LÊ MẠNH HẢI - tấm gương sáng của cựu chiến binh Sư đoàn 320

 rong những năm vừa qua Lính Tây Nguyên chúng ta hầu như không ai không biết đến cái tên Lê Mạnh Hải - một cựu chiến binh của Sư đoàn 320. Anh đã đóng góp rất nhiều công sức và tiền cho hoạt động tình nghĩa. Thời gian gần đây anh bị trọng bệnh nhưng không vì thế mà làm giảm đi các hoạt động nghĩa tình của anh. Trang Lính Tây Nguyên hôm nay xin giới thiệu với bạn đọc tấm gương Cựu chiến binh Lê Mạnh Hải qua bài viết của nhà văn Nguyễn Trọng Luân

LÊ MẠNH HẢI.
tấm gương sáng của cựu chiến binh Sư đoàn 320
Nguyễn Trọng Luân
Trong cuộc gặp mặt sư đoàn ở BTL Thủ đô hồi năm 2018 tôi hỏi một đồng đội ở tiểu đoàn xe của sư đoàn. Ngày xưa anh ở đoàn xe trên sư đoàn anh có biết anh Hải Nghệ An không? Anh ấy cười rất tươi và nói ngay, ông ấy tài giỏi cái gì cũng làm được ai mà chả biết. Một lần vào nhà truyền thống sư đoàn 320 ở Tây nguyên có một hiện vật từ thời chống Mỹ đề “ máy phát tia lửa điện do chiến sĩ Lê Mạnh Hải sáng tao.”
Năm 2008 đoàn chúng tôi đi cùng trung tướng Khuất Duy Tiến vào Nghệ An. Chuyến đi ấy mục đích thăm anh em ccb và phát động họ viết bài cho cuốn sách "60 năm tình nghĩa thủy chung" của BLL Sư đoàn dồng thời động viên anh em đóng góp tiền để làm cuốn sách đó. Lê Mạnh Hải thay mặt anh em CCB Nghệ An Hà Tĩnh nhận lời động viên hội viên viết bài và ủng hộ 70 triệu đồng. Lần ấy Lê Mạnh Hải đón tiếp đoàn chu đáo ấm áp và cuộc họp mặt diễn ra ở Cửa Lò thật là thân tình.
Hôm sau trên đường về, nhà văn Khuất Quang Thụy bảo tôi, thế là yên tâm không còn lo gì nữa cứ chuyên tâm mà viết thôi. Nhưng anh em tôi vui là thế hoan hỉ là vậy mà có biết đâu đúng lúc ấy gia đình Hải đang gặp hoạn nạn. Vợ Hải vừa bị tai nạn giao thông nằm viện mấy tháng trời. Doanh nghiệp làm ăn không suôn sẻ, mà Hải vẫn vui như không có gì xảy ra. Anh đi vay tiền để gửi ủng hộ BLL Sư đoàn trước đã rồi tính sau.
Sau này Hải nói với tôi. “ Lúc ấy tài khỏan của tôi không còn một đồng. Tôi chạy vạy nuôi công nhân và cầm cự để phục hồi sản xuất bạc cả đầu. Nhưng với sư đoàn, tình cảm của tôi khó nói lắm , tình yêu trai gái hay bạn bè thì dễ nói chỉ có tình đồng đội thì không thể cắt nghĩa được. Tình yêu người lính không thể nói bằng lời, không thể đo bằng tiền hay cấp chức. Trong con người tôi dành cho phần đời nghĩa tình chiến đấu của mình lớn hơn cả. Tôi yêu hết lòng với đồng đội và mà cũng ghét hết mức với người cơ hội không chân tình, không minh bạch”
Trước khi vào bộ đội năm 1971 Lê Mạnh Hải đã tham gia chiến đấu rồi. Khi còn là học sinh anh đã xung vào dân quân bắn tàu bay Mỹ ở thành phố Vinh và đã được khen thưởng. Vào chiến trường, đúng lúc chiến dịch xuân hè 1972 ác liệt ở Kon Tum. Tuy ở tiểu đoàn vận tải nhưng anh rất say chiến đấu. Anh từng có mặt những ngày ác liệt trên 1049, từng một mình nổ súng đánh bọn thám báo lùng sục vào kho vũ khí của ta khi anh làm chiến sĩ coi kho của sư đoàn.
Thiếu tướng Nguyễn Duy Khâm từng nhận xét rằng : “ Lê Mạnh Hải có thể ví là con dao pha, khi là chiến sĩ vận tải dũng cảm khiêng cáng thương binh, khi làm thủ kho cấp vật tư vũ khí cho bộ đội ở chân điểm cao 1049 chiến đấu với thám báo biệt kích địch đảm bảo an toàn kho tàng, cấp phát kịp thời đầy đủ đạn dược cho bộ đội. Khi làm thợ sửa chữa vũ khí thì thông minh sáng tạo, sửa chữa được cả ô tô, gò hàn chế tạo những vật dụng sinh hoạt và cả dụng cụ phục vụ chiến đấu…. anh cùng với vợ đã ủng hộ đóng góp vào những hoạt động của ccb sư đoàn và đóng góp đúc quả chuông cho nhà tưởng niệm liệt sĩ sư đoàn tại Pờ lây cu... “
Kể ra thì nhiều lắm những đóng góp của gia đình anh với đồng đội 320 Nghệ An Hà Tĩnh nói riêng và cả BLL sư đoàn nói chung. Điều lớn lao hơn là ở chỗ, anh chính là linh hồn của tập thể cựu chiến binh nơi đây. Anh là trung tâm đoàn kết, là ngọn cờ quy tụ tình cảm yêu thương gắn bó của những người lính năm xưa nơi xứ Nghệ. Anh lôi kéo những người lính trở về đời thường xích lại với nhau. Lê Mạnh Hải đến hầu khắp các huyện có ccb 320 và chia sẻ động viên với những người lính còn khốn khó. Người ta cần anh ở lúc anh động viên, anh chỉ ra cách làm ăn cho đồng đội mình. Người ta đến với anh lúc vui cũng như lúc buồn. Lê Mạnh Hải luôn là chỗ dựa tin tưởng về nghĩa tình đồng đội đối với mỗi cựu chiến binh Nghệ An Hà Tĩnh.
Tôi chứng kiến từ những ngày đầu đầy khó khăn trong việc tổ chức xây dựng bia chiến tích trên chiến trường cũ. Để có được những nhà bia trang nghiêm xứng với tầm vóc ở Tây Nguyên hay ở Củ Chi, BLL bạn chiến đấu sư đoàn phải vượt qua nhiều trắc trở vướng víu. Thủ tục pháp lí, thủ tục tiến hành xây dựng, tài chính ra sao? An toàn lao động thế nào? Hàng chục cuộc họp, hàng chục chuyến đi vào Nam ra Bắc của những ccb già, tất cả tuổi bảy tám mươi. Trong tất cả sự vượt lên khó khăn ấy phải nói công lao của Lê Mạnh Hải thật đáng kể đáng khâm phục.
