoảng 100m thì gặp ngay trận địa phòng ngự của ta. Chúng tôi lại tiếp tục bất ngờ lần nữa. Đạn bắn như mưa gần thể chỉ cách địch có khoảng 100m thôi thế mà đơn vị phòng ngự chỉ bố trí một khẩu 12ly7 làm nhiệm vụ chiến đấu và cảnh giới còn lại dưới suối vẫn tắm giặt nô đùa thoải mái coi như không có gì xảy ra. Tôi hỏi sao các đồng chí chủ quan thế, họ trả lời, có gì đâu địch đến có người bảo lên đánh nhau xong lại xuống suối, bờ Suối và mặt Suối chỉ cách nhau có độ sâu khoảng 2m. Toán chúng tôi cũng ngồi nghỉ một tý, rất may là an toàn không ai việc gì. Sau đó chúng tôi về Sở chỉ huy tiểu đoàn, đi mà vẫn phải cúi đầu vì đạn vẫn cứ bay vù vù trên đầu, ở đó một lúc thì về Sở chỉ huy Trung đoàn 66 - Sư đoàn 10 . Bộ tham mưu cho một xe GMC cùng một toán trinh sát khác đích thân tiểu đoàn trưởng Nội chỉ huy đi đón chúng tôi. Lại một lần may mắn nữa. Xe chở toàn đ/c Nội đang chạy trên quốc lộ 56 thì lái xe phát hiện địch phục kích sát dọc đường. Lái xe đạp phang gấp một quả B40 bay ngay trước đầu xe trúng vào bên đường nổ bung, cả phân đội trên xe đồng loạt nổ súng vào toán địch, rồi nhanh chóng xuống xe truy kích, lợi dụng rừng che khuất toán địch chạy thoát. Đồng chí Nội cho xe quay lại gửi một trận địa pháo 85 gần đó rồi đi bộ lên đón chúng tôi. Trong khi đó chúng tôi cũng nhờ xe của Trung đoàn 66 về Bát Tam Băng, dọc đường gặp toán anh Nội lên đón , thế là tất cả lên xe về luôn. Chúng tôi được về Bát Tam Băng nghỉ vài ngày lấy sức. Trên đánh giá là toán hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Qua đợt này này tôi nghĩ, mọi người phải có ý chí quyết tâm tốt, phải thực sự thông minh linh hoạt để xử lý các tình huống, phải có trình độ xem đọc bản đồ, đi góc phương vị thật tốt. Cũng trong thời gian này Quân đoàn đã sử dụng các đơn vị của Sư 10 và Sư 31 , cùng các đơn vị xe tăng thết giáp, pháo binh đánh vào Tà Sanh, Săm lốp và giành thắng lợi lớn. Tiêu diệt được một số sinh lực địch, bắt sống nhiều xe tăng, xe thiết giáp , thu rất nhiều chiến lợi phẩm. Chỉ tiếc là Trung ương Pôn Pốt vẫn chạy thoát sang bên đất Thái Lan
    

CUỘC TRUY LÙNG THỦ LĨNH KHƠ ME ĐỎ PÔN PỐT

CUỘC TRUY LÙNG THỦ LĨNH KHƠ ME ĐỎ PÔN PỐT

Trần Đăng Quế - nguyên Tiểu đoàn phó tiểu đoàn trinh sát Quân đoàn 3

Sau khi bị các lực lượng của Sư 31 và Sư 10 đánh chiếm căn cứ Trung ương Pôn Pốt ở Tà Xanh - Săm lốp giành thắng lợi , phá tan sào huyện cuối cùng của chính quyền Khơ me đỏ nhưng vẫn chưa tiêu diệt được những tên đầu sỏ. Một câu hỏi đặt ra lúc này là Pôn Pốt cùng các tên cầm đầu Khơ me đỏ ở đâu ? Các đơn vị của ta tăng cường trinh sát nắm tình hình, ráo riết truy lùng để xác định xem Trung ương Pôn Pốt bây giờ ở đâu nhưng vẫn chưa có kết quả. Giữa lúc mất thông tin thì Sư đoàn 31 bắt được 2 tên lính cận vệ của Pôn Pốt , qua khai thác bước đầu biết được chúng trong đoàn quân cùng Trung ương Khơ me đỏ chạy trốn, hai tên này được chúng phái quay lại nắm tình hình quân ta, đặc biệt là nắm lại một số tài sản có giá trị lớn cùng vũ khí trang bị chúng chôn dấu trong các cánh rừng thuộc khu vực đã bị ta đánh chiếm.
