CHIẾN DỊCH ĐẮC TÔ NĂM 1967

NHỮNG CHIẾN DỊCH LỚN TẠI CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN TRONG NHỮNG NĂM ĐÁNH MỸ

Trong các chiến dịch diễn ra ở Tây Nguyên cũng như trên toàn miền Nam tính đến thời điểm tháng 11/1967 thì Chiến dịch ĐẮC TÔ năm 1967 là một chiến dịch ta tiêu diệt được nhiều lính Mỹ nhất . Trang Lính Tây Nguyên xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Chiến dịch vẻ vang này.

CHIẾN DỊCH ĐẮC TÔ NĂM 1967

Thực hiện nhiệm vụ của Quân ủy Trung ương và Quân khu 5 giao cho lực lượng vũ trang Tây Nguyên trong đông xuân 1967-1968. Ngày 10-9 - 1967 , Đảng ủy , Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định mở chiến dịch Đắc Tô . Mục đích của ta là : Nhử địch vào thế trận ta đã chuẩn bị sẵn, tiêu diệt từng tiểu đoàn Mỹ phản kích, phản đột kích ứng chiến bằng đường bộ và đổ bộ đường không, tiến tới đánh thiệt hại nặng đơn vị lớn hơn của chúng; thực hiện tiến công liên tục đánh vào toàn bộ đội hình chiến dịch của địch, bao vây chia cắt chiến dịch, đánh cả phía trước và phía sau, đánh vào các căn cứ hành quân chiến dịch của địch, vận dụng chiến thuật linh hoạt, kiên quyết bám trụ, vận dụng cách đánh gần, đánh chồng, đánh bồi của các binh chủng; bố trí đội hình chiến dịch có chiều sâu, có đội dự bị mạnh, có chốt chiến dịch vây hãm và uy hiếp địch buộc chúng phải ra khu quyết chiến để ta đánh tiêu diệt. Phối hợp chặt chẽ giữa quân sự, chính trị, tác chiến và địch vận".
KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN CỦA TA CỤ THỂ NHƯ SAU
Trước hết là, sử dụng Đại đội 1 của Trung đoàn 40 pháo binh cùng với Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 bộ binh đưa pháo lên chốt ở Ngọc Bờ Biêng , biến đây thành nơi thu hút quân địch , buộc quân Mỹ phải ra giải tỏa để ta tiêu diệt . Đồng thời bố trí lực lượng ở khu vực Cao điểm 875 biến nơi đây thành điểm quyết chiến của chiến dịch vì đây là nơi có dải địa hình và các điểm cao nằm ở trung tâm không gian chiến dịch, mà Cao điểm 875 lại là một trong những điểm cao tương đối đột xuất, khống chế các vùng xung quanh; đồng thời cũng là cao điểm xa các trận địa pháo binh Đắk Mót - Plei Cần của Mỹ. Theo kế hoạch điểm cao 875 được ta xây dựng thành một trận địa phòng thủ kiên cố có hệ thống hầm hào vững chắc sâu tới hàng chục m ,tránh được bom pháo địch . Ta dự kiến khi quân Mỹ đổ quân vào sâu, phải lần lên đánh điểm cao, sẽ tạo được thời cơ để ta tiêu diệt.
Khu vực tiến công chủ yếu ở tây nam Đắc Tô (phía nam sông Pô Kô và đường 18) từ Ngọc Bơ Biêng, Ngọc Kom Liệt đến nam điểm cao 875, do sư đoàn bộ binh 1 đảm nhiệm .
Hướng và khu vực tiến công thứ yếu ở đông bắc Đắc Tô, gồm các điểm cao của dãy Ngọc Lan, Ngọc Sịa, điểm cao 1323, 1030 và quận lỵ Đắc Tô do trung đoàn 24 (thiếu tiểu đoàn 6), tiểu đoàn 304, 2 đại đội đặc công, 1 đại đội cối, 1 đại đội công binh (thiếu) của tỉnh đảm nhiệm. Có nhiệm vụ đánh vào sau đội hình địch, tiêu diệt từng tiểu đoàn VNCH, từng đại đội Mỹ, dùng lối đánh nhỏ uy hiếp Tân Cảnh, khống chế sân bay Đắc Tô, đường 14 (đoạn nam, bắc Tân Cảnh) nhằm phân tán địch, hỗ trợ cho hướng chủ yếu.
Các hướng nghi binh và phối hợp, ở Gia Lai, do trung đoàn 95, tiểu đoàn 101, 1 tiểu đoàn pháo cối hỗn hợp (6 ĐKZ 75mm, 4 cối 120mm, 4 cối 82mm) cùng lực lượng vũ trang địa phương đảm nhiệm; ở Đắc Lắc do trung đoàn 33 (thiếu), 1 tiểu đoàn bộ binh, 2 đại đội đặc công và 1 đại đội cối 82mm cùng các lực lượng vũ trang địa phương đảm nhiệm.
DIỄN BIẾN CHIẾN DỊCH
TỪ NGÀY 3 ĐẾN NGÀY 6/11
Sau khi phát hiện sự xuất hiện bộ đội chủ lực của ta ở Kon Tum . Ngày 2 tháng 11, Mỹ đổ quân lên Đắk Tô, thiết lập hai trận địa pháo ở Plei Cần và Đắk Mót. Trung đoàn 320 - Sư đoàn 1 được lệnh gấp rút chiếm Ngọc Dơ Lang. Khi Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 320) vừa hành quân tới Ngọc Dơ Lang thì một tiểu đoàn bộ binh Mỹ cũng đến Ngọc Rinh Rua. 2 bên tranh chấp muốn chiếm điểm cao nên đã diễn ra một trận chiến rất ác liệt . Chiều ngày 3 tháng 11, Mỹ dùng máy bay lên thẳng đổ tiếp một tiểu đoàn bộ binh xuống khu đồi tranh phía đông dãy Ngọc Bờ Biêng khoảng 500m và tiến lên trận địa chốt của Đại đội 11, Tiểu đoàn 6. Sư đoàn bộ binh số 4 Hoa Kỳ quyết định tấn công Sư đoàn 1 trước, dựa vào tin của một hàng binh từ Sư đoàn 1 cung cấp. Lúc này, Sư đoàn 1 đã bố trí trận địa sẵn sàng nhưng bị bất ngờ vì thời điểm đối phương tấn công tới nơi (theo kế hoạch thì Sư đoàn 1 sẽ nổ súng vào ngày 5 ). Bộ đội đang đào công sự lập tức chuyển sang chiến đấu. Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 320) lập tức cho 2 khẩu pháo 75mm bố trí ở Ngọc Bơ Biêng bắn vào sân bay Đắc Tô 2, để khêu ngòi. Phát hiện pháo của ta từ Ngọc Bờ Biêng bắn vào sân bay , quân Mỹ phản ứng tức khắc cho đổ 2 đại đội xuống điểm cao 882 , Ngọc Dơ Lang, 2 đại đội xuống Ngọc Non, đồng thời triển khai lực lượng pháo binh nhằm tiến công vào khu chốt của ta ở Ngọc Tăng, Ngọc Bơ Biêng. Qua trinh sát kỹ thuật ta phát hiện quân Mỹ dùng lữ đoàn 173 dù và lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 4 phản kích trên 2 hướng tây, tây nam Tân Cảnh và sẽ hợp vây tại khu vực điểm cao 875. Bộ tư lệnh lệnh Mặt trận lệnh cho các đơn vị khu chốt chiến dịch kiên quyết chặn địch, sư đoàn 1 giữ kín lực lượng, chờ địch vào khu chiến để tiêu diệt . 15 giờ 30 phút ngày 3 tháng 11, trên mỏm đồi yên ngựa dãy Ngọc Bờ Biêng, Tiểu đội 7, Đại đội 11, mở màn chiến dịch Đắk Tô bằng trận đánh quyết liệt với hai đại đội Mỹ trước chiến hào đơn vị. Các chiến sĩ nhảy lên chiến hào thu hai súng trường, một súng M79. Đây là những khẩu súng chiến lợi phẩm đầu tiên của chiến dịch.
Sáng sớm ngày 4 tháng 11, quân Mỹ ném bom đào, bom napalm và chất độc hóa học làm nhiều đoạn chiến hào của đại đội 11 bị san phẳng. Quân Mỹ bắt đầu tiến công lên chốt, song mỗi lần tiến công chúng đều bị đánh bật trở lại, sau mỗi lần như vậy chúng lại gọi không quân giội bom xuống. Suốt ngày quân Mỹ đã tổ chức 8 đợt tiến công để chiếm chốt, Tiểu đội 7 có một số chiến sĩ bị thương vong, nhưng cuối cùng ta vẫn giữ được chốt.
Ngày 5 tháng 11, một đại đội bộ binh Mỹ bất ngờ ập đến trận địa chốt thứ hai của Đại đội 11 ở Ngọc Tang. 2 bên dùng lưỡi lê, báng súng, lựu đạn đánh giáp lá cà. Cùng với những trận đánh của bộ binh, đại đội pháo binh 1 đã dùng 2 khẩu sơn pháo 75mm bắn phá Đắk Tô. Trung đội ĐKZ ở Ngọc Tang cùng lúc vừa chặn quân Mỹ tràn xuống, vừa bắn vào sân bay đã gây thiệt hại lớn cho địch . Trung đoàn 320 và Trung đoàn 66 chặn đánh quân Mỹ ở Điểm cao 724, 823 và pháo kích vào Ngọc Rinh Rua, tiêu diệt và tiêu hao 3 đại đội Mỹ, bắn rơi 2 trực thăng.
Ngày 6 tháng 11, một số đại đội của Lữ đoàn 173 QĐHK chiến đấu với Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66) . 13 giờ ngày 6/11, Mỹ đổ tiếp 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 503 lữ đoàn 173 xuống các điểm cao: 823, 845, 882 ở dãy Ngọc Kom Liệt, hình thành 2 mũi tiến đánh vào sườn Sư đoàn 1 .Các chốt chiến thuật của trung đoàn 66 ở khu vực này đánh thiệt hại nặng đại đội D (Delta), bắn rơi 2 máy bay lên thẳng, thu 4 súng và 1 máy vô tuyến. Liền sau đó 2 đại đội của tiểu đoàn 4, trung đoàn 503 Mỹ đổ bộ xuống chân điểm cao 823 và đánh chiếm điểm cao này bị lực lượng trinh sát của trung đoàn 66 diệt 60 . Trong 2 ngày (6, 7 tháng 11), trung đoàn 66 tổ chức tập kích và pháo kích vào điểm cao 823, buộc tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 503 Mỹ phải bỏ điểm cao này rút về dãy Ngọc Kom Liệt. Cùng thời gian trên, tại Ngọc Dơ Lang, ngày 6/11 , 2 đại đội Mỹ từ điểm cao 882 tiến công chốt của đại đội 9 (tiểu đoàn 6) ở điểm cao 843 . Cuộc chiến ở đây diễn ra rất quyết liệt , ta và địch giành giật với nhau từng m giao thông hào . Song do lực lượng mỏng lại bị bom , pháo địch . Cuối cùng chúng đã chiếm được điểm cao 843 . Ngày 7, lính Mỹ từ điểm cao 843 tiến về điểm cao 724 bị đại đội 9 thuộc tiểu đoàn 6, trung đoàn 320 vận động tiến công, diệt 10 lính, thu 6 súng của đại đội C (Charlie), tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 Mỹ, số lính Mỹ còn lại co cụm ở điểm cao 724. Sau 3 ngày cho đến ngày 9, các đơn vị QĐHK đã chiếm được một số vị trí then chốt mà họ muốn ở khu vực có Sư đoàn 1 . Bộ tư lệnh Mặt trận nhận định cả hai cánh quân Mỹ đều bị chặn đánh, nhưng có khả năng lính Mỹ còn tiến sâu hơn nữa nên lệnh cho trung đoàn 174 hành quân ra khu vực tây nam Lăng Lố Kram chuẩn bị chiến đấu. Chỉ thị cho hướng thứ yếu đánh mạnh vào Đắc Tô - Tân Cảnh và đường 14.
TỪ NGÀY 8 ĐẾN NGÀY 12/11
Ngày 8, Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 320) đột kích Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 4) QĐHK. Suốt các ngày 8 đến ngày 10 tháng 11, Quân Mỹ tấn công mạnh vào vị trí của Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 24) . Tối 8 tháng 11, tiểu đoàn 4 và đại đội 10 của tiểu đoàn 6, trung đoàn 320 tập kích lính Mỹ ở điềm cao 724 . Đang hành quân tiếp cận điểm cao 724 , Tiểu đoàn 4 gặp địch di chuyển ra phía tây lập tức tổ chức vận động tiến công, diệt 100 lính, đánh thiệt hại nặng đại đội A và đại đội B của tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 lữ đoàn 1 Mỹ. Để chi viện cho trung đoàn 320 đánh địch, sư đoàn 1 đã tổ chức cối 120mm và ĐKZ 75mm pháo kích vào Ngọc Rinh Rua và điểm cao 823, phá hủy 2 khẩu pháo, 2 máy bay lên thẳng, diệt 50 tên lính Mỹ. Từ ngày 7 đến 10 tháng 11, tại Ngọc Kom Liệt, do bị tiến công dồn dập nên tiểu đoàn 4 thuộc trung đoàn 503 Mỹ từ điểm cao 823 hành quân về phía tây. Tiểu đoàn 7 của trung đoàn 66 được các chốt trinh sát yểm hộ, vận động tiến công tiêu diệt gần hết tiểu đoàn Mỹ này. Một số ít còn lại bị tiểu đoàn 8 của trung đoàn 66 tiêu diệt.
Lữ đoàn 173 QĐHK sau khi lần lượt đổ quân xuống Cao điểm 823, 845, 882 trên dãy Ngọc Cam Liệt, bắt đầu tiến công vào sườn phải Sư đoàn 1 mục đích để tiến lên chiếm cao điểm 875. Bộ Tư lệnh Mặt trận lập tức chỉ đạo Trung đoàn 66 và Trung đoàn 320 đánh tiêu diệt địch trên khu quyết chiến Ngọc Cam Liệt và Ngọc Dơ Lang . Để cứu nguy, 12 giờ ngày 11 tháng 11, 2 đại đội A và B thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 503 Mỹ từ Ngọc Kom Liệt tiến xuống, nhưng bị tiểu đoàn 8 và đại đội 12,7mm của trung đoàn 66 chặn đánh và tiêu diệt. Tổng số lính Mỹ bị diệt khoảng 400 lính, ta thu 21 súng các loại, 6 vô tuyến điện; Mỹ phải dùng máy bay (cả B52) ném bom thiêu hủy và buổi chiều chúng đổ tiếp tiểu đoàn 2 của trung đoàn 503 xuống điểm cao 845. 14 giờ cùng ngày, tại Ngọc Dơ Lang, tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 Mỹ cho 2 đại đội đánh ra phía tây để phối hợp với lực lượng Mỹ ở điểm cao 724, bị tiểu đoàn 5 thuộc trung đoàn 320 vận động tiến công diệt gọn đại đội B, tiêu hao nặng đại đội D, diệt 120 tên, số còn lại co về cụm ở điểm cao 724. Các trận đánh của 2 trung đoàn 66 và 320 thắng lợi đã chứng minh: với hình thức chiến thuật "chốt kết hợp vận động", ta có thể đánh liên tục dài ngày dưới phi pháo ác liệt của Mỹ để giành thắng lợi. Đây là trận then chốt đầu tiên của chiến dịch, làm cho quân Mỹ không thực hiện được ý đồ chia cắt chiến dịch. Diễn biến những ngày đầu chiến dịch chứng minh những phán đoán và dự kiến của Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên là đúng, đã nhử được Lữ đoàn 173 và Sư đoàn 4 QĐHK vào "bẫy" ở Đắk Tô.