Tôi không muốn kể số tiền mà Hải đã đóng góp vào với BLL sư đoàn để xây dựng các nhà tưởng niệm liệt sĩ. Điều này sẽ có ở một mục trang trọng riêng. Tất cả những nhà bia liệt sĩ mà BLL sư đoàn 320 làm nên không phải là hình thức “xã hội hóa” . Không xin tiền bất kì nơi nào, không có quyên góp kiểu từ thiện, mà là tiền đóng góp của các ccb và Hải là người tiêu biểu. Tôi chỉ nói những chuyến đi xa nhà của Hải trong ba năm lăn lộn ở chiến trường xưa. Nếu lấy điểm tính từ những cuộc họp giữa tháng 8 năm 2016 về việc làm bia tưởng niệm tiến tới lập Ban Chiến tích cho tới ngày 24 tháng 4 năm 2019 hoàn thành bia Đồng Dù Củ Chi thì Hải đã gần trọn ba năm xa nhà đi xây dựng bia chiến tích, gần bằng một đời lính chiến trường của lứa chúng tôi ở Tây Nguyên.
Phải có lòng tin tưởng và sự cuốn hút tuyệt đối của cá nhân Lê Mạnh Hải mới có thể lập nên một đội gồm 28 người lính già trở lại chiến trường xưa, họ vác gạch cõng xi măng thồ nước lên đỉnh cao trên một ngàn mét xây nhà bia liệt sĩ. Chiến tranh qua từ lâu mà linh hồn liệt sĩ vẫn hiện về rõ lắm. Anh Hải kể, những đêm trên 1015 , 1049 gió ào ạt, gió như những tiếng thì thầm của linh hồn đồng đội, họ vẫn thủ thỉ bên các anh. Họ dõi theo từng việc làm và phù hộ cho những người lính xây dựng công trình trong điều kiện vô cùng kém an toàn, chênh vênh trên núi. Vậy mà không một tai nạn nhỏ nào xảy ra . Chuyện này thật là hiếm và thật khó lí giải. Có lẽ chỉ nhìn hình ảnh Lê Mạnh Hải , Nguyễn Thế Tân đi lấy nước từ chân núi lên đỉnh ngàn mét, hình ảnh các anh ăn cơm trong gió bụi sạc- li. Trong túi lúc nào cũng chỉ thấy dầu gió và thuốc huyết áp mà lên xuống hàng dăm bẩy chục lần dãy núi Ngọc Rinh Rua . Chỉ nhìn những người lính già Nghệ An Hà Tĩnh đêm ngủ trong nhà bạt lổn nhổn những vỏ đạn vỏ súng han rỉ vụn vỡ, mỗi tuần tắm một lần thì mọi sự thành công an toàn cũng là xứng đáng. Người xứng đáng được yêu thương nhất phải là Lê Mạnh Hải. Những chuyến xe lên núi thật như một cuộc du lịch mạo hiểm. Đường lên Sạc- Li không dành cho những lái xe yếu thần kinh và xe phân khối khiêm tốn. Ấy vậy mà nhiều lần ngồi trên xe với Hải thấy anh cựa quậy tấm đai lưng thường trực bảo vệ đĩa đêm mà thương, mà lo sợ
Rời Tây Nguyên Lê Mạnh Hải lại về Củ Chi. Những người trong Ban Chiến tích chúng tôi cũng đi cùng với Hải. Quên sao được một đêm ở Đồng Dù nghe điện thoại vợ đi cấp cứu Hải vội ra sân bay, mua bằng được vé bay về đưa vợ vào viện rồi vài ngày sau khi vợ đã qua cơn hiểm nghèo anh lại bay vào với công trình nhà bia liệt sĩ Đồng Dù. Sự gắn bó trách nhiệm nề nếp của BLL sư đoàn 320 khiến BTL Sư đoàn 9 và cả BTL Quân đoàn 4 trận trọng và hết lòng ủng hộ. Lê Mạnh Hải là cầu nối cho sự thân ái yêu thương giữa bộ đội Sư đoàn 9 và cựu chiến binh sư đoàn 320. Nhà bia trên của mở Đồng Dù không chỉ của bộ đội 320 mà là của đồng bào Củ Chi với những người đã hi sinh giữ gìn mảnh đất này, của truyền thống anh hùng một sư đoàn mang tên Đoàn Đồng Dù. Bộ đội sư đoàn 9 hầu như ai cũng biết Hải. Anh là niềm tự hào của chúng tôi.
Những ngày gần cuối công trình ở Đồng Dù, Hải phát hiện ra mình bị bệnh hiểm nghèo. Ai cũng lo lắng cho Hải nhưng anh vẫn bình thản và lao vào công việc. Anh bảo, có ốm lăn quay thì cũng phải để tao xong trọn vẹn nhà bia này đã. Ngày làm lễ khánh thành ở cửa mở Đồng Dù nắng chan hòa. Trời thật đẹp. Nhìn Hải mặt đỏ gay và mồ hôi ướt đầm, đôi mắt sáng ngời và nụ cười tươi làm cho anh trẻ lại và đẹp rạng rỡ. Tôi nhìn anh và nghĩ, đằng sau anh còn bao nhiêu việc, anh còn lo cho cả một doanh nghiệp đủ công ăn việc làm, lo cho bao nhiêu cuộc mưu sinh của đồng đội mình. Bệnh tật sao nỡ làm khó cho anh. Đời thật không công bằng
Những ngày nằm viện K, những lúc hiểm nghèo đồng đội liên tục đến thăm anh. Sau mỗi cơn đau thấy đồng đội đén là cười là vui như không. Con người đến là kì lạ, hầu như với anh chả có gì bận tâm ngoài tình nghĩa người lính thủy chung.
Bây giờ đến Sa Thầy Kon Tum, các ban ngành ở cơ quan huyện hay hai xã Hơ Moong và Rờ Cơi ai cũng biết bộ đội Hải. Hải là công dân của Sa Thày rồi. Hải là con của núi rừng Tây Nguyên. Hải là “đồng bào”rồi. Hải thuộc từng lối đi lên nương , thuộc từng con suối, mỗi mặt trời lên trên dãy núi Ngọc Rinh Rua, thuộc cả mỗi con trăng bay qua đỉnh cao có cái tên Sạc- Li và Đen - ta huyền thoại.
Những ngày dịch Cô vít 19 làm cả nước lo lắng, ngưng trệ mọi công việc khiến người nghèo lại thêm khốn khó. Cảm động làm sao Lê Mạnh Hải đang dưỡng bệnh cũng gửi cả xe gạo 4 tấn vào cho đồng bào Sa Thày, Đúc Cơ. Tôi cứ hình dung ra, ở trong ấy cả ngàn đồng đội của chúng tôi nằm lại ở 1015, 1049, ở Đức Cơ cũng thầm tự hào về Lê Mạnh Hải. Tôi lại nhớ dáng Hải từ 1015 trở về, vục nước rửa mặt ở con sông Sa Thày dưới chân cầu treo Rờ Cơi rồi ngước nhìn lên 1015 , 1049,… rồi quay sang dãy Chư Mom Ray, Chư Tăng Kra một vùng rừng núi thiêng liêng, nơi ấy có hàng ngàn, hàng ngàn người bạn lính thân yêu của chúng tôi mấy chục năm không về.
Hà nội 22/4/2020
NTL
    