Sau khi bắt được 2 tên lính Pôn Pốt , đêm hôm đó tên già hơn ôm bụng giả vờ đau xin đi vệ sinh rồi trốn thoát. Lúc này chỉ còn lại một tên. Các cơ quan chức năng của ta đã làm công tác tuyên truyền vận động tên này. Qua khai thác , tên còn lại lúc này mới khai thật tên vừa chạy thoát là Trung đoàn trưởng Trung đoàn cận vệ của Khơ Me Đỏ , còn nó làm công vụ cho cả Pôn Pốt , Êng Xa Ri và Khiêu Xăm Phon. Theo tên này khai, bọn chỉ huy Khơ me đỏ còn có tên gọi khác . Pôn Pốt có tên là Văn, Êng Xa Ri có tên là Eung, Khiêu Xăm Phon cũng có tên Phon. Sau khi tuyên truyền vận động tên này nhất trí dẫn lực lượng quân đội Việt nam đuổi bắt Pôn Pốt , Êng Xa Ri theo đường chúng đã chạy . Nhiệm vụ này lại được giao cho tiểu đoàn 28 Trinh sát Quân đoàn do tôi Tiểu đoàn phó trực tiếp tổ chức và chỉ huy thực hiện . Sau khi được cấp trên thông báo một số nét chính về tình hình, tôi được giao nhiệm vụ chức một toán Trinh sát , được bổ sung một phiên dịch tiếng Miên do tên tù binh dẫn đường tiến hành truy kích , bắt sống bằng được Trung ương Pôn Pốt . Nếu không thì cũng tiêu diệt bằng được lực lượng này. Tôi nhận thức đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng , mang ý nghĩa to lớn (vì mấy khi tôi nhận nhiệm vụ mà lại đông đủ các thủ trưởng đến thế). Tuy nhiên sẽ rất khó khăn để thực hiện nhiệm vụ . Bởi lẽ về thời gian Pôn Pốt đã chạy khá lâu, tính lúc tôi nhận nhiệm vụ đã 6 ngày, như vậy chúng đã đi được một quảng đường khá xa , hơn nữa đi theo Pôn Pốt chắc chắn phải là một lực lượng tương đối lớn, chưa tính địa hình rừng núi phức tạp, nhưng nhiệm vụ đã giao và tôi chỉ có việc chấp hành. Sau khi nhận nhiệm vụ tôi về trực tiếp tổ chức lực lượng , chuẩn bị đầy đủ con người và vũ khí cần thiết để thực hiện, gồm 17 người , tính cả chỉ huy, thông tin, y tá và phiên dịch, là đơn vị trinh sát nhưng tôi cho mang cả hỏa lực B40 và M79 .Sáng hôm sau được xe chở cả phân đội từ tiền phương của Sở chỉ huy Quân đoàn chạy thẳng đến Sở chỉ huy của Trung đoàn 866 lúc này đang đứng chân tại Tây Nam Tà Sanh khoảng 5km trên hướng Cửa khẩu Tức Sóc , cách biên giới Thái Lan khoảng 7km. Từ đây chúng tôi được tên tù binh dẫn đường theo đường chúng chạy. Đi được khoảng 1km về phía Tây Nam, tên tù binh chỉ đây là chỗ trú quân của Pôn Pốt trước khi quân ta đánh vào Tà Sanh . Vị trí đóng quân của chúng cũng rất đơn giản, tên tù binh chỉ vị trí cụ thể từng chỗ nằm của từng tên Pôn Pốt , Êng Xa Ri và Khiêu Xăm Phon. Chúng tôi tiếp tục hành quân, đi được khoảng 1km nữa thì tên tù binh tiếp tục chỉ dẫn các hầm cất dấu vũ khí.. đã bị ta đào bới thu hồi, lại tiếp tục di chuyển với một quảng đường khá xa theo hướng Tây Nam hướng vào dãy núi Ca Ra Vanh , quảng đường này tương đối bằng phẳng chủ yếu là rừng khọoc. Đến chiều thì toán chúng tôi đến chân dốc từ đây bắt