Trước tình thế Lữ đoàn 173 và Sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ bị thiệt hại lớn, Bộ chỉ huy Mỹ phải tung lực lượng dự bị gồm: hai tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Không Kỵ số 1 và Chiến đoàn Dù 3 VNCH sớm vào vòng chiến. Quân Mỹ tiếp tục đổ quân xuống khu vực Plei Cần và Ngọc Cam Liệt, với ý định chia cắt đội hình của ta và sẽ hợp vây chiến dịch ở khu vực Cao điểm 875. Ngày 12, quân Mỹ dùng B-52 và pháo đánh phá vị trí của các Trung đoàn 66 và 320 . Không quân Mỹ phải dùng mỗi ngày tới 700 lần chiếc máy bay B-52 và máy bay phản lực ném bom xuống Đắk Tô.
Sáng 12 tháng 11, sau khi không quân và pháo binh bắn phá, lữ đoàn dù 173 Mỹ đổ 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn 503 xuống điểm cao 845. 10 giờ lính Mỹ phản kích lên điểm cao 882. Tiểu đoàn 3 của trung đoàn 174 xuất kích kết hợp chốt diệt 2 trung đội thuộc đại đội A. Lực lượng còn lại chạy về điểm cao 845. Theo tin trinh sát kỹ thuật của ta , ngày 12 tháng 11, tiểu đoàn 2 thuộc lữ đoàn 1 kỵ binh không vận và chiến đoàn dù 3 QLVNCH đã đến thị xã Kon Tum. Tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 12 lữ đoàn 1 sư đoàn 4 tiến ra nam Ngọc Dơ Lang. Bộ tư lệnh Mặt trận nhận định: thế trận của địch đã rối loạn nên quyết định tổ chức lực lượng kiềm chế cánh quân của lữ đoàn 1 sư đoàn 4; diệt cánh quân của lữ đoàn dù 173; dùng ĐKZ và cối 82mm kiềm chế địch ở Ngọc Dơ Lang
TỪ NGÀY 13 ĐẾN NGÀY 16/11
Ngày 13, các đơn vị hai phía giáp chiến ở một số nơi, song hỏa lực chủ yếu là do B-52 dội xuống. Ta quyết định tổ chức một lực lượng giữ chốt , lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 6 Tây Ninh trên dãy Ngọc Bờ Biêng xuất kích đánh vào Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 1 Mỹ gây tổn thất khá lớn cho lực lượng này . Ngày 14 , ta sử dụng 3 Trung đoàn 66 , 174 và 320 đánh Lữ đoàn 173 , các đơn vị của Lữ đoàn 173 QĐHK bị thiệt hại nặng nên đã phải rút khỏi khu vực điểm cao 845. Vị trí này ta cố tình không đánh trước đó với mục tiêu thu hút đối phương về đó . Hai ngày 13 và 14 tháng 11, lính Mỹ tiếp tục đánh lên điểm cao 882, tiểu đoàn 8-trung đoàn 66 liền tổ chức đánh trả , loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên Mỹ, thu 6 súng, làm chủ trận địa. Để chi viện cho trung đoàn 174, sư đoàn 1 dùng cối 120mm bắn vào điểm cao 823 tiêu hao nặng đại đội C thuộc tiểu đoàn 4 trung đoàn 503, chặn đứng hỏa lực Mỹ bắn vào điểm cao 882. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến thuật, trung đoàn 174 rút tiểu đoàn 3 và một bộ phận của tiểu đoàn 1 về hai bên sườn điểm cao 875.
Cùng thời gian, từ ngày 12 đến 16 tháng 1, đại đội sơn pháo 75mm của ta tập kích 4 trận bằng hỏa lực (16 giờ ngày 12, 8 giờ và 15 giờ ngày 15, 8 giờ ngày 16) vào căn cứ tiền phương của sư đoàn 4 Mỹ ở Tân Cảnh, sân bay Đắc Tô diệt khoảng 350 tên, phá hủy 3 máy bay C130, 4 xe quân sự, 2 kho xăng, 1 kho đạn. Ở hướng đông bắc Đắc Tô, trung đoàn 24 cùng bộ đội tỉnh tiến công quận lỵ Đắc Tô và Tân Cảnh, chặn đánh các toán quân ứng cứu giải tỏa của Mỹ. Điển hình là các trận của trung đoàn 24 ở Ngọc Sịa ngày 14 tháng 11, ở Tân Cảnh ngày 16 tháng 11, trận phục kích của công binh, trinh sát chiến dịch ở Plây Cần (đường 18), của tiểu đoàn 304 ở Võ Định trên đường 14 ngày 14 tháng 11.
Trên hướng Đường 18 và đông bắc Đắk Tô, Trung đoàn 24 chủ lực tại chỗ cùng công binh và bộ đội địa phương Kon Tum đã tiến công vào quận lỵ Đắk Tô, thị trấn Tân Cảnh, chặn đánh đoàn xe vận tải chở quân ứng cứu của Mỹ, buộc quân Mỹ phải phân tán đối phó cả ở phía sau. Nổi bật nhất là trận đánh của trung đoàn 24 ở Ngọc Xia (14 tháng 11), Tân Cảnh (16 tháng 11), Cao điểm 1030, 1423 và Ngọc Van (17, 19 tháng 11) đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn Mỹ, phá hủy nhiều xe quân sự. Vào đêm 12 tháng 11, đồng thời lúc này ta dùng pháo tấn công sân bay Đắk Tô. Ngày 15 tháng 11, ta tiếp tục dùng súng cối phá hủy 2 chiếc C-130 Hercules trên đường băng. Đêm 15/11 ta tiếp tục bắn pháo vào sân bay trúng một container chất nổ, các vụ nổ dây chuyền đã phá hủy hơn 1.100 tấn đạn dược của Mỹ tại đây.
Sau những cố gắng tiến công chia cắt đội hình đối phương ở khu vực Ngọc Cam Liệt và Ngọc Dơ Lang không thành công, Bộ chỉ huy Mỹ buộc phải tìm cách chiếm cho được Cao điểm 875 làm bàn đạp khống chế, thực hiện đòn đánh vu hồi vào sau lưng đội hình chiến dịch của ta .
TỪ NGÀY 17 ĐẾN NGÀY 20/11
Ngày 17 tháng 11, hai Tiểu đoàn 1 và 2 thuộc Lữ đoàn 173 QĐHK bắt đầu tiến công để chiếm Cao điểm 875. Khi quân Mỹ chưa đến 875 đã bị Trung đoàn 66 chặn đánh, diệt từng bộ phận; Tiểu đoàn 2 QĐHK tiếp tục tiến lên 875. Nhưng tại đây, Đại đội 7 thuộc Trung đoàn 174 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã bí mật xây dựng cao điểm thành điểm chốt kiên cố. Khi quân Mỹ tiến lên, Đại đội 7 nổ súng chặn đứng được đội hình Mỹ trước chiến hào, một bộ phận xuất kích đánh tạt sườn đã tiêu diệt một số địch. Sư đoàn 1 tổ chức pháo kích trận địa hỏa lực của Mỹ ở nam Ngọc Dơ Lang, điểm cao 530, phá hủy 5 pháo 105mm, 3 cối 106,7mm. 13 giờ ngày 17 tháng 11, 1 trung đội của đại đội 11, tiểu đoàn 6 phòng ngự ở điểm cao 1338 đã đánh bại 10 đợt phản kích của QDDHK, diệt 100 lính Mỹ.
Sáng 18 tháng 11, hai tiểu đoàn 1 và 2 của trung đoàn 503 Mỹ chia làm 2 mũi tiến công về điểm cao 875; tiểu đoàn 1 Mỹ tiến theo sườn tây bắc điểm cao 882, đến 13 giờ 30 phút bị tiểu đoàn 8 và 1 đại đội của tiểu đoàn 9 thuộc trung đoàn 66 chặn đánh và ghìm chặt tại đây , diệt 90 tên, thu 6 súng. Tiểu đoàn 2 Mỹ từ cao điểm 845 tiến chiếm đồi "biệt kích" ở tây bắc điểm cao 875 khoảng 1 km để tạo bàn đạp đánh sang 875. Cùng thời gian, ở đông 875, hai đại đội biệt kích, thám báo từ bãi Le tổ chức tiến công vào điểm cao 875. Từ lúc 8 giờ 30 phút ngày 18 đến 11 giờ ngày 19, đại đội 7 của tiểu đoàn 2 đã chịu đựng hỏa lực phi pháo ác liệt của Mỹ (có cả B52), liên tục đẩy lùi các đợt tiến công của Mỹ, giữ vững 875. Trong lúc lính Mỹ đang tập trung lực lượng đánh lên 875, tiểu đoàn 2 (thiếu đại đội 7) và 1 đại đội của tiểu đoàn 1 trung đoàn 174 bí mật vận động tiếp cận đội hình Mỹ từ bên sườn và phía sau. 14 giờ ngày 11, sau khi bắn 30 quả đạn cối vào sở chỉ huy Mỹ, 4 mũi của ta đồng loạt xung phong vào đội hình lính Mỹ đang tập trung ở đồi Yên Ngựa, dưới chân điểm cao 875. Bị đánh bất ngờ, đội hình Mỹ rối loạn. Chớp thời cơ, đại đội 7 từ điểm cao 875 cũng xuất kích đánh xuống. Đến 17 giờ, phần lớn lính Mỹ bị tiêu diệt, số còn lại bỏ chạy bị trúng bom và đạn pháo của Mỹ chết một số. Trận đánh đã loại khỏi vòng chiến 300 tên Mỹ, ta thu 18 súng AR15 và 6 máy thông tin vô tuyến điện. Sau đó trung đoàn cho đại đội 7 chốt lại tại điểm cao 875, còn trung đoàn rút về phía sau củng cố.
Không chiếm được cao điểm, quân Mỹ lại cho từng tốp B-52 và phản lực liên tiếp giội bom gần như san phẳng ngọn đồi, rồi lại tiến lên, nhưng lại bị Đại đội 7 đánh bật xuống. Trước chiến hào, quân Mỹ bắn xối xả, lựu đạn Mỹ ném vào chiến hào, bộ đội nhặt ném trả lại. Giao tranh ác liệt gây thương vong lớn cho cả hai bên. Tổ chiến đấu 3 người gồm Phùng Quang Chí, Bùi Xuân Lộc và Đỗ Văn Chuyên (thuộc đại đội 7) đã đẩy lùi hàng chục đợt phản công chỉ bằng B-40, súng AK và lựu đạn, tiêu diệt được 102 tên Mỹ, lập kỷ lục về thành tích diệt địch của một tổ 3 người trong một trận chiến đấu
Trên hướng đông bắc Đắc Tô - Tân Cảnh, trung đoàn 24 và lực lượng vũ trang tỉnh Kom Tum đã đánh sâu vào thị xã Kon Tum và thị trấn Tân Cảnh, đường 14, tiêu diệt nhiều lính Mỹ, hoàn thành nhiệm vụ phối hợp chiến dịch. Trong các ngày 17, 18, 19 tháng 11, chiến sự xảy ra ác liệt tại Ngọc Lan: 7 giờ ngày 17, tiểu đoàn 3 dù VNCH tiến công vào chốt của đại đội 7 thuộc tiểu đoàn 5 trung đoàn 24 , bị đánh thiệt hại nặng, Mỹ liền đưa tiểu đoàn 2 vào tiến công, bị 2 đại đội của tiểu đoàn 5 đánh bật xuống chân đồi, diệt hơn 100 lính, số còn lại cụm tại chỗ không dám tiến công. 5 giờ ngày 19, tiểu đoàn 5 bất ngờ tập kích cụm quân Mỹ này, diệt 170 lính. 2 tiểu đoàn dù VNCH bị thiệt hại nặng, QLVNCH đưa tiểu đoàn 23 biệt động quân và tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 23 biệt động quân và tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 42 lên cứu nguy, nhưng tiểu đoàn 5 đã hoàn thành nhiệm vụ phối hợp chiến dịch và rời khỏi khu vực Ngọc Lan.
Ngày 19 tháng 11, trong lúc quân Mỹ đang bị kìm chặt ở khu vực Cao điểm 875, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định dùng Trung đoàn 174 từ các hướng đã chuẩn bị sẵn, thực hành trận vận động tiến công vào Tiểu đoàn 2 của Mỹ , sau hơn 1 giờ chiến đấu Trung đoàn 174 đã đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn này . Ngày 20, Trung đoàn 174 phục kích diệt thêm một số tên Mỹ, bắn rơi 12 máy bay lên thẳng khi đến lấy xác lính Mỹ. Trong tổng số 570 lính Mỹ tham chiến ở đồi 875, 123 lính đã chết và 252 bị thương .
Ngày 20 tháng 11, tiểu đoàn 2 của trung đoàn 8, lữ đoàn 1 Mỹ đổ bộ xuống bãi Le và tổ chức 7 lần tiến công lên điểm cao 875 nhưng đều bị đại đội 7 đánh bật trở lại ; cho đến 12 giờ ngày 22 tháng 11, đại đội 7 vẫn giữ vững chốt. Chủ trương của Bộ tư lệnh chiến dịch là khi giải quyết xong thương binh, liệt sĩ sẽ bỏ chốt. Thực hiện ý định đó, 18 giờ 40 phút ngày 22, ta bỏ chốt 875, chỉ để 1 trung đội 12,7mm và 1 trung đội cối 82mm cơ động kiềm chế địch. Đến 24 giờ, lính Mỹ lên được 875 thì quân ta đã rút khỏi đây .
Đến ngày 27 tháng 11, tại Cao điểm 875 ta lại diệt gọn một đại đội dù Mỹ, kết thúc chiến dịch Đắk Tô. Bộ chỉ huy Mỹ cho máy bay ồ ạt lên ném bom napal trong một phạm vi rộng để tiêu hủy trận địa. Ngày 28, lực lượng dự bị của Lữ đoàn 173 cùng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 12 QĐHK tới tham chiến, nhưng ta đã chủ động rút lui từ trước .
KẾT QUẢ
Như vậy sau hơn ngày diễn ra chiến dịch ( từ 3/11 đến 27/11/1967 ) ta đã loại khỏi vòng chiến 4.570 lính đối phương, có 4.030 lính Mỹ; phá hỏng 3 sân bay, bắn rơi và phá hủy 70 máy bay, phá hủy 18 khẩu pháo, 52 xe quân sự có 16 xe thiết giáp, 2 kho đạn, 3 kho xăng, thu 104 súng các loại và 17 máy vô tuyến điện; diệt gần hết 2 tiểu đoàn Mỹ, đánh thiệt hại nặng 6 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Mỹ) và 6 đại đội (có 2 đại đội Mỹ); đánh quỵ lữ đoàn 173 dù-VNCH, đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 4 Mỹ . Có thể nói đây là một chiến dịch đạt hiệu suất chiến đấu cao . Chưa có một chiến dịch nào từ trước tới nay ở Tây Nguyên lính Mỹ bị tiêu diệt nhiều như chiến dịch này . Sau chiến dịch này Quân và dân Tây Nguyên được tặng thưởng 2 Huân chương Quân công hạng 2 và hạng 3 .
( Nguồn Tư liệu )