MỘT ĐÁM CƯỚI ĐẶC BIỆT Ở VĂN CÔNG B3

 MỘT ĐÁM CƯỚI ĐẶC BIỆT Ở VĂN CÔNG B3

Mai Thị Hoà - Văn công Quân giải phóng Tây Nguyên
Từ xưa các cụ có câu “vợ chồng là cái duyên, cái số”. Câu nói này vận vào trường hợp của vợ chồng tôi có lẽ cũng không ngoại lệ. Tôi là quân y sỹ được chuyển từ Viện 211 về Đoàn Văn công xung kích B3. Còn anh Quý là sỹ quan pháo binh từ Trung đoàn 40 chuyển về Đoàn làm cán bộ sáng tác nhạc trước tôi một năm.
Trong các đơn vị chủ lực ở Tây Nguyên thời ấy, có lẽ chỉ Viện 211 và Văn công xung kích B3 là có con gái. Sự có mặt của con gái ở chiến trường tuy có làm dịu bớt đi sự căng thẳng, gian nan nhưng cũng nảy sinh muôn vàn phức tạp rắc rối. Có nam, có nữ nên tình yêu tuổi trẻ nam nữ nảy nở là chuyện khó tránh khỏi. Chính vì vậy, anh Nguyễn Liêu, chính trị viên của Đoàn thường nhắc đi, nhắc lại trong các cuộc họp chi bộ, đơn vị: "Hàng ngày, hàng giờ các chiến sỹ đơn vị chiến đấu vẫn phải đổ máu, hy sinh. Sau mỗi chiến công là dồn dập những cáng thương, bệnh binh chuyển về bệnh viện. Những ngôi mộ chiến sỹ giữa các cánh rừng lại nhiều thêm. Bộ đội đơn vị chiến đấu cũng phải ăn sắn thay cơm để đánh giặc. Các bệnh xá trung đoàn, sư đoàn, bệnh viện ngày nào cũng có chiến sỹ hy sinh vì sốt rét ác tính... vì vết thương. Vì vậy, chúng ta phải thực hiện nghiêm kỷ luật "tạm gác" chuyện yêu đương lại. Yêu đương lúc này là có tội với các chiến sỹ hy sinh ngoài mặt trận...”. Nói là "tạm gác" nhưng thực tế là "cấm ngặt" và bị kiểm soát theo dõi rất gắt gao. Dù vậy, những mối tình vụng trộm vẫn diễn ra. Nhiều cuộc họp tổ đảng, cấp ủy chi bộ, đơn vị căng thẳng, tiêu tốn nhiều thời gian về chuyện kiếm điểm người vi phạm. Có một số bị kỷ luật. Có cặp đôi phải "cách" ra, chuyển một người đi đơn vị khác khiến "tình chàng, nghĩa thiếp đôi đàng chia ly". Tôi được biết "Tháng 11/1972, ở Viện 211 đã có trường hợp một nữ y tá người dân tộc Tây Nguyên chẳng may có thai 3 tháng bị phát hiện đã khóc lóc, buồn tủi rồi trốn ra rừng tự sát bằng súng ngắn"(l). Một số trường hợp ở các đơn vị có con gái đã phải nạo phá thai "bí mật"...
Tình hình "căng thẳng" như vậy, khiến anh Duy Nhiệm đã phải thốt lên: "B3 có một thời/ yêu nhau là tội lỗi/ vì phía trước đồng đội/ chỉ với cây súng thôi".
Trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy, nhưng anh Quý vẫn "dám" thổ lộ tình yêu chân thành với tôi mà không sợ dư luận phản đối. Mặc dù lúc đó anh là đoàn phó, lại trong cấp ủy chi bộ. Tôi lo ngại liệu anh có giữ được danh dự, uy tín trước chi bộ và đơn vị? Nhưng anh Quý cũng đã mạnh dạn báo cáo với cấp ủy, chi bộ cùng Đoàn trưởng Nguyễn Phúc và chính trị viên Nguyễn Liêu, sau khi chúng tôi đã bàn bạc thống nhất. Tình yêu thời chiến ở Tây Nguyên đúng như chuyện cổ tích. Sự “công khai minh bạch” đã nói lên tình cảm mộc mạc, chân thành, tình yêu hai người lính ở chiến trường.
Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký ngày 27/1/1973. Nhưng lệnh "tạm gác" chuyện yêu đương trong Đoàn vẫn không hề được nới lỏng. Thế rồi, Đoàn cán bộ Trung ương do đồng chí Tố Hữu, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, cùng đồng chí Đinh Đức Thiện, chủ nhiệm Tổng cục hậu cần và đoàn cán bộ vào nghiên cứu thực tế ở Mặt trận B3. Sau những ngày Đoàn cán bộ làm việc với Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận B3, Văn công B3 vinh dự được phục vụ đồng chí Tố Hữu và Đoàn cán bộ. Hôm sau, đồng chí Tố Hữu đến thăm Văn công B3. Ông bắt tay mọi người sau đó hỏi tôi: "Cháu tên là gì? Quê quán ở đâu? Chồng con thế nào?". Và tôi thưa lại: "Cháu tên là Mai Hòa, quê Hà Nội, năm nay cháu 27 tuổi, cháu chưa có chồng ạ". Ông Tố Hữu vẻ ngạc nhiên nói: "Sao 27, 28 tuổi mà chưa có chồng?".
Thực ra con gái thời ấy đến tuổi này mà chưa có chồng thì coi như "ế". Nhưng ông có biết đâu chiến sỹ gái ở Tây Nguyên không được lấy chồng ở thời điểm này, vì đang còn chiến tranh. Nhiều chị ở Viện 211 còn nhiều tuổi hơn tôi mà cũng vẫn phải “3 khoan" "cắm sào” đợi ngày giải phóng.
Thật bất ngờ, sau lần ông Tố Hữu hỏi thăm đó, tôi và anh Quý được thủ trưởng Năm Minh (tức Thiếu tướng Trần Thế Môn), chính ủy Mặt trận B3 gọi lên hỏi chuyện gia đình và nguyện vọng của hai người. Chúng tôi thành thật báo cáo, nếu được phép, chúng tôi xin được tổ chức đám cưới ở chiến trường. Thế rồi, đúng như trong mơ, chính thủ trưởng Năm Minh là người đã trực tiếp xem ngày cưới cho chúng tôi. Đó là ngày 20/5/1973, tức là ngày 18/4 năm Quý Sửu - ngày đại an. Và cũng chính đồng chí chính ủy Mặt trận đã đến dự và phát biểu chúc mừng vợ chồng tôi trong ngày cưới (bài phát biểu của thủ trưởng Năm Minh và giấy chứng nhận kết hôn của Phòng Chính trị QGP Tây Nguyên đến nay vợ chồng tôi vẫn lưu giữ làm kỷ niệm).