đầu leo núi , cũng từ đây tên tù binh cho biết Pôn Pốt bị bệnh tim cho nên phải có người khiêng không tự đi được, cũng tại chân dốc chúng tôi phát hiện được các sổ ghi nhận điện ( dạng của cơ yếu) bằng chữ Trung Quốc như vậy có thể khẳng định cố vấn và chuyên gia Trung Quốc vẫn theo sát Trung ương Pôn Pốt , đồng thời phát hiện một chiếc máy nổ nhỏ dạng xách tay chúng bỏ lại. Tôi cho anh em thu giữ , dấu kín để khi quay lại sẽ thu hồi. Tiếp tục một quảng đường rừng leo đốc tương đối vất vả, đến chập tối thì chúng tôi đến vị trí dừng nghỉ đêm đầu tiên của Trung ương Pôn Pốt , cũng như lần trước tên tù binh chỉ cụ thể vị trí của từng tên. Tôi cho cả toán dừng lại bố trí canh gác cảnh giới, tôi cùng một tổ đi một vòng vị trí trú quân của chúng. Qua dấu vết để lại tôi xác định đi cùng Pôn Pốt có khoảng một tiểu đoàn quân . Trú quân một đêm nhưng chúng cũng tổ chức thế phòng ngự rõ ràng, bảo vệ nghiêm ngặt. Đến đây tôi cũng cho cả phân đội dừng lại tìm vị trí ngủ qua đêm để hôm sau đi tiếp.
Ngày thứ 2 tiếp tục cuộc hành trình truy đuổi nhưng khá vất vả vì toàn đường rừng lên xuống dốc, dãy núi này chạy sát biên giới với Thái lan. Qua 2 ngày tiếp xúc , tên tù binh có vẽ ngoan ngoãn và thật thà tuy vậy tôi vẫn nhắc anh em phải cảnh giác không được chủ quan. Đến chiều thì toán chúng tôi cũng đến được vị trí đêm dừng chân thứ 2 của Pôn Pốt . Cũng như các lần trước tên tù binh tiếp tục chỉ dẫn cho chúng tôi từng vị trí của từng tên nghỉ qua đêm và các đơn vị bảo vệ vòng ngoài. Có điểm khác biệt là đến đây chúng vất lại khá nhiều thứ, kể cả những thứ quí, bao gồm quần áo , các loại thuốc . Tên tù binh chỉ cho tôi bộ nào là của Pôn Pốt , bộ nào là của Êng Xa Ri.. . Đặc biêt là cả Va li, bộ đồ bộ tiểu phẩu, thuốc tim của Pôn Pốt như B1, B12, Sêpacsteim, Capein ..... Tôi mở Va Ly được biết là thuốc phục vụ Pôn Pốt và thấy một Va Ly gần như nguyên vẹn chứa đầy các hộp nhỏ hình trụ được làm bằng vỏ trái cây, trong có một viên bằng ngón chân màu đen sẫm tôi nghi là Sâm , một số thuốc tim, mấy hộp cà phê(hòa tan) cùng một sổ vật phẩm khác. Anh em trong toán cũng thu nhặt những thứ chúng bỏ lại nhưng có giá trị. Riêng quần áo vì mấy ngày vất giữa rừng nên đã có mùi hôi tôi không cho anh em thu nhặt. Đến đây tên tù binh nói , nó đến đây thì được phái quay lại còn từ giờ trở đi nó không biết nữa. Mọi hoạt động của toán qua máy thông tin tôi vẫn báo cáo thường xuyên về Quân đoàn và thủ trưởng Nguyễn Văn Tức - trưởng phòng trinh sát Quân đoàn đồng thời nhận sự chỉ đạo của cấp trên.Từ vị trí này cách Sở chỉ huy E866 cũng khá xa. Cũng chiều hôm đó thì cấp trên cho dừng truy kích và quay lại. Trên đường quay lại cũng phải mất gần 2 ngày. Đến đây cuộc truy đuổi Pôn Pốt coi như kết thúc , không đạt được kết quả như mong muốn .
Thành Vinh ngày 15/9/2019