    

SỐT RÉT Ở TÂY NGUYÊN

Những người Lính đã từng sống chiến đấu ở Tây Nguyên không ai có thể quên được những trận sốt rét . Nó thật khủng khiếp chẳng khác gì bom đạn địch . Nhớ Tây Nguyên , trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu với các bạn bài SỐT RÉT Ở TÂY NGUYÊN của nhà văn Nguyễn Trọng Luân.

SỐT RÉT Ở TÂY NGUYÊN
Nguyễn Trọng Luân

Vài chục năm rồi mà vẫn không quên được sốt rét. Sốt rét là nỗi nhớ rừng. Nhớ cay đắng nhớ khốn khổ cái không gian cái màu sắc cái hoang mang và lơ mơ hụt hẫng của mình trong trận sốt. Chả biết các đồng đội khi sốt nhìn xung quanh màu gì chứ còn tôi tôi thấy toàn màu vàng. Trời vàng ểnh, nước vàng tái, cây cối vàng thiu thiu. Còn đồng đội xung quanh, tôi nhìn thấy ai cũng vàng nhun nhủn. Lạ thế, khi sốt màu sắc tôi cảm nhận được đều có mùi và mềm oằn oặt. Người sốt rét nhiều quá nước tiểu vàng, mắt vàng da dẻ vàng đến cái lưỡi cũng vàng khè. Đến khi bị ác tính thì da không vàng được nữa mà chuyển sang trắng ngai ngái như sáp ong, đôi mắt đờ dại, đi đái không ra nước tiểu mà lẫn máu tươi thế rồi chết cứ mở mắt trừng trừng .
Nhiều kiểu sốt lắm. Sốt liên miên ngày này qua ngày khác. Sốt cách nhật cứ ngày sốt ngày không. Sốt có khi chỉ về đêm, có người chỉ sốt ban ngày. Riêng tôi cứ 1 giờ chiều là sốt.
Có người sốt là nôn. Nôn váng cả rừng mà cứ phải oẹ ầm ầm lên nó mới đỡ. Nhưng cũng có anh li bì nằm không một tiếng động. Có anh rên hừ hừ từ lúc sốt đến lúc cắt cơn. Rên đến mức võng đung đưa, giường kêu cọt kẹt, rên to đến nỗi muỗi không đốt được. Hay thật .
Tháng nào cũng phải một lần. Cơn sốt cứ đúng chu kì như gái hành kinh. Chịu không hiểu sao lại thế. Chuẩn bị sốt là biết. Người ăn khoẻ hơn , bụng đói hơn mà ăn cái gì cũng ngon. Anh nào sốt cũng thèm của chua y hệt gái ăn dở. KHốn nỗi người ngoài nhìn mấy anh sắp sốt cứ như người giả vờ, nó ngoặt ngoẹo lử khử lừ khừ, mắt thì cứ vằn lên nhưng chân tay thì lười động đậy .
Có anh hễ đã sốt là tới 40 độ, 40 độ 5 và mồ hôi như tắm rồi cắt sốt rất nhanh. Cũng có anh chỉ 38, 39 độ liên miên vài ngày. Cắt sốt là ăn khoẻ như trâu. Nhưng ở Tây Nguyên lấy gì mà ăn cơ chứ. Thế là sốt xong mò mẫm đi tìm cái mà ăn. Quanh viện của trung đoàn , sư đoàn vật vờ đầy những cái bóng lính tráng run chân , run tay đi đào măng , tát suối ...
Sợ nhất là cơn sốt đầu tiên. Đang khoẻ mạnh xụp xuống rất nhanh. Càng to , cao sốt càng dễ gục . Càng những anh người thành phố sốt rét càng dễ ác tính chứ còn mấy anh nhà quê nó chịu khổ nhiều , nó lam lũ nhiều thì có đỡ hơn về cái sự chống trả. Sợ nhất của sốt là đau đầu. Cắt sốt rồi là vài ngày đau đầu. Đau đến có cảm giác đầu mình nó lỏng lẻo. Khi di chuyển óc va vào vỏ sọ buốt nhói. Thế là đi đứng không mạnh bạo người cứ co ro như con cuốc. Ấy thế nhưng khi gần sốt là biết là cố gắng vượt qua đè cơn sốt xuống. Cán bộ biết xắp sốt cán bộ cho đào hầm ngay. Đào cái hầm xong mồ hôi túa ra khiến nhiều anh quên sốt. Nghĩ lại mà thương cho mình cho đồng đội .
Những năm tôi ở Tây Nguyên không đếm lại bao nhiêu lần sốt rét.Đã uống bao nhiêu liều thuốc quuynine, đã chịu tiêm bao nhiêu ống thuốc vào mông đít và nhìn thấy đồng đội mình bị sốt rét ác tính ra đi. Nhìn thấy bao nhiêu thằng bạn bị áp se đít vì phóng bế Qui nin. Có một điều tôi thấy lạ và nhớ mãi là những đồng đội mình bị sốt rét ác tính lúc chết rồi cái khẩu súng của quí ấy nó cứ thẳng đơ và phóng đạn . Họ bảo bản năng đàn ông của người lính trẻ nó thế . không biết có đúng không ?
Vùng chiến địa xưa hai mùa khô , mùa mưa có một khoảng giao mùa sinh bệnh. Nước độc , muỗi rừng , ở ăn trong hang trong hố lại thêm cái đói , cái suy kiệt dinh dưỡng áo quần không đủ khiến sốt rét Tây Nguyên trở thành nỗi ám ảnh của người lính mới vào chiến trường. Lâu rồi thành quen. Lính ta bảo đến cái chết còn quen nữa là sốt rét. Quen tất.
Sốt rét, môi thâm, rụng tóc, gầy gò là thương hiệu của lính B3. Dọc đường Trường sơn nhìn lính đi trở ra là nhận biết được lính ở chiến trường nào. Nhận ra lính nào là anh lính chiến đấu, anh nào hậu cần phục vụ, thậm chí rất dễ nhận ra những anh tụt tạt. Thành quen hễ thấy quần áo rách rưới gầy gò , da sám , môi thâm là lính B3 . Da dẻ trơn , trắng áo sita võng nilon , hút thuốc thơm là lính B2 ....
Tôi trở về miền bắc một hai năm sau vẫn sốt, bạn bè học cùng lớp nhìn chúng tôi sốt mà sợ . Vài năm sau hết hẳn, con vi trùng sốt rét chả biết rút lui hay nằm im chờ thời cơ vùng lên trong mỗi người lính rừng. Chiến tranh tắt rồi Tây nguyên bây giờ cũng ít sổt rét hơn. Mỗi lần trở lại Tây nguyên nghe thấy bà con trong vùng xa cũng không bị sốt như ngày xưa mà mừng. Chuyện sốt rét của lính đã xa nhưng vẫn nhớ . Rất nhớ. Không thể quên.
    