Tôi được biết, đồng chí Tố Hữu truyền đạt nhiều ý kiến chỉ đạo quan trọng của Trung ương với Mặt trận B3, trong đó có việc giải quyết chính sách cho một số nữ cán bộ, chiến sỹ đã ở chiến trường lâu năm, lớn tuổi. Thế rồi, khởi đầu là đám cưới của anh Nguyễn Đức Giá tham mưu phó Mặt trận với chị Nguyễn Thúy Liệu, quân y sỹ của cơ quan Bộ Tư lệnh Mặt trận B3. Tiếp sau đó, đầu năm 1973 là một đám cưới ở Viện 211 cũng được tổ chức cho dù còn nhiều bàn cãi, thậm chí rất căng thẳng trong lãnh đạo nhưng đám cưới vẫn được tổ chức tuy đơn sơ nhưng rất đông vui. Và có lẽ, đám cứới của chúng tôi là đám cưới thứ ba ở Mặt trận B3 nhưng là đám cưới đầu tiên của Văn công B3.
Sau những ngày tháng đó, thì tất cả chị em phụ nữ ở tuổi như tôi và hơn nữa được kết hôn hoặc cho ra Bắc để có điểu kiện, xây dựng gia đình. Ở trong Đoàn, sau đám cưới của vợ chồng tôi là đến đám cưới của anh Xuân Thọ và chị Tuyết Minh, rồi đám cưới của anh Xuân Cước và chị Thanh Lịch.
Tôi nói đám cưới của vợ chồng tôi thời bấy giờ là một đám cưới đặc biệt vì đây là một ân tình sâu sắc của gia đình lớn Văn công QGP Tây Nguyên đã lo cho chúng tôi một đám cưới rất chu đáo, tình cảm thấm đượm tình gia đình như bố mẹ lo cho vợ chồng chúng tôi. Anh Phú Tuấn chụp ảnh cưới từ lúc chuẩn bị đám cưới cho đến hôm tổ chức ở hội trường. Các anh họa sỹ: Mai Văn Kế, Ngô Bình Thiểm, Lương Xuân Đoàn lo trang trí hội trường của Ban Tuyên huấn, Phòng Chính trị B3, lại còn kỳ công mất mấy ngày liền tỉ mẩn, cắt, tỉa, uốn, dán cho cô dâu một bó hoa lay ơn trắng bằng giấy bóng mờ trắng để cô dâu ôm hoa khi ra phòng cưới. Chuyện thật như mơ. Ai cũng phải thốt lên vì trông như bó hoa lay ơn thật của người Hà Nội những ngày Tết đến xuân về. Các em: Lệ, Liên, Tuyên, Hòa, Vân, Duyên, Chiến, Thu,... cũng kỳ công thêu một đôi gối trắng rất đẹp bằng vải pô pơ lin Trung Quốc trắng muốt... Các Ban trong phòng Tham mứu, Chính trị, Hậu cần nấu kẹo lạc, kẹo vừng để làm quà tặng. Vì tiêu chuẩn mỗi đám cưới chỉ được 4kg kẹo, 1 kg chè và 1 cây thuốc lá Ara, cho nên các Ban, phòng tặng kẹo tự nấu để thêm phầ vui vẻ. Các thủ trưởng có điều kiện hơn thì tặng sổ sách. Tháng năm là đầu mùa mưa, nhưng hôm đó trời nắng mát, không một hạt mưa, đúng là ngày đại an, mà thủ trưởng Năm Minh đã chọn.
Nhân câu chuyện này, vợ chồng tôi rất chân thành cảm ơn tất cả các thủ trưởng, các anh, chị em, bạn bè đã chăm lo mọi việc rất đầy đủ, chu đáo cho chúng tôi. Trong đám cưới này, bố mẹ, gia đình hai bên không có mặt ở đây. Chỉ có Văn công B3 chính là gia đình lớn đã lo cho chúng tôi có “ngôi nhà hạnh phúc". Đó là ngôi nhà nhỏ xinh, 3 gian, làm toàn bằng tre, nứa, mái lợp âm dương (cứ 2 nửa thanh ngửa lại 1 nửa thanh úp giữa khe của 2 thanh) do anh Minh Thắng và anh Thanh Phát tặng cho vợ chồng tôi. Anh Thắng, anh Phát và anh Quý cùng ở tổ sáng các. Ngôi nhà của tổ sáng tác nằm trên sườn núi cao, có một hệ thống nước máng lần rất trong, sạch và mát. Ngôi nhà nhỏ xinh do bàn tay các anh tự làm, chúng tôi tháy rất ấm cúng, hạnh phúc. Văn công B3 đã thay mặt cho bố mẹ của hai họ nhà trai, nhà gái lo cho đám cưới thật là chu đáo từ "ngôi nhà hạnh phúc" đến mời các thủ trưởng, anh, chị em các phòng ban tới dự. Giữa chiến trường gian khổ vẫn có bó hoa lay ơn cho cô dâu...
Và kỷ niệm sâu sắc nhất là hình ảnh Siu Glin và anh Trần Bách đưa tôi đi Bệnh viện 211 sinh cháu, trong khi anh Quý đi công tác dưới đơn vị chưa về kịp. Cảnh SiuGlin người dân tộc Gia Rai, diễn viên múa, nhạc công đàn tơ rưng đeo trên lưng một cái lồng to có 7 con gà do Đoàn tăng gia chăn nuôi ưu tiên dành cho mẹ con tôi. Trước ngực SiuGlin là một khẩu AK, ngang lưng đeo lựu đạn, dao găm và bi đông nước. Còn anh Trần Bách, tác giả bài hát "Cây sắn tấn công", đeo trên lưng một ba lô lỉnh kỉnh cồng kềnh đủ thứ xếp chồng lên, trước ngực cũng đeo khẩu AK, ngang lưng ngoài bi đông nước, lựu đạn còn phải quàng thêm một bao gạo nếp nương tăng gia của Đoàn to bự. Tôi mang bầu sắp đến ngày sinh đi không cũng đã mệt, nên chỉ độ 30 phút là lại phải giải lao. Vì vậy, suốt từ sáng sớm, mãi chiều tối ba anh em mới đến Viện 211...
Tôi mồ côi mẹ từ khi chưa đầy 1 tuổi. Mẹ tôi bị mất do trận càn của giặc Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn tháng 10/1947. Hôm đó là ngày giỗ của hàng trăm người. Gia đình tôi bị bom, đạn giặc Pháp giết chết 5 người: Mẹ tôi, ông ngoại và 3 chị gái con bác ruột. Khi đó, tôi đã được Cục Quân y và bác sĩ Từ Giấy cho sữa, chăm lo để nuôi tôi trong hoàn cảnh bố tôi gà trống nuôi con. Vì vậy, khi ở chiến trường B3, xa nhà đằng đẵng hơn 7 năm thì tôi càng thấm thìa những tình cảm sâu nặng mà Đoàn Văn công B3 đã dành cho vợ chồng tôi. Vì thế, đám cưới đặc biệt của vợ chồng tôi ở Mặt trận B3 làm tôi liên tưởng tới ký ức thời kỳ ở Bắc Kạn, Cục Quân y đã cho sữa và chăm lo nuôi tôi khi tôi chưa đầy 1 tuổi.
Năm 2018, chúng tôi sẽ kỷ niệm 45 năm ngày cưới. Chúng tôi đã có mốc gia đình hạnh phúc, đã lo cho các con có gia đình riêng: 2 con trai, 1 con gái và có 6 cháu nội, ngoại. Năm nay anh Quý 75 tuổi, tôi cũng đã 72 tuổi rồi. Nhưng đám cưới của chúng tôi luôn được kể lại cho con cháu nghe về một đám cưới đặc biệt ở Mặt trận B3 thời đánh Mỹ.
Hình ảnh có thể có: 5 người
Thi Nguyễn Đình, Đoàn Viện và 93 người khác
17 bình luận
7 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
    

CA SỸ HOÀI THU

 CA SỸ HOÀI THU

Nguyễn Đình Thi
Trong những năm chiến tranh những người lính Tây Nguyên không ai không biết đến một cái tên rất nổi tiếng và được lính ta rất yêu mến , ngưỡng mộ , đó là Hoài Thu - ca sỹ của đoàn Văn công Quân giải phóng Tây Nguyên . Hoài Thu tên hoàn chỉnh là Nguyễn Hoài Thu , cô sinh năm 1954 , tại thành phố Tuyên Quang . Đúng như câu ca mà dân ta thường ca ngợi : chè Thái , gái Tuyên . Hoài Thu sở hữu một gương mặt thật xinh xắn , nước đã trắng hồng , thân hình thon thả và một giọng hát thiên bẩm rất trong trẻo , ngọt ngào . Năm 1972 , lúc vừa tròn 17 tuổi , Hoài Thu trúng tuyển vào Văn công Tuyên Quang . Công tác ở Văn công Tuyên Quang được khoảng 3 tháng thì Văn công Tây Nguyên ra Tuyên Quang tuyển diễn viên . Không đắn đo suy nghĩ , không sợ gian khổ ác liệt ngoài chiến trường , Hoài Thu viết đơn tình nguyện ra mặt trận , vào Văn công Tây Nguyên . Thân gái mảnh mai suốt 3 tháng trời trèo đèo lội suối , vượt qua bao khó khăn , tết năm 1973 , cô cùng 15 thành viên của các đoàn Văn Công các tỉnh kết nghĩa với Tây Nguyên gồm : Tuyên Quang , Bắc Thái , Cao Bằng , Lạng Sơn , Hà Giang đã vào tới Tây Nguyên . Mặc dù đã hình dung ra những gian khó ở chiến trường nhưng khi đến Tây Nguyên cô mới thực sự thấm thía , nó khó khăn , gian khổ gấp bội phần chứ không phải như cô tưởng tượng lúc còn ở miền Bắc . Sốt rét , bệnh tật , đói , khổ , bom đạn nhiều lúc như muốn quật ngã cô nhưng Hoài Thu vẫn luôn tự nhủ phải cố gắng vươn lên , phải sống xứng đáng với những người chiến sỹ đang chiến đấu ở phía trước . Đến bất kỳ đâu có bộ đội là Hoài Thu hát , cô hát khi phục vụ một đoàn quân ra trận , khi thì ở bệnh xá phục vụ anh em thương , bệnh binh , khi thì phục vụ nhân dân vùng giải phóng . Vừa trẻ trung , xinh xắn , vừa có giọng hát hay nên đến bất kỳ đơn vị nào biểu diễn Hoài Thu đều được lính ta rất yêu thích , cổ vũ một cách cuồng nhiệt , có những bài hát cô phải hát tới lần thứ 3 mà bộ đội vẫn yêu cầu hát lại . Tiếng hát của Hoài Thu cũng như của anh chị em nghệ sỹ Văn công Tây Nguyên những năm đó có một sức mạnh thật đặc biệt , cổ vũ bộ đội ta vượt qua khó khăn , gian khổ chiến thắng quân thù . Cho đến tận bây giờ gần 50 năm đã trôi qua nhưng những ai đã được nghe Hoài Thu hát : Người ơi , người ở đừng về , Đường cày đảm đang , Bài ca 5 tấn ... trong những năm tháng chiến tranh chắc hẳn vẫn không bao giờ quên cô gái Tuyên Quang nhỏ bé , xinh xắn này . Khi chiến tranh kết thúc , Quân đoàn 3 không còn biên chế đoàn Văn công nên tất cả anh chị em Văn công Tây Nguyên sát nhập vào Văn công Quân Khu 5 , Hoài Thu từ đó cũng về Văn công Quân khu 5 . Về cuộc sống riêng , Hoài Thu kết duyên với nhạc sỹ Phan Hồng Hà - nhạc sỹ của đoàn Văn công Tây Nguyên , con trai nhạc sỹ nổi tiếng Phan Huỳnh Điểu . Sau khi dời văn công Quân khu 5 cả 2 vợ chồng Hoài Thu chuyển về thành phố Hồ Chí Minh , Hoài Thu công tác ở công an thành phố Hố Chí Minh , vẫn làm công tác văn hoá , văn nghệ . Hoài Thu và nhạc sỹ Phan Hồng Hà có với nhau 2 con . Một gái , một trai . Tiếc rằng cả 2 con của chị đều không ai đi theo con đường nghệ thuật của bố , mẹ . Sau này Hoài Thu và Phan Hồng Hà chia tay nhau , Hoài Thu chuyển về quê Tuyên Quang sinh sống . Hiện chị ở thành phố Tuyên Quang . Mặc dù đã gần 50 năm không được nghe chị hát nhưng khi trò chuyện với chị , tôi nhận thấy giọng chị vẫn còn rất trẻ trung , trong trẻo hẻn nào khi tôi nhờ bạn tôi ở thành phố Tuyên Quang đến nhà chị xin tấm hình cho bài viết , bạn tôi bảo trông chị ấy vẫn còn rất duyên , vẫn còn rất nhiều những nét của một nghệ sỹ.

Ảnh ca sỹ Hoài Thu

    

MỘT MÌNH 13 NGÀY SỐNG TRONG VÒNG VÂY QUÂN PÔN PỐT

 Trong trận đánh ở bản Phờ Lon - CPC tháng 3/1978, đại đội 9 - Trung đoàn 24 của Trần Văn Quý bị địch bao vây vo tròn. Trung đoàn và Tiểu đoàn nhiều lần tổ chức phá vây cho đại đội 9 nhưng đều không thành. Cuối cùng Tiểu đoàn đã cho lệnh rút quân. Trong cuộc phá vây rút quân Trần Văn Quý bị lạc trong vòng vây quân Pôn Pốt suốt 13 ngày liền trong khi bản thân anh lại bị thương. Không có vũ khí, súng đạn, không lương thực, nước uống nhưng bằng nghị lực và ý chí kiên cường của người lính anh đã trở về được Việt Nam, đã trở về với đồng đội. Bài viết về Trần Văn Quý vừa qua được tôi và fb Van LeNgoc giới thiệu trên kênh YouTube - Hồi ức lính Tây Nguyên đã được bạn đọc khắp nơi nhiệt tình hưởng ứng và ngợi khen. Chỉ trong vòng một tuần đã có tới 50 ngàn lượt người xem. Đây là một kỷ lục người xem trong thời gian một tuần trên trang Website Hồi ức lính chiến. Hôm nay Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu lại với các bạn về bài viết này