MỘT CA MỔ KHÔNG QUÊN

MỘT CA MỔ KHÔNG QUÊN
Bs - Vũ Hữu Hoàng - Viện Quân y 211


Đó là một buổi sáng tháng 5/1970 với những việc quen thuộc của phòng mổ ở quân y viện chiến trường Tây Nguyên . Khoảng 8 giờ sáng, cả phòng mổ nhộn nhịp bước vào một ca mổ mới. Kíp mổ là những phẫu thuật viên quen thuộc của Khoa ngoại 32 gồm bác sĩ Đinh Quang Minh, bác sĩ Xuân Hưởng, y sĩ Uông; kíp gây mê hồi sức có y sĩ Long, y sĩ Hoàng; nữ y tá vô trùng là chị Tám; người đạp xe đạp thông thạo nhất để phát điện cho đèn soi kíp mổ là nữ y tá Đoàn Thị Xuân...
Bệnh nhân mổ hôm đó là một thanh niên người dân tộc Tày ( Cao Bằng ) . Bệnh nhân lên phòng mổ với chẩn đoán là mổ khối u mạc treo đại tràng. Nếu đúng với chẩn đoán trước mổ thì ca mổ chỉ dự kiến diễn ra khoảng 2-3 tiếng.
... Ổ bụng vừa được mở ra đã thấy ngay một khối u, đó là một khối u lớn ở thành đại tràng chứ không phải u mạc treo. Khối u đã xâm lấn toàn bộ lòng đại tràng gây tắc ruột.
Kíp mổ dừng tay hội ý và điện mời Viện trưởng lên chỉ đạo. Từ Viện bộ, bác sĩ Lê Cao Đài tức tốc chạy lên phòng mổ. Sau khi quan sát trao đổi, Viện trưởng quyết định cắt nửa đại tràng. Từ đó, Viện trưởng là phẫu thuật viên chính của kíp mổ. Vậy là cuộc mổ sẽ khó khăn phức tạp và kéo dài thời gian hơn so với dự kiến ban đầu. Điều đó cũng không có gì đáng nói nếu không có những trận bom...
Đại tràng vừa được cắt, đang tiến hành khâu nối thì có tiếng máy bay trinh sát của Mỹ tới gần... Tiếng động cơ máy bay cứ vo vo xoáy tròn trên phòng mổ... Sau đó là một tiếng nổ trầm đục được bắn xuống nổ gần nhà mổ (loại pháo chỉ điểm mục tiêu) một cột khói màu bốc lên...
“Nó sắp ném bom vào mình đấy!” - Viện trưởng vừa dứt lời đã nghe rõ tiếng của máy bay phản lực bổ nhào. Tiếng rít của động cơ phản lực rất gần, tiếng nổ của bom như những đợt sét đánh thẳng vào phòng mổ. Cả phòng mổ rung động, chao đảo, bông bềnh...
Cứ mỗi lần tiếng phản lực lao xuống là toàn bộ nhân viên lại nằm sấp xuống sàn, riêng kíp mổ đều nằm ngửa giơ hai tay lên trần, giữ sạch bàn tay để mổ tiếp. Tất cả vì một bệnh nhân đang nằm trong tình trạng nguy kịch nên không hể có một ai dám bỏ nhiệm vụ, mặc dù sinh mạng đang bị đe dọa nghiêm trọng...
Không nhớ bao nhiêu loạt bom, bao nhiêu loạt đạn từ máy bay trút xuống, chỉ biết đã nhiều lần phải nằm rạp xuống đất rồi lại giúp nhau đứng dậy để tiếp tục cuộc mổ...
Bom nổ, bom cháy chỉ cách phòng mổ vài mét, những tấm rèm che quanh phòng mổ bốc cháy, đạn 20 ly từ máy bay bắn trúng làm sập một góc phòng, những bụi tre trúng đạn đổ nghiêng ngả. Toàn bộ phòng mổ nằm trong khói bụi... Tình hình trở nên quá nguy hiểm, chúng tôi được lệnh chuyển bệnh nhân xuống hầm. Trên mặt đất bom vẫn nổ, dưới hầm kíp mổ, kíp gây mê vẫn hoạt động khẩn trương. Do cuộc mổ kéo dài tới 8 tiếng, không có máu tươi để truyền, mà chiến trường thời đó chưa được trang bị oxy (bình oxy) để thở nên bệnh nhân choáng nhược kéo dài, người chiến sĩ ấy đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 22 giờ cùng ngày.
Cũng cả đêm hôm ấy, toàn bộ nhân viên và thương binh thức trắng để di chuyển chỗ ở. Và những ngày sau đó là những ngày đầy gian khổ và ác liệt...
Sau này và cho đến tận bây giờ, mỗi lần nhớ lại, hồi tưởng về những trận ném bom bắn phá vào nhà mổ hôm ấy, tôi lại tự hỏi: “Vì sao địch nhằm đúng nhà mổ mà ném bom?”.
Hồi đó bệnh viện ở hậu cứ hàng năm yên bình, các khoa bạn ở dưới thung lũng, những ngôi nhà rất thấp làm trong rừng già dưới những tán cầy cổ thụ rất kín đáo. Riêng nhà mổ được xây dựng khá cao và rộng, sàn được làm cao hơn mặt đất cả mét, mái được lợp bằng những khúc tre lồ ô dài bổ đôi lợp cái sấp cái ngửa. Ở đó, lưng chừng đồi toàn tre, lồ ô. Về cuối mùa khô cầy lồ ô rụng hết lá nên mái nhà mổ cao, rộng như một tấm gương phản chiếu, khiến máy bay Mỹ dễ phát hiện và ném bom. Rất may, do địa hình hiểm trở, một bên là núi cao, một bên là vực sâu nên máy bay phản lực loại siêu thanh không dễ bắn trúng mục tiêu. Chỉ cần những loạt bom, những loạt đạn chính xác hơn một chút thì toàn bộ kíp mổ, kíp gây mê hồi sức chủ lực nhất của Viện lúc ấy sẽ không còn!!!
46 năm đã trôi qua, trong chiến tranh tôi đã gây mê và mổ hàng ngàn trường hợp với rất nhiều khó khăn phức tạp trong điều kiện thiếu thốn ác liệt không nào nhớ hết... Xong cuộc mổ ngày 01/5/1970 tại phòng mổ (Khoa 35) Quân y Viện 211 - Chiến trường B3 Tây Nguyên thì chưa bao giờ quên


    

BÀI CA ỐNG CÓNG

Chịu đựng khó khăn , gian khổ , chịu thương chịu khó , Lính Tây Nguyên còn có một “ tài lẻ “ , đó là tài CA CÓNG . Ai cũng rất thành thạo việc này . Thực ra đó là bản năng sinh tồn của người lính trước hoàn cảnh nghiệt ngã của chiến trường . Nhớ những ngày vô cùng gian khổ , thiếu thốn ở Tây Nguyên những năm chiến tranh . Trang LÍNH TÂY NGUYÊN trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài : BÀI CA ỐNG CÓNG của Vũ Minh Thắng - Nguyên cán bộ Văn công Tây Nguyên . Đây là một bài tấu được Lính Tây Nguyên ngày đó rất yêu thích.

BÀI CA ỐNG CÓNG
(Độc tấu)

(Kính tặng các chiến sỹ Quân Giải Phóng Tây Nguyên một thời đánh Mỹ)
Vũ Minh Thắng - Văn công Tây Nguyên

Thưa các đồng chí
Lính Tây Nguyên ta có câu:
“Chưa sốt rét chưa thành Quân giải phóng
Không biết ca cóng không phải lính B3”
Xưa đến nay có muôn vạn bài ca
Tôi xin kể chuyện “Bài ca ống cóng”
Ngày tôi lên đường vào Nam giải phóng
Trên phát cho một “cóng” mắm kem
Mấy tháng ròng lặn lội ngày đêm
Trưa, sớm, tối có ống mắm thêm bầu bạn
Hai tháng hành quân mắm kia đã cạn
Tôi rang muối trộn thêm ăn cho tới Bản Sinh (1)
Mắm hết rồi tôi đánh ngoài, trong thật trắng tinh
Rồi cất kỹ vào ba lô làm kỷ niệm.
Nếu chỉ vậy thôi, đến đây cũng hết chuyện
Chuyện “Bài ca ống cóng” cũng thường thôi.
Nhưng sau trận Plei Me lịch sử vừa rồi
Ba đồng chí cùng tôi bị lạc
Chiếu thẳng hướng Tây chúng tôi mạnh bước
Lần đầu tiên tôi bị lạc trong rừng
Vì quê hương tôi bát ngát đồng bằng
Ruộng hợp tác cò bay thẳng cánh ...
Bốn ngày rồi gạo rang, nước lạnh
Chiều nay tôi đến cạnh một nương to
Cảnh chiều đông khi ánh nắng gần tà
Treo võng xong xuôi chúng tôi ra rẫy.
Ôi vui sướng làm sao lòng tôi khi ấy
Sắn vừa năm, chuối mắn, khoai vàng
Mụp sắn, ngọn lang, rau muống mỡ màng
Mấy ngày rồi không cháo, không cơm
Giờ được bữa “Tờ-ra-min” bồi dưỡng
Đêm hôm ấy, một đêm đầy vui sướng
Bốn cóng kia treo bốn góc rừng
Tiện củi gần lại sẵn suối nước trong
Bốn chúng tôi cùng “Bài ca ống cóng”
Chờ cho than hồng thật cao độ nóng
Lúc bấy giờ tôi mới đặt cóng lên trên
Tôi cố ghìm cho ngọn lửa không nhen
E ánh sáng ban đêm dễ lộ.
Ai hiểu được lòng tôi khi đó
Mới dạt dào, khó tả làm sao
Cóng đầu tiên là một cóng sắn sào
Mắm, mỡ đều không mà gớm sao ngon tuyệt
Ba ông bạn mở ba cóng tiếp
Rau muống nấu canh ngon biết nhường bao
Chuối nhựa mận lại thêm ớt sả thái vào
Cóng khoai luộc ôi chao! … thơm lựng.
Xong tiệc đầu tôi thấy chừng mới hơi lưng lửng
Liền bài ca tiếp cóng thứ hai
Ăn bữa nay còn lo bữa mai
Ấy cũng không quên món sắn lùi dự trữ
Ăn uống xong xuôi xoa chân lên võng ngủ
Và say sưa ngây ngất điếu “A-ra- nương” (2)
Bốn đứa kề nhau ngẫm lại chặng đường …
Tiếng suối reo róc rách chảy đầu nương
Nhịp sóng vỗ êm trầm từ dòng I-A-Đrăng vọng đến
Tôi nhớ quá con sông quê trìu mến
Uốn khúc vờn, quyện nỗi nhớ thương …
Trăng giữa tuần như rắc bạc khắp rừng
Gợi nhớ đêm sân ga không một bóng đèn
Tiếng người yêu tôi thổn thức vấn vương
“Vào chiến trường Anh là dũng sỹ
Ở hậu phương Em chung thủy, đảm đang”
Bỗng từ xa vang dậy cả núi rừng
Tiếng B52, tiếng đại bác cầm canh
Đêm hôm ấy riêng mình tôi không ngủ.
Nằm bên bếp than hồng rực đỏ
Ngọn lửa hồng đốt cháy hồn tôi
Tôi hình dung những hành động vừa rồi
Tôi nhớ mẹ tôi mười năm về trước
Làng tôi nghèo khoai khô, khoai luộc
Mẹ gạt khoai chọn cơm trắng cho con.
Một chiều đông mẹ tôi vác cuốc thăm đồng
Nghĩ tới đấy mà tôi rưng nước mắt
Mẹ tôi quý luống khoai vàng to, đẹp nhất
Nhưng kẻ trộm đã bới mất một phần ba
Rồi trên đường từ ruộng về nhà
Nỗi uất giận mẹ tôi la mất của
Tôi thiếp đi mơ màng như muốn ngủ
Nhưng tự nhiên nước mắt cứ tràn mi
Tiếng mẹ la kẻ trộm năm xưa
Cứ văng vẳng bên tai tôi giận dữ
Sau bốn ngày không cháo, cơm mệt lử
Tôi bỗng thành kẻ trộm khoai của mẹ năm xưa
Và lần ấy khi trở về đơn vị
Tôi báo cáo đại đội vụ “ca cóng” bên nương
Chính trị viên nghe vừa giận, vừa thương:
“Đồng bào Tây Nguyên dẫu thiếu muối đói cơm
Chân đất, lưng trần vẫn gùi gạo nuôi quân
Bụng đói, mà gạo của bộ đội trên lưng vẫn vẹn nguyên” …
Tôi thấy nhói tim nhìn đại đội trưởng lặng im không nói
Thế là chúng tôi xin đại đội phần gạo, mè (3) và muối
Trở lại Buôn Đắk-lây tạ lỗi với dân làng …
Thưa các đồng chí
Cái ống tròn bằng nhôm đựng mắm
Lính buộc dây treo thành cóng đun nước, xào, nấu, thổi cơm
Khẩu súng quàng vai, bao gạo thắt lưng
Lựu đạn, dao găm, ống cóng bên hông
Đôi dép cao su nâng bước chân giải phóng
Bật lửa xòe lên thành “Bài ca ống cóng”
Đời lính Tây Nguyên với “Bài ca ống cóng”
Như súng quàng vai, như bóng với hình
Nhưng cái vụ “ca cóng” ngô, sắn của dân
Thì đời tôi chỉ có một lần
Xin lấy danh dự chiến sỹ Giải Phóng Quân
“Đói cho sạch, rách cho thơm”
Lời mẹ dặn tôi xin ghi nhớ suốt đời
Thưa các đồng chí,
“Củ sắn dẫu to bằng con voi” (4)
Song cái đó chỉ là biện pháp
Theo tôi hiểu điều cao quý nhất
Chính là lòng tự giác của mỗi quân nhân
“Không lấy cái kim, sợi chỉ của dân”
Lời thề thứ 9, suốt đời tôi nhớ mãi không quên
Chuyện ống cóng đến đây cũng vừa hết
Gửi lời chào, xin được phép lui chân.

                                                                                                 Gia Lai, tháng 12-1966

    

GẶP PHÁI ĐOÀN QUÂN SỰ CỦA TA TẠI SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT

GẶP PHÁI ĐOÀN QUÂN SỰ CỦA TA TẠI SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT

Người kể : Phạm Hồng Quang - nguyên Chính trị viên Đại đội 9 - D6- E24-F10


Cuộc chiến đấu đánh địch ở ngã tư Bảy Hiền và ngã tư Bà Quẹo diễn ra vô cùng ác liệt. Sau nhiều lần tổ chức đánh địch, quân ta mới tiêu diệt được lực lượng địch, khai thông con đường để đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất. Bên ta có 3 xe tăng bị bắn cháy và hơn chục cán bộ, chiến sĩ bị thương vong. Xung phong, xung phong, tiếng hô long trời lỡ đất, tiếng đạn AK, B40, B41, ĐK, 12,7…
Từ cửa số 4, số 5, các đơn vị D4, D5, D6 của E24 tỏa ra dồn địch vào từng khu vực để tiêu diệt và bắt sống. Tôi và đồng chí Cự - Đại đội trưởng chỉ huy đại đội cùng đơn vị bạn (C10, C11) đánh chiếm Bộ Tư lệnh không quân, khu truyền tin thì được lệnh phát triền về phía nam trại Đa Vít - nơi có lá cờ đỏ sao vàng bắt liên lạc và bảo vệ phái đoàn quân sự của ta.
Lúc này, trong sân bay khói lửa bốc lên ngùn ngụt, cao hàng mấy chục mét. Từ hai kho hàng lớn, máy bay, xe tăng của địch bị cháy…
Sau 20 phút vận động đánh địch về phía nam sân bay, đại đội tôi đã đến cổng trại Đa -Vít, tôi và đồng chí Cự đại trưởng dẫn đầu đại đội ùa vào, đồng chí thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, đoàn trưởng dẫn đầu hơn 40 chục cán bộ chiến sĩ ùa ra. Thật cảm động, một bên là quân giải phóng, quần áo còn bám đầy bụi khói của chiến trận vào để bảo vệ phái đoàn theo nhiệm vụ được giao; một bên là cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Đã mấy năm sống trong lòng địch làm nhiệm vụ vì thống nhất Tổ quốc, cả hai lực lượng ùa vào nhau, ôm, hôn nhau, bắt tay nhau, những tiếng cười, tiếng nấc, những giọt nước mắt lăn trên gò má, hàng loạt AK được bắn lên chào mừng chiến thắng.
Tôi và đồng chí Cự đại trưởng ôm trầm đoàn trưởng và mọi người, tôi nghẹn ngào nói: Bác cáo thủ trưởng, Đại đội 9 đã có mặt theo nhiệm vụ, Sài Gòn giải phóng rồi, miền Nam giải phóng rồi. Đồng chí đoàn trưởng thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cũng cảm động nước mắt lưng tròng. Đồng chí nói: Chúng tôi ở trong này lúc nào cũng trông chờ các đồng chí, hôm nay đã thành sự thật. Chúng ta đã chiến thắng rồi, Việt Nam muôn năm, Bác Hồ muôn năm.
Tôi vàđồng chí Cự xin phép đoàn trưởng triển khai đội hình theo phương án chiến đấu. Lá cờ đỏ sao vàng và lá cờ nửa đỏ nửa xanh ngạo nghễ tung bay trên cột cờ của trại Đa - Vít. Ngoài sân bay, khói lửa vẫn bốc cháy ngùn ngụt lan tỏa sang cả trại Đa - Vít, quân ta vẫn truy kích tiêu diệt từng bộ phận quân địch ngoan cố chống lại. Đồng chí đoàn trưởng dẫn tôi và đồng chí Cự đi quan sát hệ thống phòng ngự, gồm phòng ẩn nấp, công sự chiến đấu, hào cơ động từ nhà nọ sang nhà kia. Đồng chí nói: “chúng tôi đã chuẩn bị cho phương án, nếu địch thủ tiêu đoàn, thì chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ mình, nếu các đồng chí chưa đến kịp; hiện tại trong đoàn có 2 đồng chí cảnh vệ bị thương đã được cứu chữa chu đáo. Ngay bây giờ, đoàn sẽ tổ chức khao quân, ăn mừng chiến thắng. Tôi nói: Cám ơn thủ trưởng, có lẽ toàn chiến dịch, chỉ có đại đội em được hưởng vinh dự này.
Vừa định triển khai “liên hoan” thì đại đội 9 của tôi lại nhận lệnh lên xe tăng và K63 chi viện cho E28 - F10 đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy. Xe vừa nổ máy xuất kích thì nhận điện: Bộ Tổng tham mưu của địch đã bị tiêu diệt, Đại đội 9 ở lại bảo vệ phái đoàn quân sự của ta. Và liên hoan ăn mừng chiến thắng đã diễn ra ở trại Đa- Vít giữa hai lực lượng. Thức ăn có thịt lợn, lòng lợn, giò hộp, rau xào… nước uống có bia Trúc Bạch , bia Hà Nội, trong bầu không khí đầy ắp tiếng cười của người chiến thắng, và lửa, khói của sân bay Tân Sơn Nhất lan tỏa sang. Ở phía cuối sân bay vẫn lẻ tẻ có tiếng súng truy kích địch. Ăn xong có chè Hồng Đào uống, có thuốc lá Điện Biên bao bạc, kẹo sô cô la, thật là một bữa tiệc sang trọng mà lính chúng tôi không dám nghĩ đến. Chiều ngày 30/4/1975, đồng chí Vũ Tài - E trưởng E24 cùng anh Thuấn, Anh Mỹ… thay mặt chỉ huy cơ quan E đến thăm đoàn và đơn vị có chụp ảnh chung với đoàn và ban chỉ huy cơ quan. (Ảnh chụp hiện nay còn lưu giữ tại Bảo tàng Quân đoàn 3).
Đại đội 9, D6 được Trung đoàn trưởng Vũ Tài giao nhiệm vụ ở lại bảo vệ sân bay và phái đoàn quân sự từ trưa ngày 30/4/1975, đến chiều 03/5/1975 bàn giao cho lực lượng quân quản thành phố Sài Gòn. Tổ chức bộ đội hành quân bằng xe cơ giới về Phú Lợi, Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương làm nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ địa bàn và xây dựng chính quyền nhân dân.
Ảnh 1: Các chiến sỹ Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất sáng 30/4/1975 .
Ảnh 2: Tác giả bài viết chụp ảnh cùng với Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn - Trưởng phái đoàn quân sự của ta tại sân bay Tân Sơn Nhất trưa 30/4/75 ( người đứng thứ 4 từ trái sang phải là chính trị viên đại đội 9 - Nguyễn Hồng Quang

    

CHIẾN DỊCH SA THÀY NĂM 1966

NHỮNG CHIẾN DỊCH LỚN TẠI CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN
Do đặc điểm địa hình chiến trường là rừng núi , nên những năm đánh Mỹ , chiến trường Tây Nguyên luôn là chiến trường tổ chức nhiều chiến dịch nhử quân Mỹ , Ngụy đến để tiêu diệt . Từ năm 1964 đến năm 1975 , Chiến trường Tây Nguyên đã tổ chức tất cả 7 Chiến dịch : Chiến dịch PlAY ME năm 1965 , chiến dịch SA THẦY năm 1966 , chiến dịch SA THÀY năm 1967 , chiến dịch ĐẮC TÔ năm 1967 , chiến dịch MẬU THÂN 1968 , chiến dịch ĐẮC TÔ - TÂN CẢNH năm 1972 và chiến dịch TÂY NGUYÊN năm 1975 . Có thể nói đây là một chiến trường tổ chức được nhiều chiến dịch lớn và đều giành thắng lợi , tiêu diệt nhiều sinh lực địch , phá hủy nhiều vũ khí và các phương tiện chiến tranh của chúng . Góp phần quan trọng vào việc đánh cho Mỹ cút , đánh cho Ngụy nhào . Trước đây trang Lính Tây Nguyên đã giới thiệu cùng bạn đọc 4 chiến dịch : 1/ Chiến dịch PLAY ME năm 1965 . 2 / Chiến dịch MẬU THÂN năm 1968 . 3/ Chiến dịch ĐẮC TÔ - TÂN CẢNH năm 1972 . 4/ CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN năm 1975 . Hôm nay trang Lính Tây Nguyên giới thiệu tiếp cùng bạn đọc chiến dịch SA THÀY năm 1966 .
CHIẾN DỊCH SA THÀY NĂM 1966
Chấp hành Nghị quyết của Đảng ủy , Bộ Tư lệnh Quân khu 5 . Đảng ủy và Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên quyết định mở chiến dịch tiến công Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa trên hướng Sa Thày . Mục đích nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực đối phương, cụ thể từ 2 - 3 tiểu đoàn Mỹ, từ 3 - 5 tiểu đoàn VNCH, hỗ trợ cho phong trào phá ấp, giành dân của địa phương, thu hút và giam chân chủ lực Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa để phối hợp chặt chẽ với các chiến trường trên toàn miền đánh bại cuộc phản công của đối phương. Phương châm tác chiến của Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên là đánh địch ngoài công sự là chính, thực hiện đánh phía trước, đánh bên sườn và đánh phía sau địch, kết hợp với tích cực đánh phá giao thông; bố trí có chiều sâu, có dự bị mạnh, nhử địch vào sâu để tiêu diệt.
Khu vực tác chiến chủ yếu ta là địa bàn huyện Sa Thày và một phần tây bắc huyện Chư Pa .
ĐỢT 1
Ngày 18 tháng 10 năm 1966, tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn bộ binh 95 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức pháo kích và bao vây đồn biệt kích biên phòng Plây Jirăng mở màn chiến dịch. Các đơn vị công binh và thông tin của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phối hợp với trung đoàn bộ binh 95 bắc 2 cầu treo qua sông Pô Kô và mắc đường dây hữu tuyến điện chạy dọc phía tây sông , nghi binh Quân đội Hoa Kỳ, Quân lực Việt Nam Cộng hòa và Quân đội Hàn Quốc.
Phát hiện chủ lực Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, quân Mỹ vội vã mở cuộc hành quân "Paul River 4" đánh vào khu vực đông và tây sông Sa Thày. Trước khi tiến quân, sư đoàn 4 Mỹ lập các trận địa pháo binh ở Sùng Lễ, Sùng Thiện, dùng máy bay B52 rải bom ở khu vực cầu treo, đặc biệt là khu vực đông bắc Plây Jirăng, cho biệt kích sục sạo phát hiện lực lượng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, chiếm tuyến bàn đạp ở đông sông Pô Kô. Ngày 20 tháng 10, Quân đội Hoa Kỳ dùng máy bay lên thẳng đổ 1 đại đội biệt kích xuống làng Nú. Ngày 23 tháng 10, 2 đại đội Mỹ đổ bộ xuống đông bắc Chư Bai. Ngày 25 tháng 10, 2 tiểu đoàn bộ binh Mỹ và 2 đại đội pháo được máy bay B52 và pháo binh bắn phá dọn đường đổ bộ sang khu vực tây nam Plây Jirăng.
Ngày 26 tháng 10, tiểu đoàn 2 - trung đoàn bộ binh 95 tập kích 1 đại đội biệt kích Quân đội Hoa Kỳ ở tây bắc Plây Jirăng 10 km, diệt 1 trung đội. Ngày 28 tháng 10, hai đại đội Mỹ hành quân bộ xuyên rừng tiến vào khu B và dừng lại ở B1 và B2 cao điểm 612; bị 2 tiểu đoàn 5 và 6, thuộc trung đoàn 320 cuar ta tập kích diệt gọn. Cùng đêm, tiểu đoàn 2 tập kích 1 đại đội Mỹ ở bắc Sơn Ló, diệt 1 trung đội. Ngày 29 tháng 10, tiểu đội 6 thuộc trung đoàn 320 tập kích quân địch đóng ở làng Mít Dép, diệt 1 đại đội và 1 trung đội khác, bắn rơi 2 máy bay lên thẳng. Đêm 29, tiểu đoàn 2 tập kích vào trận địa pháo Quân đội Hoa Kỳ ở bắc Chư Groll (khu A), phá hủy 2 khẩu 105mm, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng (sau trận này, đã điều tiểu đoàn chuyển thuộc trung đoàn 320). Do không nhận thức được nhiệm vụ nên trung đoàn bộ binh 320 chỉ để lại tiểu đoàn 6 ở lại đánh nhỏ lẻ còn toàn bộ trung đoàn hành quân di chuyển lên phía bắc, tách khỏi địch. Căn cứ vào tình hình cụ thể, Bộ tư lệnh chỉ thị cho các đơn vị kết thúc đợt 1 chiến dịch, củng cố và chuẩn bị bước vào đợt 2.
Trước những hành động nghi binh của ta , Quân đội Hoa Kỳ đã cho nhiều toán quân biệt kích sục sạo ở hai bên bờ sông Sa Thày trong khu vực C và D, dùng máy bay B52 ném bom và tăng thêm quân hỏa lực ở khu vực đông Sa Thày, dùng biệt kích đánh mở đường sang bên bờ tây sông.
ĐỢT 2
9 giờ ngày 5 tháng 11, tiểu đoàn 6 của trung đoàn 320 phục kích diệt 1 trung đội biệt kích Quân đội Hoa Kỳ ở bờ sông Sa Thày, mở màn cho đợt 2 chiến dịch. 14 giờ ngày 10 tháng 11, tiểu đoàn 9 của trung đoàn 66 phục kích tại D1 (khu D), diệt 100 tên biệt kích Quân đội Hoa Kỳ, bắt sống 3 tên, thu 4 súng tiểu liên. Sau đó Quân đội Hoa Kỳ đổ 1 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 2 sư đoàn 25 Mỹ, 1 đại đội biệt kích và 1 đại đội pháo đóng thành 1 cụm tại bãi 10, nhưng trung đoàn 66 không nắm được Quân đội Hoa Kỳ. Ngày 11 tháng 11, một đại đội biệt kích Quân đội Hoa Kỳ tiến vào bãi 9, bị tiểu đoàn 3 trung đoàn 88 của ta chặn đánh, diệt phần lớn đại đội này. 13 giờ, tiểu đoàn 2 thuộc lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ, 1 đại đội biệt kích, 1 đại đội pháo 105mm, 1 đại đội cối 106,7mm đổ bộ xuống chốt cũ của chúng ở C1, điểm cao 289 (khu C). Như vậy quân ta đã thực hiện dụ Quân đội Hoa Kỳ vào khu C theo đúng ý định của chiến dịch và cách bố trí của chúng gần đúng với dự kiến của ta. 17 giờ ngày 12 tháng 11 sau khi tiểu đoàn 32 (pháo cối) bắn gần 300 quả đạn cối 120mm và 82mm làm cho 2 đại đội pháo cối và sở chỉ huy tiểu đoàn 2 Mỹ bị tiêu diệt, bộ binh Quân đội Hoa Kỳ bị thương vong nặng, từ các hướng, các chiến sĩ trung đoàn 88 và tiểu đoàn 7 của trung đoàn 66 xung phong tiêu diệt gần hết cụm quân Quân đội Hoa Kỳ ở điểm cao 289 (còn 70 tên chạy thoát bằng máy bay), phá hủy 6 khẩu pháo 105mm, 6 khẩu cối 106,7mm, bắn rơi 7 máy bay lên thẳng. Ngày 13 tháng 11, dưới sự chi viện không quân, 1 đại đội Mỹ đổ bộ xuống điểm cao 289 nhặt xác đồng đội rồi rút.
Cùng lúc, ở phía nam điểm cao 289, tiểu đoàn 9 trung đoàn 66 tiến công diệt gọn 1 đại đội Mỹ. Cùng ngày, tiểu đoàn 1 thuộc lữ đoàn 3, sư đoàn 25 Mỹ đổ bộ xuống khu D, chúng cho 1 đại đội lùng sục ra phía tây khu D, bị 2 tiểu đoàn 8 và 9 của trung đoàn 66 diệt gọn. Ngày 16 tháng 11, Quân đội Hoa Kỳ phải điều lữ đoàn 2 thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ đến. Ngày 19 tháng 11, hai đại đội thuộc tiểu đoàn 1, lữ đoàn 3, sư đoàn 25 Mỹ tiến vào đúng khu vực do tiểu đoàn 8 bố trí, bị diệt gần hết (còn 40 lính lên máy bay chạy thoát). Ngày 22 tháng 11, tiểu đoàn 8 (trung đoàn 66) đánh tiếp 1 trận ở tây khu D, diệt 59 tên Mỹ (xác chết có phù hiệu kỵ binh không vận), bắn rơi 3 máy bay lên thẳng. Điểm cao 346 (khu D) và điểm cao 300 (khu C), mỗi nơi khoảng 1 tiểu đoàn bộ binh và 1 đến 2 đại đội pháo 105mm. Ngày 24 tháng 11, địch đổ tiếp 2 tiểu đoàn Mỹ xuống nam và bắc khu B, bị trung đoàn 320 bằng các trận đánh nhỏ liên tục tiến công tiêu hao nên chúng chùn lại. Do có khó khăn về lương thực nên Bộ tư lệnh chiến dịch rút 2 trung đoàn 95 và 320 về khu vực xóm 10 cũ, chỉ để lại tiểu đoàn 6 đánh nhỏ ở các khư vực làng Nú và đường 5B cho đến hết chiến dịch.
Trên khu vực đường 19, tiểu đoàn 101 đánh nhỏ, uy hiếp tây Thăng Đức bằng bắn máy bay, phục kích, buộc Quân đội Hoa Kỳ phải đổ bộ 1 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 2 sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ xuống Thăng Đức vào ngày 21 tháng 11. Tiểu đoàn 101 tổ chức tập kích ngay khi địch vừa đổ quân, diệt 1 đại đội
Trên khu vực đường 18, ngày 15 tháng 11, tiểu đoàn 6 phục kích địch ở Plây Cần diệt 1 trung đội và liên tục bám địch đánh nhỏ để bảo vệ nhân dân thu hoạch lúa. Ngày 2 tháng 11, đại đội cối 120 bắn vào cụm quân địch tại Plây Dốc diệt 50 tên, phá hủy 1 pháo 105mm. Ngày 25 tháng 11, Đốc binh cùng du kích phục kích Quân đội Hoa Kỳ tại Cần Can, diệt 4 xe GMC. Để phối hợp với chiến dịch, đêm 26 tháng 11, ta tổ chức pháo kích diệt Quân đội Hoa Kỳ ở Plây Me và phục kích chúng trên đường từ Phù Mỹ về Plây Me.
Bộ tư lệnh ra lệnh chiến dịch Tây Nguyên cho các đơn vị kết thúc đợt 2 của chiến dịch, củng cố, rút kinh nghiệm để bước vào đợt 3 và nhận định: địch ở trong khu chiến cụm lại ở điểm cao 346 (khu D) và điểm cao 300 (khu C), chúng mới hình thành một cụm ở Bơn Lơn. Ở phía bắc khu B xuất hiện 1 tiểu đoàn kỵ binh không vận, trung đoàn 42 VNCH tiến ra Plây Leng, Plây Ke... Sắp tới có thể Quân đội Hoa Kỳ sẽ dùng lữ đoàn 101 dù Mỹ với âm mưu và thủ đoạn mới, nên Bộ tư lệnh quyết tâm dụ địch vào khu C khu D để đánh một trận lớn nữa và kết thúc chiến dịch.
ĐỢT 3
Liên tiếp bị thua, Quân đội Hoa Kỳ dùng máy bay B52, máy bay phản lực và pháo binh yểm trợ tích cực cho bộ binh (bình quân mỗi ngày Quân đội Mỹ đã ném xuống khu chiến hơn 100 tấn bom và bắn hơn 100 tấn đạn pháo, trong toàn chiến dịch địch đã sử dụng 306 lần chiến máy bay B52 và 10.500 tấn bom đạn). Ngày 2 tháng 12, địch dùng 110 lần chiếc máy bay lên thẳng chuyển gần 2 tiểu đoàn từ các khu B, C, D đổ bộ lên xóm 10 (Cà Đin). Ngày 6 tháng 12, một tiểu đoàn của lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ tiến vào Cà Đin; tiểu đoàn 200 (pháo cối) của ta đã dùng hỏa lực tập kích đã tiêu hao nặng tiểu đoàn này. Bị tổn thất khá nặng , Quân đội Hoa Kỳ phải kết thúc cuộc hành quân . Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên ra lệnh cho các đơn vị kết thúc chiến dịch .
KẾT QUẢ
Từ 18/10 đến 6/12/1966 , ta đã tổ chức đánh 34 trận, diệt 1 tiểu đoàn, 8 đại đội và 4 trung đội Mỹ , tiêu hao nặng 1 tiểu đoàn Mỹ khác, diệt 5 đại đội và 2 trung đội QLVNCH, tổng số 2.410 tên (trong đó có 2.050 tên Mỹ), bắn rơi 21 máy bay các loại, phá hủy 26 khẩu pháo và 28 xe quân sự, thu 68 súng các loại . Chiến thắng này đã gây tổn thất lớn về sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ , Ngụy . Khảng định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và dân ta .
( nguồn tư liệu )