MỘT MÌNH 13 NGÀY SỐNG TRONG VÒNG VÂY QUÂN PÔN PỐT
Nguyễn Đình Thi ( Ghi theo lời kể của Trung đội Trưởng Trần Văn Quý - C9/D6/E24 , quê Quyết Tiến - Xuân Viên - Yên Lập - Phú Thọ )
Bị thương ở mắt, từ hầm chốt ở tuyến trên tôi phải trở về hầm y tá băng bó vết thương, về đến hầm y tá tôi lại bị tiếp một mảnh đạn ĐKZ của địch xuyên qua hàm. Suốt 4 ngày qua chốt của đại đội tôi bị địch vây tròn, đường tiếp viện từ phía sau của Tiểu đoàn lên đều bị địch chiếm giữ. Đã mấy lần Tiểu đoàn tổ chức giải vây cho đại đội tôi nhưng đều không thành. Nhìn xung quanh chỗ nào cũng thấy lố nhố địch. Cả đại đội lúc vào đây ngày 29/2/1978 là hơn 80 người, thế mà mới sau 4 ngày giữ chốt giờ chỉ còn hơn chục tay súng. Tiểu đoàn đã cho lệnh rút nhưng suốt 3 ngày qua quân địch vây tứ phía, giờ đường rút cũng không còn. Sáng nay 4/3/1978, trời vẫn còn tối, địch vừa nổ súng, vừa la hét tấn công vào chốt chúng tôi. Biết quân địch quá đông không thể cầm cự được nữa vì người còn ít, súng đạn còn lại không đáng là bao, Tôi bàn với anh Quyền - đại đội trưởng và mấy anh em còn lại tranh thủ lúc trời chưa sáng, địch nhìn không rõ, mình phá vây. Tôi sẽ nổ súng chạy về một hướng để thu hút quân địch, số anh em còn lại chạy về hướng khác. Thống nhất với mọi người xong, tôi lao lên khỏi hầm chạy về phía Kỷ và Ngọc người của Trung đội tôi đang chốt gữi ở phía trên, kêu lớn:
- Kỷ ơi ! Ngọc ơi ! Rút thôi ! Đại đội có lệnh rút rồi !
Tôi cố kêu thật to để Kỷ và Ngọc biết vì không có cách nào báo cho Kỷ và Ngọc được
Vừa gọi cho Kỷ và Ngọc, tôi vừa chạy vừa bắn. Phát hiện tiếng súng từ hướng của tôi, hỏa lực của địch dồn cả về phía tôi, bắn như vãi đạn. May làm sao tôi không dính một viên đạn nào. Chạy được chừng vài trăm m thì mệt quá không thể chạy được nữa, thấy một bụi le rất to bị đạn đổ rạp,mtôi chui vội vào trong đó nằm, vơ vội ít lá ở ngoài nấp lỗ vừa chui vào và phủ một ít lá lên người để chúng không nhìn thấy. Nằm trong bụi le tôi nghe rõ tiếng chân bọn chúng đi lùng sục ở phía ngoài, tôi nghĩ phen này mình chắc chết, nhưng may làm sao chúng không phát hiện ra tôi nằm trong đó. Chiều hôm đó chúng lại đi lùng sục, tới bụi le chỗ tôi nằm chúng bắn một loạt đạn, do chúng bắn hơi cao tôi lại nằm sát đất nên may quá tôi không sao. Cả ngày hôm đó tôi vẫn nằm im trong bụi le. Tôi biết thế là mình đã nằm trong vòng vây quân thù rồi ! Bao nhiêu ý nghĩ, bao nhiêu câu hỏi cứ xoay quanh tôi. Làm thế nào để thoát được chúng trở về Việt Nam? Làm thế nào để sống trong những ngày tới ? vì trong tôi lúc này không có một thứ gì ! Vũ khí không, lương thực không, nước không, trong khi vết thương của tôi vẫn rỉ máu, đau nhói. 3 ngày đầu tôi phải nằm im trong bụi le đổ, không dám ra ngoài vì địch liên tục đi lùng sục. Cái đói, cái khát lúc này cũng hành tôi thật dữ dội. Bụng tôi lúc thì réo lên, lúc thì như có ai cào cấu, đầu óc quay cuồng lúc nào cũng nghĩ đến cơm, đến nước. Môi tôi cũng bắt đầu khô, họng rát như phải bỏng, tôi bắt đầu phải dùng nước tiểu của mình để uống, nhiều lúc đói quá tôi lả đi không biết gì. Đêm thứ 3 tôi quyết định bò ra ngoài xem có kiếm được cái gì ăn và uống không. May mắn làm sao cách chỗ tôi nằm chừng 15m có cây Loọng bị đạn cháy dở, một số quả rụng xuống đất ( quả Loọng giống quả Thổ của Việt Nam, to gần như nắm tay, ăn có vị chua chua, ngọt ngọt ), gần đó có mấy cây mua cũng bị đạn còn trơ một vài cành với ít lá, tôi vơ vội những quả Loọng rụng và ngắt nốt số lá mua còn sót lại, cất vào chỗ nằm để dự trữ. Lấy được ít quả Loọng và lá mua rồi song tôi không thể nhai được do xương hàm bị đạn, tôi đành lấy tay chà nát quả Loọng và lá mua rồi đưa từng ít một vào mồn ăn. Nằm trong bụi le vừa nóng, vừa đói, vừa khát nhưng tâm trí tôi lúc nào cũng nghĩ cách tìm đường về Việt Nam. Lúc đó tôi chỉ ao ước gặp được ai hoặc gặp được đơn vị nào của ta đánh sang nhưng đã 3 ngày trôi qua không thấy một tia hy vọng nào. Ngày thứ 4 do bẩn và do không có thuốc, vết thương trên má tôi bị nhiễm trùng, đã xuất hiện giòi, chúng bò lổm nhổm trên má. Nhớ ngày ở quê, mẹ tôi bảo cái gì ăn được cứ ăn, vả lại lúc này đói quá thế là tôi nhặt những con giòi đang bò trên má cho vào mồn ăn, lúc đầu nghĩ thấy ghê ghê, ăn thử một con thấy béo béo, thế là chén sạch, chẳng nghĩ gì khác. Sang ngày thứ 5 vết thương của tôi sưng tấy, rất đau. Tôi bị sốt liên tục, còn ít thuốc lào đựng trong túi ly non hôm trước Phúc bạn tôi ở Tiểu đoàn 5 cho , tôi lấy lá mua ra nhai rồi trộn lẫn thuốc lào, đắp lên vết thương, bọn giòi say thuốc lào lăn ra chết, vết thương của tôi từ hôm đó cũng đỡ dần. Những ngày tiếp theo ngày nào cũng vậy, ban ngày tôi nằm im, ban đêm tôi lại bò ra ngoài để kiếm đồ ăn và tìm đường về Việt Nam. Có đêm tôi bò ra ngoài tới 3 lần, nhưng lần nào cũng phải quay lại vì nghe thấy tiếng bọn Miên ho, đặc biệt là mùi thuốc D bọn chúng hút, cách vài chục m vẫn ngửi thấy mùi. Tôi nhớ đêm thứ 11 hay 12 gì đó, tôi bò ra ngoài được hơn 100m thì phát hiện chiếc hầm kèo mà tôi và anh em trong đơn vị đã chốt hôm trước. Tôi chui xuống hầm xem có kiếm được vũ khí hay xem có anh em nào của ta còn ở đây không. Vừa chui vào hầm thì nghe tiếng bọn Miên xì xào từ phía sau đi tới. Phen này chắc chết! Tôi nghĩ vậy rồi lấy 2 tay bám vào cây gỗ nóc hầm kèo, đu treo người lên sát nóc hầm. May mắn làm sao bọn địch đi tới hầm tôi đang nấp, một tên ngó vào cửa hầm nhưng vì tôi đu người lên cao, nhìn không thấy gì chúng bỏ đi . Thật hú vía .

Sẩm tối ngày thứ 13 , vẫn đang mê man do đói và sốt , tự nhiên tôi thấy lạnh khắp người , thì ra một cơn giông lớn kèm theo mưa , nước tràn vào chỗ nằm làm tôi tỉnh lại . Quan sát , tôi thấy trời mưa rất to , gió thổi rất mạnh . Tôi nghĩ có lẽ đây là cơ hội cho mình trở về Việt Nam . Mặc dù người lúc này vẫn rất mệt nhưng sự nung nấu trở về Việt Nam bao ngày nay như tiếp cho tôi thêm sức mạnh . Tôi quyết định sẽ ra đi . Nhưng đi như thế nào đây ? vì xung quanh tôi lúc này chỗ nào cũng có địch . Khó khăn nữa với tôi lúc này là vẫn chưa xác định được chính xác lối về Việt Nam , khu vực tôi đang nấp địa hình bằng , cây cối xung quanh rất giống nhau nên rất khó phân biệt hướng , không cẩn thận lại đi về hướng địch thì rất nguy hiểm . Tuy vậy tôi vẫn quyết tâm , dù nguy hiểm cũng đi , còn nằm lại ở đây trước sau cũng chết , không chết vì đói , vì khát , vì vết thương thì cũng chết vì địch . Để có thêm sức tôi lấy mấy lá mua dự trữ ra ăn , quả Loọng thì hết từ mấy hôm trước rồi . Thấy gần chỗ tôi nằm có mùn đất con giun đùn lên , nghĩ ăn được tôi lấy tay bới rồi nhón một chút cho vào mồn ăn thử , khi đưa vào mồn nhai thấy sạn và đắng quá , nuốt không nổi đành nhè ra . Mấy cây mua gần chỗ tôi nằm còn ít lá tôi vẫn để dự trữ ăn dần , chưa dám hái hết giờ tôi bứng sạch đem theo . Đứng giữa trời mưa , sấm chớp ầm ầm tôi cầu khấn tổ tiên , bố mẹ , đồng đội phù hộ cho tôi bình an trở về Việt Nam . Lúc này trời mưa mỗi lúc một lớn , gió vẫn thổi mạnh . Những hạt mưa to quất vào mặt , vào vết thương đau điếng , tôi cắn chặt răng để không bật ra tiếng kêu . Nhưng có lẽ cũng nhờ trời mưa đã làm cho tôi khỏe ra sau bao ngày khát nước . Tôi căng mắt quan sát các vị trí của địch , lúc thì bò , lúc thì lom khom đi . Đêm đầu tháng không có trăng , trời rất tối nhưng nhờ vào ánh chớp của cơn mưa nên tôi nhìn thấy các vị trí chốt của chúng , có những chỗ tôi phải vòng tránh , nhưng có những chỗ không thể vòng tránh được , đành liều đi lom khom giữa 2 hầm chốt của địch , tôi cố bước những bước thật nhẹ để chúng không nghe thấy , thỉnh thoảng những ý nghĩ về bọn Miên sát hại bộ đội ta một cách man rợ lại le lói xuất hiện trong tôi làm tôi ghê ghê , bọn này hành xử như thời Trung Cổ , khi bắt được bộ đội ta chúng thường dùng búa hoặc rìu đập cho đến chết chứ không bắn . Hôm trước chốt ở đây , ngồi trong hầm tôi nghe rõ tiếng đồng đội kêu khi bị chúng sát hại , uất hận và đau xót làm sao mà không làm gì được vì bọn chúng quá đông . May quá đêm nay trời mưa to và về đêm nên chúng chui hết vào hầm chứ nếu hôm nay trời không mưa to thì không thể qua mắt bọn chúng được . Tầm 9 giờ đêm tôi ra tới khu vực cửa mở , tôi nhận ra cửa mở vì nơi này có một bụi cây và 2 cái hầm mà trung đội tôi chốt những ngày qua . Tựa người vào một gốc cây , tôi định lại hướng về Việt Nam . Đúng rồi lối mòn kia , chỗ có con hào ngang mà hôm trước tôi cùng đơn vị đã đi vào , cứ theo đường này sẽ về tới Việt Nam . Xác định được hướng về Việt Nam trong lòng tôi như trút được một gánh nặng , thế là chặng đường nguy hiểm nhất đã vượt được qua , nhưng khó khăn vẫn còn rất nhiều , cơ thể tôi lúc này quá mệt , chân tay rã rời do đói , do kiệt sức lâu ngày chẳng muốn bước thêm một bước nào nữa nhưng bản năng sống cũng như khát khao trở về lại thúc giục tôi phải vùng lên . Tôi tiếp tục đứng lên đi . Từ cửa mở này về tới biên giới Việt Nam hôm trước chúng tôi đi vào mất gần 2 giờ đồng hồ , khoảng 5km . Khu vực này là bãi trống và là khu vực giáp gianh giữa ta và địch nên có rất nhiều mìn của cả ta và địch gài . Vừa bò , tôi vừa thận trọng khua nhẹ 2 tay ra phía trước để phát hiện dây mìn vướng của địch , loại mìn này chỉ sơ ý chạm mạnh vào dây vướng là toi đời ngay , nên buộc tôi phải hết sức nhẹ nhàng , có những chỗ tôi phát hiện chúng gài cả lựu đạn , định gỡ kiếm một quả để phòng thân nhưng lựu đạn chúng gài thành từng chùm , sợ nguy hiểm tôi đành thôi . Đêm hôm đó trời mưa rả rích suốt đêm , do ngấm nước mưa lâu nên cơ thể tôi có lúc rét run . Nhiều lúc mệt quá cộng với sốt do vết thương ngấm nước mưa làm tôi lả đi không biết gì , tỉnh lại tôi lại động viên mình phải cố gắng , nếu không cố gắng , trời sáng khu vực này trống trải địch phát hiện thì cực kỳ nguy hiểm . Cứ thế suốt đêm lúc nào mệt quá thì bò , đỡ mệt thì đi . Tảng sáng tôi nhận ra đã về tới Ngầm tăng ( Ngầm tăng là một cái ngầm cách Xa Mát - Huyện Tân Biên chừng vài km , để cho xe tăng ta vượt qua , bộ đội ta đã lấy gỗ lát nên . Từ đó có tên là Ngầm tăng ) , khu vực này tôi biết cách biên giới ta không còn xa . Chính nơi này tôi cùng đơn vị tập kết ban đầu vào chiếm lĩnh trận địa . Khu vực này mới có mấy ngày mà giờ tang hoang quá , không biết có còn đơn vị nào của ta ở gần đây không ? Mệt quá tôi chui vào một chiếc hầm ven đường nghỉ . Vừa chui vào hầm thì thấy tiếng nhiều loạt đạn AK bắn về phía tôi . Chả lẽ địch phát hiện ra mình ? Tôi nằm im và đinh ninh hôm nay là ngày tận số của mình . Nằm trong hầm tôi vẫn chăm chú lắng nghe xem có động tĩnh gì tiếp theo không . 20 phút trôi qua không thấy gì , tôi thấy bớt lo một chút . Một lúc sau thấy trời sáng rõ . Tôi quyết định bò ra khỏi hầm , bò được một đoạn , thấy một mô đất tôi dừng lại quan sát , tôi nghe có tiếng người thì thào to nhỏ , nhưng do tôi bị hỏa lực địch bắn nổ gần , tai bị chảy nước nên nghe không rõ . Chẳng nhẽ bọn địch chốt ở đây ? Chừng 10 phút sau tôi nghe tiếng thì thào xa hơn và nghe có tiếng Việt Nam gọi : Anh Thường ơi ! Về chỉnh pháo đi , pháo nó bắn vào mình đấy ! rồi tiếng xoong , nồi va vào nhau và tiếng một người gọi : - Các A cho người xuống lấy cơm ! . Tôi cố nghiêng đầu rũ nước còn đọng trong tai để nghe cho rõ . 3, 4 lần tiếng gọi đó vẫn lặp đi , lặp lại nhưng lúc này tôi vẫn chưa xác định được quân mình hay là địch , vẫn phải đề phòng vì bọn lính Pôn Pốt thỉnh thoảng chúng vẫn nói tiếng Việt Nam , nhưng theo phán đoán của tôi thì tiếng gọi các A lấy cơm và câu : pháo nó bắn vào mình chắc là quân ta nhiều hơn . Tôi quyết định dời khỏi chỗ nấp , đi về phía có tiếng vừa gọi . Vừa đi được một đoạn thì đột nhiên thấy một chiến sỹ của ta dậy sớm đi vệ sinh , đi về phía tôi , người chiến sỹ đó rất hốt hoảng khi nhìn thấy tôi . Tưởng địch , chiến sỹ đó chạy quay lại chắc là để lấy vũ khí . Thấy vậy tôi vội kêu lên :⁃ Đồng chí ơi ! Tôi đây ! Tôi C9 , E24 đây ! �Nghe tiếng tôi kêu , người chiến sỹ đó quay người lại nhìn tôi , hỏi :⁃ E24 phải không ? ⁃ Đúng rồi ! Tôi E24 , đánh nhau ở Phờ Lon bị lạc ! �May quá chiến sỹ này sáng dậy đi vệ sinh không mang vũ khí chứ sáng hôm đó chiến sỹ này mang theo vũ khí chắc tôi cũng toi đời . Thấy tôi từ đất Miên trở về mọi người ùa cả đến hỏi thăm . Thì ra đây là khu vực chốt của đại đội 9 - Trung đoàn 66 . Thế là tôi đã được trở về với đất mẹ Việt Nam , được trở về với các đồng đội . Một niềm vui không sao tả xiết trào dâng trong tôi .
 