    

ĐƠN VỊ NÀO ĐÁNH CHIẾM VÀ CẮM CỜ TRƯỚC Ở BỘ TỔNG THAM MƯU NGUỴ SÁNG 30/4/1975 ?

ĐƠN VỊ NÀO ĐÁNH CHIẾM VÀ CẮM CỜ TRƯỚC Ở BỘ TỔNG THAM MƯU NGUỴ SÁNG 30/4/1975 ? 

                                                     Nguyễn Đình Thi - nguyên cán bộ Sư đoàn 10

Năm 2018 , nhân sự kiện 30/4 , VTV có phát một phóng sự nói Sư đoàn 390 - Quân đoàn 1 đánh chiếm và cắm cờ ở Bộ Tổng tham mưu Ngụy , hoàn toàn không nói gì đến Sư đoàn 10 , đơn vị trước đó đã đánh chiếm và cắm cờ ở đây . Tối 27/4/2019 , nhân sự kiện 30/4 , VTV1 lại phát phim tài liệu : NGƯỜI CẮM CỜ , đưa nhân chứng Nguyễn Duy Đông của Sư đoàn 390B - Quân đoàn 1 kể về chuyện cắm cờ ở Bộ Tổng tham mưu Ngụy ngày 30/4/1975 . Trong phim tài liệu này cũng hoàn toàn không nói gì tới việc Sư đoàn 10 đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu . Sự thật có phải Sư đoàn 390B - Quân đoàn 1 đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu Ngụy trước và cắm cờ trước ở đây không thì hoàn toàn không phải , mà sự thật là Trung đoàn 28 - Sư đoàn 10 đã chiếm Bộ Tổng tham mưu Ngụy và cắm cờ ở đây rất lâu sau đó mới có một nhóm người của Sư 390B - Quân đoàn 1 tới . Anh em Sư 10 không muốn nói lại chuyện này song năm nào cứ đến 30/4 họ lại nói đến Sư 390 cắm cờ ở Bộ Tổng tham mưu Ngụy , họ coi như không còn Sư 10 và những người lính Sư 10 năm nào đánh Bộ Tổng tham mưu Ngụy nữa . Hôm nay Trang Lính Tây Nguyên đăng lại lời kể của các nhân chứng của Sư đoàn 10 đã từng chỉ huy đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu Ngụy sáng 30/4/75 và một số hình ảnh , hiện vật hiện đang trưng bày tại nhà truyền thống Sư đoàn 10 để các bạn thấy đâu là sự thật .
Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy là một trong 5 mục tiêu quan trọng của trận đánh Sài Gòn . Nhiệm vụ đánh chiếm mục tiêu Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy được giao cho Quân đoàn 1, đối với Quân đoàn 3 mục tiêu này là mục tiêu phát triển tiếp theo sau mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn Dù, Bộ Tư Lệnh không quân, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 không quân. Nhưng đêm 29/4/75 , sau khi thấy hướng tấn công của Quân đoàn 3 trong ngày 29/4/75 phát triển khá nhanh , Sư đoàn 320 đã làm chủ căn cứ Đồng Dù, Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10 cùng xe tăng Trung đoàn 273 đã vào tới nội đô Sài Gòn , đang chốt gữi tại ngã 3 Bà Quẹo . Trong khi đó lực lượng được giao đánh Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy là Quân đoàn 1 vẫn đang bị Sư đoàn 5 của địch chặn ở dưới Thủ Dầu Một nên Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh quyết định giao nhiệm vụ đánh Bộ Tổng tham mưu Ngụy là nhiệm vụ chính thức của Quân đoàn 3 , không phải là nhiệm vụ phối hợp với Quân đoàn 1 như trước đây . Gần 9 giờ sáng 30/4/75 mũi đột kích đánh Bộ Tổng tham mưu Ngụy của Quân đoàn 3 là Trung đoàn 28 cùng xe tăng đã tới Lăng Cha Cả. Khi đến đây, thấy phía trên Lăng Cha Cả xe tăng ta cháy trên đường Võ Tánh chặn mất đường , Trung đoàn phó Đỗ Công Mùi quyết định cho Tiểu đoàn 3 rẽ phải đánh theo đường Trương Minh Ký qua nhà thờ Tân Châu Sa sang đường Thái Ngọc Hậu rồi đánh vào Bộ Tổng Tham Mưu. Địch ở 2 bên đường và phía trước cổng số 1 của Bộ Tổng Tham Mưu chống trả quyết liệt nhưng vẫn không cản được mũi tiến công của Trung đoàn, 1 xe tăng M41 chặn phía trước Bộ Tổng tham mưu bị bắn cháy , số còn lại bỏ chạy vào Bộ Tổng Tham Mưu. Khoảng 10 giờ lá cờ đầu tiên của ta đã được tổ cắm cờ của Đại đội 10 -Tiểu đoàn 3 cắm ở cổng chính số 1 Bộ Tổng Tham Mưu địch. Thừa thắng, 5 xe tăng, 6 xe bọc thép K63 cùng bộ binh Tiểu đoàn 3 bắt đầu đột phá sâu vào phía trong Bộ Tổng tham mưu . Mũi thứ nhất do Chính trị viên C10 Lê Quang Vững chỉ huy cùng 2 xe tăng , 1 xe bọc thép K63 đánh vào phía Đông Nam Bộ Tổng Tham Mưu. Mũi thứ 2 cùng 3 xe tăng, 5 xe bọc thép K63 đánh thẳng vào toà nhà chính của Bộ Tổng Tham Mưu. Địch chống trả quyết liệt nhưng đã nhanh chóng bị bộ binh và xe tăng ta tiêu diệt , thêm 1 xe tăng M48 và 1 xe thiết giáp M113 nữa bị ta bắn cháy , một đại đội địch bảo vệ toà nhà đã đầu hàng. Xe tăng 982 do Chính trị viên đại đội tăng 5 Nguyễn Văn Thìn chỉ huy cùng bộ binh C10 lao thẳng vào bậc thềm toà nhà chính Bộ Tổng Tham Mưu. 10 giờ 20 phút,Tiểu đoàn 3 -Trung đoàn 28 - Sư đoàn 10 cùng xe tăng Trung đoàn 273 đã hoàn toàn làm chủ toà nhà này và cắm cờ lên nóc toà nhà. Sau đó Trung đoàn tổ chức lực lượng chốt chặn , bảo vệ toà nhà và thu đầy một xe zép hiện vật và tài liệu quan trọng của địch ở đây. Có những hiện vật rất quan trọng như cờ Bộ Tổng Tham Mưu, con dấu của Bộ Tổng Tham Mưu Nguỵ, thanh kiếm của đại tướng Cao Văn Viên, con dấu của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ...
Đại tá Lê Ngọc Tùng - Nguyên Chỉ huy trưởng Quận đội Đống Đa, hiện sống tại Hà Nội lúc đó là Tham Mưu phó Trung đoàn 28 người trực tiếp cùng Tiểu đoàn 3 đánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu kể về việc gặp lực lượng Trung đoàn 48 ở cổng số 1 như sau: ( Trung đoàn 28 lúc đó có 2 Tham mưu phó )
- Khoảng 10 giờ 45 phút , sau khi chiếm xong toàn bộ toà nhà Tổng hành dinh Bộ Tổng Tham Mưu và tổ chức canh giữ bảo vệ. Lúc đó tại cổng chính số 1 thấy một lực lượng của Trung đoàn 48 -Sư đoàn 320B đi cùng 1 chiếc xe bọc thép đến. Tôi lệnh cho lực lượng chốt giữ cổng chính đóng cổng sắt không cho vào vì mục tiêu này chúng tôi đã chiếm xong và đang bảo vệ. Do không được vào số anh em này rất bực tức đã dùng súng AK bắn vỡ cửa kính phòng bảo vệ, rất may không ai làm sao, họ còn bắn lên trời nhằm đe dọa chúng tôi. Sau khi không vào cổng chính số 1 được , lực lượng này cùng chiếc xe bọc thép đã quay sang cổng số 2 ở phía sau để tiến vào Bộ Tổng Tham Mưu.
Đại tá Võ Hùng Kháng hiện đang sống tại thôn Thanh Phong, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, Tỉnh Bình Thuận, lúc đó cũng là Tham mưu phó Trung đoàn 28 người trực tiếp cùng Tiểu đoàn 3 đánh chiếm Tổng hành dinh Quân đội Việt Nam Cộng hoà kể như sau:
Tầm 10 giờ, vừa tổ chức cắm cờ ở cổng chính số 1 Bộ Tổng tham mưu xong , mấy anh em chúng tôi còn đang đứng quan sát , xác định đâu là toà nhà chỉ huy của Bộ Tổng tham mưu Ngụy thì chiếc xe thiết giáp chở đồng chí Vũ Đình Thước - Tham mưu phó Sư đoàn cùng đồng chí Đỗ Công Mùi - Trung đoàn phó lao đến . Thấy tôi , anh Đỗ Công Mùi nói ngay :
- Anh Kháng ! Cờ đâu ? Cho tổ chức cắm cờ ngay !
Tôi quay sang anh Lê Công Vững - Chính trị viên Đại đội 10 hỏi cờ . Anh Vững cho biết Đại đội chỉ có một chiếc cờ . Chiếc cờ này vừa cắm ở ngoài cổng rồi . Hiện không còn chiếc cờ nào cả . May quá lúc đó Tham mưu phó Sư đoàn Vũ Đình Thước có mang theo một chiếc cờ , đang để ở xe bọc thép K63 . Ông lấy vội ra đưa cho tôi . Đúng lúc đó thì hỏa lực 12ly8 của địch từ trên nóc toà nhà Bộ Tổng tham bắn xuống . Tôi lệnh cho xe bọc thép dùng 12ly7 bắn về phía khẩu 12ly 8 của địch . Tiếng súng im . Tôi , anh Vững cùng 2 đồng chí chiến sỹ của C10 cầm cờ chạy ngay về phía toà nhà chính Bộ Tổng tham mưu Nguỵ . Tới toà nhà , nhìn các phòng làm việc đều thấy đóng cửa , không gặp một ai . Toà nhà khá rộng nên loay hoay mãi mới tìm được cầu thang bộ . Tìm được cầu thang ,4 anh em chúng tôi chạy gấp lên trên . Khi tới vị trí cột cờ của địch trên nóc toà nhà , tôi nói với anh Vững cho hạ cờ ngay . Lá cờ ba sọc của địch được kéo xuống và tháo ra nhưng khổ nỗi lại không treo được cờ của ta . Vì cờ của địch to , cờ của ta nhỏ nên không luồn cán vào được để treo cờ . Loay hoay chưa biết lấy gì làm cán . Nhìn quanh . Tôi phát hiện gần chỗ tôi đứng có một cây ăng ten có thể làm cán cờ được . Tôi vội chạy đến , dùng dao găm chặt đứt ăng ten này . Rồi chọn một đoạn chặt làm cán . Có cán cờ , tôi cùng anh Vững làm động tác luồn cán , buộc dây và treo cờ . 2 chiến sỹ có súng AK làm nhiệm vụ bảo vệ . Tầm 10 giờ 40 phút , lá cờ giải phóng của ta đã được 4 anh em chúng tôi treo lên đúng vị trí cột cờ của địch tại nóc toà nhà Tổng hành dinh Bộ Tổng tham mưu Ngụy . Treo cờ xong , tôi giao nhiệm vụ cho 2 đồng chí chiến sỹ ở lại đó làm nhiệm vụ bảo vệ cờ .
Sau khi trực tiếp cùng anh em C10 cắm cờ ở nóc toà nhà Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn xong đi xuống, khi xuống đến tầng 2 thì gặp mấy đồng chí của Trung đoàn 48 - Sư đoàn 320B vác cờ đi lên. Lý do tôi biết người của Trung đoàn 48 là vì thấy ký hiệu ở trên áo không phải người của đơn vị (Trong chiến dịch Hồ Chí Minh tất cả mọi người tham gia Chiến dịch đều ghi ký hiệu đơn vị mình trên áo). Tôi chặn lại không cho lên . Thấy tôi căng, một đồng chí đi cùng nhóm người này giới thiệu là Trung đoàn phó Trung đoàn 48 -Sư đoàn 320B - Quân đoàn 1 ( không giới thiệu tên ). Giới thiệu xong đồng chí nói với tôi :
- Chúng tôi đến sau nhưng cờ của các đồng chí nhỏ, cờ của chúng tôi to. Đề nghị đồng chí cho chúng tôi thay cờ này vào vị trí cờ của các đồng chí để quay phim chụp ảnh cho đẹp !
Đúng là cờ của chúng tôi nhỏ thật, nhưng tôi vẫn kiên quyết không cho họ lên cắm cờ. Tôi nói với đồng chí Trung đoàn phó Trung đoàn 48 :
-Tôi biết nhiệm vụ của Quân đoàn 1 các anh là đánh Bộ Tổng Tham Mưu nhưng các anh đến sau các anh phải chấp nhận. Các anh có biết bao bộ đội của tôi ngã xuống trên đường vào đây không ? Ai diệt xe tăng địch ở đây để các anh vào cắm cờ ? Tôi dứt khoát không cho lên . Sau một hồi cãi nhau căng thẳng, sau tôi nghĩ: Cờ của mình đã cắm ở vị trí chính giữa toà nhà rồi cho họ cắm vào góc cũng không sao, giả sử sau này có tranh chấp thì chẳng ai công nhận lá cờ cắm ở góc toà nhà nên tôi đã nhân nhượng , đồng ý cho họ lên cắm cờ và yêu cầu :
1 : Cờ của các anh cắm vào góc bên phải toà nhà nhìn từ trên xuống .
2 : Không được thay thế cờ chúng tôi đã cắm ở giữa toà nhà .
Tôi và anh em C10 còn đứng tại nóc toà nhà giám sát sự việc trên và họ đã làm đúng như tôi yêu cầu
Tầm 12 giờ 30 phút, cũng có một nhóm người nữa của Sư đoàn 320B đến cổng số 1 tôi cũng không cho vào, 1 đồng chí đi cùng nhóm người này chỉ vào một người và giới thiệu với tôi đây là đồng chí Lưu Bá Sảo - Sư trưởng Sư đoàn 320B ( Sư 320B sau này đổi là Sư 390 ) , khi biết đồng chí này là Sư trưởng tôi cũng không cho vào. Tôi nói:
- Hiện nay chúng tôi đang quản lý và bảo vệ mục tiêu này. Tất cả nội bất xuất, ngoại bất nhập, kể cả đồng chí là Sư trưởng nhưng lính của các đồng chí không có ở đây thì đồng chí vào đây làm gì? Tôi kiên quyết không cho đồng chí Lưu Bá Sảo vào. Thấy tôi căng đồng chí Lưu Bá Sảo dọa :
- Đồng chí không cho tôi vào tôi sẽ bắn đồng chí ( lúc đó đồng chí Lưu Bá Sảo có khẩu cácbin ).
Tôi nói :
- Đồng chí là cán bộ đồng chí không nên nói vậy. Đồng chí có giỏi đồng chí cứ bắn, nhưng đồng chí bắn một viên thí sẽ có một ngàn viên AK bắn vào đồng chí ! ( Đồng chí Lưu Bá Sảo nếu còn sống chắc không quên câu chuyện này )
Cuối cùng tôi vẫn không cho vào. Đến chiều do đồng chí Lưu Bá Sảo là người họ hàng với đồng chí Lưu Quý Ngữ - Chính ủy Sư đoàn 10. Sau khi có ý kiến đồng chí Lưu Quý Ngữ chúng tôi mới giải quyết cho đồng chí Sảo vào. Chúng tôi còn ở lại bảo vệ mục tiêu này tới sáng ngày 1/5/1975 mới bàn giao lại cho đơn vị bạn quản lý toà nhà. Đêm 30/4/1975, tại toà nhà này đồng chí Vũ Lăng - Tư Lệnh Quân đoàn 3 và đồng chí Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy Quân đoàn cũng đã ngủ lại tại đây cùng cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 28.
Thiếu tá Nguyễn Trần Vân Quý - Nguyên Trợ lý Tuyên huấn Tổng cục chính trị , Nguyên Vụ trưởng Vụ pháp chế Tổng cục Hải quan lúc đó là Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn trực tiếp đánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn hiện sống tại Hà Nội kể :
Sau khi đánh tan lực lượng địch ở phía trước cổng chính số 1, đội hình Tiểu đoàn chia thành 2 mũi đánh vào Bộ Tổng Tham Mưu. Lá cờ đầu tiên của Tiểu đoàn được 2 đảng viên trẻ Nguyễn Xuân Tân và Lê Xuân Lựu cắm ngay tại cổng số 1. Sau khi chiếm và bố trí canh giữ toàn bộ toà nhà Bộ Tổng Tham Mưu, khoảng 30 phút sau một lực lượng của Trung đoàn 48 - Sư đoàn 390 tới cổng số 1 nhưng cổng chính số 1 do Trung đoàn 28 canh giữ đã đóng. Khi thấy lực lượng Sư đoàn 10 đã chiếm được Bộ Tổng Tham Mưu và không vào được, đồng chí đại đội trưởng đại đội cắm cờ của Trung đoàn 48 đã đứng ngoài khóc .
Chúng tôi cung cấp một số hình ảnh và hiện vật đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu Ngụy của Sư đoàn 10 để các bạn tham khảo .
Lá cờ do Trung đoàn 28 cắm trên nóc toà nhà Bộ Tổng tham mưu Ngụy . Khi đó chỉ có lá cờ duy nhất của Trung đoàn 28 , chưa có lá cờ của Sư 390 - Quân đoàn 1 cắm sau này ở góc bên trái toà nhà . 
Cờ nhỏ của Sư 10 cắm ở chính giữa toà nhà Bộ Tổng Tham Mưu Nguỵ sáng 30/4/75, nơi trước đó có treo cờ của Nguỵ quyền Sài Gòn. Lá cờ to ở góc phải toà nhà ( từ trên nhìn xuống ) là cờ do Sư đoàn 390 - Quân đoàn 1 cắm.
Nguyễn Duy Đông - Trung đoàn 48 - Sư đoàn 390 - Quân đoàn 1 đang chỉ cho phóng viên xem hình ảnh lá cờ mà mình đã cắm ở góc toà nhà Bộ Tổng Tham Mưu quân đội Sài Gòn .
Xe tăng Trung đoàn 273 đi cùng Sư đoàn 10 bị địch bắn cháy ở phía trước Bộ Tổng tham mưu .
Đội hình Xe tăng , thiết giáp Trung đoàn xe tăng 273 cùng Trung đoàn 28 chốt giữ toà nhà Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Sài Gòn sáng 30/4/75
Lá cờ của Bộ Tổng tham mưu Ngụy và các hiện vật khác như con dấu của Bộ Tổng tham mưu , con dấu của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu , phù hiệu của Đại tướng Cao Văn Viên , Sư đoàn 10 thu giữ tại Bộ Tổng tham mưu Ngụy hiện đang trưng bày tại nhà truyền thống của Sư đoàn 10







    

KÝ ỨC VỀ VĂN CÔNG QUÂN GIẢI PHÓNG TÂY NGUYÊN

Những người lính đã từng sống, chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên chắc hẳn không ai quên đội Văn công xung kích Tây Nguyên. Hình ảnh những cô gái văn công xinh đẹp, dễ thương như Hoài Thu, Thanh Lịch, Rơ Chăm Phiang , YMau , Byă HZăm... và tiếng hát át tiếng đạn bom của họ như một thứ vũ khí đặc biệt tiếp thêm cho bộ đội sức mạnh để chiến thắng quân thù và để lại trong lòng mỗi người lính Tây Nguyên những tình cảm đặc biệt thật khó quên . Hôm nay trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc Ký ức về những năm tháng sống, công tác tại Đoàn Văn công Quân giải phóng Tây Nguyên của diễn viên BYĂ H ZĂM .