Hình ảnh: Cựu chiến binh Trần Văn Quý
    

CHUYỆN HẠT GẠO NGHĨA TÌNH

 CHUYỆN HẠT GẠO NGHĨA TÌNH

Khuất Duy Hoan - Nguyên Tư lệnh phó Quân đoàn

Sắp tới ngày 26/3, ngày thành lập Quân đoàn 3 – Binh đoàn Tây Nguyên của chúng tôi. Cả đời binh nghiệp của tôi gắn bó với Quân đoàn. Sống, chiến đấu, làm việc và trưởng thành từ người chiến sĩ Bộ binh qua tất cả các cấp chỉ huy, tham mưu đến cấp Quân đoàn. Kỷ niệm vui buồn, đau thương mất mát sống mãi cùng thời gian mỗi khi nhắc tới đơn vị, thủ trưởng cấp trên và đồng đội đã cùng kề vai chia ngọt sẻ bùi.
26/3 năm nay tròn 45 năm ngày truyền thống của Quân đoàn 3. Nếu không có dịch COVID-19 hoành hành thì những ngày này cán bộ, chiến sĩ đang công tác tại Quân đoàn và những cựu chiến binh, cựu quân nhân đã từng sống, chiến đấu, công tác và học tập tại Quân đoàn đang háo hức chờ ngày được hội tụ để chung vui truyền thống. Nhưng vì cuộc chiến mới của cả Thế giới,chúng ta tạm gác lại niềm vui gặp mặt để cùng nhân dân cả nước chung tay dập tắt Đại dịch toàn cầu. Mong sớm có ngày gặp lại nhau niềm vui sướng chắc sẽ trọn vẹn hơn nhiều. Những ngày này học sinh, sinh viên nhiều nơi đang phải tập học qua mạng công nghệ, vậy chúng mình cũng nhờ mạng công nghệ thông tin này kể cho nhau nghe những kỷ niệm thời cùng sống để nhớ tới nhau. Xin gửi tới các cựu thủ trưởng, các anh chị em cựu quân nhân của quân đoàn bộ một kỷ niệm nhỏ mà mình không bao giờ quên dù năm tháng đã qua đi khá lâu rồi.
Cuối năm 1988, từ Gia Lai nơi Quân đoàn 3 đóng quân, tôi được nghỉ phép năm về khu tập thể mỏ than Khánh Hòa, tỉnh Thái Nguyên nơi vợ đang dạy học tại trường phổ thông cấp 1 Khánh Hòa đúng dịp sinh cháu thứ hai. Cũng như nhiều anh chị em khác, ngày ấy có tên gọi là thời kỳ GIÁ LƯƠNG TIỀN, lương sĩ quan trung cấp (Thiếu tá) và lương giáo viên phổ thông cùng chế độ tem phiếu, sổ gạo thì đời sống khó khăn thế nào, nhất là với những người lính đóng quân xa nhà như chúng tôi.
Một buổi trưa, tôi đang lúi húi sửa chữa mái căn bếp bị dột nước mỗi khi trời mưa thì hàng xóm gọi vọng sang: Ông Hoan ơi lên đón khách này. Tôi vội vã chạy lên nhà trên thì thật bất ngờ, trước mắt tôi là Thiếu tướng Khuất Duy Tiến Tư lệnh và Thiếu tướng Tiêu Văn Mẫn phó Tư lệnh về chính trị (Chính ủy) Quân đoàn. Nhân dịp ra làm việc ngoài Bộ Quốc phòng lên kiểm tra đội than 84 của Quân đoàn ( Hồi ấy được sự đồng ý của BQP và sự quan tâm của địa phương cho đơn vị thành lập đội khai thác than thủ công tại mỏ Khánh hòa để phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho đơn vị với phiên hiệu là đội 84), xong việc các thủ trưởng ghé thăm gia đình của tôi. Ngồi trong gian nhà tập thể chật trội, bàn ghế đơn sơ, xộc xệch tôi quá ái ngại mà các thủ trưởng thì cứ vui cười chuyện trò, thăm hỏi sức khỏe vợ con và sinh hoạt cửa gia đình. Tôi thành thật kể cho các thủ trưởng nghe mọi chuyện và hứa hết phép sẽ trở vào đơn vị công tác. Thấy hai thủ trưởng ghé tai nhau trao đổi nho nhỏ, rồi Tư Lệnh Tiến lấy giấy bút ghi chép gì đó xong đưa cho tôi mảnh giấy và nói: “Bộ tư lệnh trợ cấp cho đồng chí 20 kg gạo đỡ phần nào khó khăn trước mắt. Hôm nào rảnh qua hậu cứ của Quân đoàn bên Đồng Bẩm mà nhận nhé”. Cầm tờ giấy trên tay mà cả hai vợ chồng tôi đều rân rấnnước mắt.
Mấy hôm sau nhân dịp xe của đội 84 sang nhận hàng, tôi đi nhờ qua hậu cứ của Quân đoàn. Cầm tờ lệnh tôi đưa cho anh Định (Nguyên trưởng phòng Cán bộ Quân đoàn) làm chỉ huy trưởng hậu cứ, đọc xong anh bảo: “Tớ sẽ cho cậu vay thêm vài chục ký nữa, nay mai vào Gia Lai tìm cách trả lại cho bếp Quân đoàn bộ”. Đắn đo mãi tôi mới dám đề xuất: “Vậy thì anh cho em vay thêm 80 kg cho tròn hai bao, em hứa vào sẽ báo cáo và trả đầy đủ cho đơn vị”. Về tới nhà vần hai bao tải gạo (100 kg) xuống cửa, hàng xóm ngạc nhiên như là chuyện lạ.
Hết phép trở về đơn vị làm việc, tâm sự với anh em cùng là trợ lý phòng Tác chiến. Bộ Tham mưu, ai cũng xúc động trước sự quan tâm của thủ trưởng Quân đoàn đối với không ít cấp dưới có hoàn cảnh khó khăn như tôi. Những ngày sau đó chưa tìm được cách trả nợ cho bếp cơ quan thì có đợt Quân đoàn trợ cấp bằng gạo cho các đồng chí sĩ quan có gia đình ở ngoài Bắc. Cùng cơ quan với tôi có anh Tạ Ngọc Oanh (Sau này cũng là Đại tá Quân đội đã nghỉ hưu nay ở Hà Nội), Trung tá Ngô Như Sao (Người Phú Bình,Thái Nguyên đã mất) và Phạm Duy Phê (Sau này là Đại tá tùy viên Quân sự VN ở Nam Phi đã nghỉ hưu nay ở Hải Dương) đã tặng tôi tiêu chuẩn gạo được trợ cấp để tôi trả lại vừa đủ số gạo đã vay tại hậu cứ khi mà chính gia đình các anh cũng chẳng khá giả gì. Năm tháng qua đi, các thủ trưởng và các đồng đội của tôi ngày ấy đều đã trưởng thành trên những cương vị công tác cao hơn trong Quân đội nay đều đã về với cuộc sống đời thường cùng gia đình, con cháu, quê hương nhưng truyền thống và tình cảm đồng chí , đồng đội mãi mãi là tài sản vô giá sống mãi trong mỗi chúng tôi.