KÝ ỨC VỀ VĂN CÔNG QUÂN GIẢI PHÓNG TÂY NGUYÊN

BYĂ-H ZĂM - nguyên diễn viên Đoàn Văn công Quân giải phóng Tây Nguyên

Năm 1964 , mới 13 tuổi, tôi được tuyển vào Đoàn Văn công Đắk Lắc. Khi đó, cuộc sống đói khổ, thiếu thốn trăm bề. Nhưng với lòng yêu nghệ thuật, đêm ngày tôi miệt mài tập múa, tập hát không biết mệt mỏi.
Năm 1966, Đoàn đi biểu diễn phục vụ đồng bào vùng giải phóng thì bị biệt kích chỉ điểm cho máy bay oanh tạc vào đúng đội hình. Lần đó, một số đồng chí trong Đoàn hy sinh còn tôi bị thương. Theo giám định y khoa, mức thương tật của tôi là 16%.
Đầu năm 1968, Đoàn Văn công Đắk Lắc được điều về phục vụ Đại hội Chiến sỹ thi đua Mặt trận B3. Khi ấy, Đội Văn công xung kích B3 đang cần tuyển diễn viên là người các dân tộc Tây Nguyên. Thật vinh dự tôi được Đội chọn tuyển. Đoàn Văn công Đắk Lắc cử tôi ở lại với Đội. Từ đó, tôi trở thành người chiến sỹ diễn viên quân đội. Tôi rất vui và thầm nghĩ sẽ phấn đấu học tập chuyên môn, văn hóa, nghệ thuật thật tốt để được đến tận chiến hào phục vụ bộ đội giải phóng.
Những năm tháng sống , công tác tại Đội Văn nghệ xung kích B3-Văn công Quân giải phóng Tây Nguyên là những năm tháng không thể quên đối với tôi . Tôi xin ghi chép lại vắn tắt mấy mẩu chuyện đã trở thành kỷ niệm sâu sắc đối với tôi thời văn công xung kích B3.
* Văn công xung kích ra phía trước phục vụ
Những năm 1970, 1971, 1972, Đội liên tiếp đi phục vụ các Trung đoàn 24,28,40, 66 và 95. Trên đường đi cực kỳ vất vả, gian nan. Cái dốc rừng Kon Tum khi lên thì cao chót vót, lúc xuống thì sâu thăm thẳm. Trời mưa, đường trơn, eo ơi vắt lá dày đặc bủa vây bao quanh, cắn vào cổ chân, kẽ các ngón chân rối cả bắp chân, no căng, có con to như ngón tay út, trông mà nổi da gà , ghê rợn, tôi kêu rú lên, không dám nhìn lâu, lấy que buộc túm muối chấm chấm gạt nó đi. Dép cao su bị bật quai lên tận bắp chân, tôi ngã oành oạch. Tôi được mệnh danh là người chiếm giải nhất về ngã và “tụt tạt” sau cùng khi hành quân. Thấy vậy, anh YDu và anh Thi lui xuống để giúp tôi. Người đón ba lô, người mang giùm bao gạo nên tôi mới kịp đội hình của toàn Đội. Lên đến cổng trời giải lao, ăn cơm nắm anh nuôi gói cùng mắm kem, ăn cùng nước mưa. Bụng đói nhưng nhìn nắm cơm ướt, tôi sợ ăn vào thì đau bụng nhưng vứt đi thi đói, mệt hành quân sao nổi.
Mệt, vất vả nhưng rất vui. Khi đến đơn vị thấy bộ đội đã phạt bãi, dựng sân khấu đất cho Đội biểu diễn. Tối, đơn vị tập trung mấy đèn pin quéo của Mỹ (chiến lợi phẩm) treo lên cột cánh gà sân khấu lấy ánh sáng để xem văn công biểu diễn. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ các tiết mục biểu diễn những năm đó. Đồng ca Tây Nguyên phất cờ khởi nghĩa, anh Thanh Phát sáng tác; tốp ca nam Cây sắn tấn công của anh Trần Bách; Nhớ Bác trên đường ra trận địa, ca ngợi bộ đội pháo binh khiêng pháo vào trận địa của anh Vũ Quý. Chị Thanh Lịch đơn ca Xuân chiến khu, Tiếng đàn ta lư, Đường cày đảm đang... Các tiết mục múa được bộ đội rất yêu thích như: múa Rông Chiêng, hát múa Tiếng chày trên sóc Bom Bo, múa Rung Khoong, đặc biệt múa Công tuôr của tôi được bộ đội vỗ tay kéo dài, tôi múa lại lần thứ hai, tuy mệt nhưng tôi rất vui. Rồi múa Lễ đâm trâu mừng chiến thắng. Nhưng tiết mục bộ đội yêu thích hơn cả là dàn nhạc nứa bày đứng kín cả sân khấu, toàn các nhạc cụ làm bằng nứa, trong đó nổi bật và rất lạ, độc đáo là đàn K’lông pút do chị YMau biểu diễn. Tiết mục kết thúc chương trình là màn hát múa Vương Văn Chài trên cửa mở Ngọc Rinh Rua, do anh Ngọc Báu sáng tác, anh Tiến Khải biên đạo phần múa phụ họa. Tiết mục này được Trung đoàn 66 rất cảm động vì Đội đã kịp thời ca ngợi dũng sỹ Vương Văn Chài của C2, K7, E66, người bộc phá viên dũng cảm đã ôm bộc phá đánh tung hàng rào mở cửa để đơn vị xông lên tiêu diệt gọn cứ điểm Ngọc Rinh Rua giữa ban ngày.
Những đợt ra phía trước phục vụ bộ đội, Đội liên tục hứng chịu những trận bom B57, bom B52 rải dọc đường giao liên, những trận pháo của địch từ các đồn câu về nơi đóng quân của bộ đội. Nhưng anh em trong Đội đều có ý chí, nghị lực vượt qua, không ai hoang mang dao động vì gian khổ và đạn bom ác liệt. Ra phía trước bom pháo như cơm bữa, nhưng rất may cả Đội không ai bị sao, thế là hạnh phúc nhất rồi.
* Kỷ niệm sâu sắc nhất
Giữa tháng 5/1971, Đội được lệnh xuống phục vụ Trung đoàn 95 ở cánh Nam. Mỗi tổ ca, múa, nhạc, kịch và hậu cần coi là một tiểu đội. Mỗi tiểu đội được trang bị từ 2 đến 3 khẩu AK, nữ thì mang súng các bin cho nhẹ. Sau hai ngày hành quân mệt mỏi, chiều ngày hôm sau, Đội tới một tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 95, nghỉ ngơi để chuẩn bị tối biểu diễn. Bỗng có hai trực thăng xương cá cứ bay lượn quanh mãi khu đóng quân của tiểu đoàn, nhưng không bắn phá gì. Tối, Đội vẫn biểu diễn phục vụ đơn vị. Khi màn đồng ca Tây Nguyên phất cờ khởi nghĩa, tiết mục cuối cùng vừa kết thúc thì bỗng nghe thấy tiếng súng bộ binh nổ chát chúa phía đỉnh đồi. Để đảm bảo an toàn tuyệt đội cho Đội, tiểu đoàn cử cán bộ cùng một tiểu đội bộ binh dẫn Đội hành quân ngay trong đêm về Trung đoàn bộ.
Đêm đã khuya lại đói, mệt nên tôi bị ngủ gật, chân cứ bước nhưng đôi mắt thì cứ díu lại, mơ mơ màng màng. Khi hai bàn chân vấp vào gốc cây, ụ đá thấy đau thì lại bừng tỉnh dậy, lại đi. Khi Đội đã đi xa nơi đóng quân của Tiểu đoàn thì được giải lao. Thế là tôi tranh thủ gục đầu trên ba lô ngủ thiếp đi.
Khoảng hơn 10 giờ sáng hôm sau thì Đội đến Trung đoàn bộ 95. Mọi người hạ ba lô, Trung đoàn mời ăn cơm với thịt bò tót sào, nấu canh. Chui cha ngon tuyệt. (Nghe nói đêm qua, Trung đoàn săn bắn được con bò tót to lắm). Chúng tôi được đơn vị bố trí hai người một hầm chữ A. Tôi định mắc võng nằm nghỉ ngủ chiều tối lấy sức biểu diễn. Nhưng tôi chưa kịp buôc dây võng xong thì đã thấy máy bay trực thăng xương cá bay vo vo, liệng quanh khu đóng quân. Rồi bất thần nó phóng rốc két Ục! Oàng! Ục! Oàng! Rồi nó xả súng máy liên hồi xuống khu vức đóng quân. Một lát sau, mấy chiếc phản lực thi nhau bổ nhào ném bom khoan, bom phạt, khiến cây cối bị cắt gãy hoặc đổ rạp ngổn ngang. Rồi pháo mặt đất từ các trận địa phía Đông câu về nổ Ùng! Oàng! Ùng Oàng! Ngồi trong hầm tôi phải nút lỗ tai nhưng vẫn bị váng đầu muốn nôn ọe. Tối đã nghĩ đến cái chết 100%. Tôi gục đầu trên gối và nghĩ miên man cho số phận chắc sẽ kết thúc ở đây. Tối nhớ từ lúc trực thăng bắt đầu phóng rốc két là hơn 10h30. Mãi đến hơn 4h30 chiều tiếng bom, tiếng pháo mới thưa dần rồi ngưng hẳn. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cuối cùng thì nó cũng cút đi rồi. Cả Đội vẫn cùng Trung đoàn bộ bám trụ kiên cường. Tất cả lên mặt đất chạy đến các hầm hỏi thăm nhau. May quá, tất cả đều an toàn, thế là tiếng cười lại vang lên. Ngay sáng hôm sau, Đội vẫn biểu diễn phục vụ bộ đội. Nhưng vừa biểu diễn được mấy tiết mục thì lại nghe tiếng súng bộ binh nổ gần nơi đóng quân. Tiếng súng cứ rộ lên nhiều đợt hơn. Trung đoàn cho biết bọn trực thăng đổ bộ biệt kích để thám báo, chỉ điểm cho máy bay oanh tạc. Đại đội bộ binh của ta đang vây đánh địch, Thế là Đội lại được lệnh hành quân về hậu cứ ngay. Khi đội hình vừa qua một dòng suối thì gặp trực thăng lượn đi, lượn lại nên cả đội tìm nấp vào các gốc cây, ụ mối. Khi trực thăng sà sát đầu ngọn cây, tôi thấy một thằng Mỹ đang quay rê súng máy quét tia lửa kéo thành những vệt dài xuổng khu rừng. Tôi chửi “Mẹ cha mày, tao lên đan bắn vỡ sọ mày bây giờ” và tôi lên đạn thật. Tiếng lên đạn khẩu các bin kêu đánh roạt! Bỗng có tiếng chị Tỵ quát “Đừng bắn! Lộ đội hình bây giờ là chết hết!”. Tôi sực tỉnh, tự trách “Ừ nhỉ, sao mà mình ngu thế!”. Một lát sau, toàn Đội chạy tới khu rừng già, nơi có hầm doanh trại cũ của bộ đội. Tiếng trực thăng cũng thưa dần, xa dần...
Khi toàn Đội về đến bên này suối Tà Bộp thì trời đã xẩm tối Mưa trên thượng nguồn nước dâng, suối sâu chảy xiết. Toàn Đội được lệnh lấy tăng, ni lông bọc ba lô để bơi vượt suối. Tôi thấy mọi người đưa dìu nhau bơi qua suối. Tôi cứ đứng loay hoay chưa biết tính sao thi bỗng bên cạnh có tiếng anh Thi (là chồng tôi bây giờ) “Đi với anh, em cứ bám thật chặt vào bao ni lông ba lô bơi ở phía trên dòng nước, anh bơi phía dưới để phòng em bị trôi”. Khi bơi gần đến bờ bên kia thì bị sóng nước cuốn dữ dội, tôi bị trượt tay khỏi bao ni lông và bị lũ cuốn đi. Trong đầu tôi vụt nghĩ “Thoát chết vì đạn bom chắc chết vì lủ cuốn đây”. Tôi kêu cứu! Rất nhanh, anh Thi lao theo dòng nước xiết, nắm được tay tôi, lôi tôi vào sát bờ. Rồi anh lại kịp lao ra túm được cả hai bọc ba lô. Tôi vô cùng cảm động về người đồng chí, đồng đội đã cứu tôi thoát khỏi tử thần. Và tôi cũng xin tiết lộ, tình yêu giữa hai chúng tôi cũng bắt đầu từ cái đêm vượt suối lũ dữ Tà Bộp ấy.
Nay cuộc sống đã yên bình. Nhưng những kỷ niệm về thời Văn công xung kích B3 với tôi đã hằn sâu trong trí nhớ không bao giờ có thể phai mờ. Tôi về Đoàn từ năm 1968 đến năm 1973 thì bố nuôi tôi là Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (nguyên Tư lệnh Mặt trận B3) mang theo tôi ra Bắc cho học văn hóa, học nghề rồi về công tác tại Bệnh viện Quân y của Quân khu I, đóng tại Thành phố Thái Nguyên. Cũng từ Đoàn Vãn công xung kích B3 (nay là Đoàn Văn công QGP Tây Nguyên) đã mang đến cho tôi người bạn đời yêu quý là anh Trần Mạnh Thi và một gia đình hạnh phúc như ngày hôm nay. Tôi tự hào mình được là một người lính của Đoàn Văn công QGP Tây Nguyên.
Buôn Ma Thuột
Tháng 10/2017


    

NGƯỜI NHẠC SỸ CỦA LÍNH TÂY NGUYÊN
Hồng Sơn
Nhạc sĩ Ngọc Toán hát, những cựu chiến binh Quân đoàn 3 chúng tôi nghe:Ơi bông hoa Pơ-lang, ơi con nai trên rừng cho ta nhắn gửiƠi dãy núi Chư Prông, ơi sông Ba hiền hòa, Ơi núi rừng quê ta những ngày năm xưa còn nhớ Ngọc Rinh Rua, dòng Pô Cô, thung lủng Cheo Reo phơi xác thủ...
Tôi nhớ, đây là bài “Một khúc hát khan” cùng với ‘Trở lại cao nguyên" và “Tháng Ba bơ vơ” tạo thành 3 ca khúc nổi tiếng của Ngọc Toán ở vùng Gia Lai-Kon Tum khi Quân đoàn 3 trở lại Tây Nguyên năm 1987. Riêng ca khúc “Trở lại cao nguyên” được Chu Thúy Hà hát ở Hội diễn văn nghệ tỉnh Gia Lai năm 1988 vả giành giải nhất. Bài hát là “bàn đạp” để chị trở thành ca sĩ chuyên nghiệp. Hiện nay, NSƯT Chu Thúy Hà là Giám đốc Nhà hát Đam San của tỉnh Gia Lai.Ngọc Toán lại hát bài hát Chu Thúy Hà từng hát thuở nào:
Khi trở lại cao nguyên
Trong tôi bao kỷ niệm
Con đường như cánh võng
Treo trên đỉnh Trường Sơn...Đầu năm 1988, khi tôi được điều từ Sư đoàn 320 lên tờ báo Binh đoàn Tây Nguyên cùng nhà thơ Hồng Thanh Quang thì nhạc sĩ, Đại úy Đinh Ngọc Toán là Phó chủ nhiệm Nhà văn hóa Quân đoàn 3. Hồi đó anh 34 tuổi, người gầy, nhỏ, đôi mắt nheo nheo hiền từ, dáng đi xiêu xiêu. Cuộc sống còn khó khăn, lương sĩ quan cấp úy không đủ chi tiêu cho tính cách nghệ sĩ của anh, nói gì đến giúp đỡ vợ con và cha mẹ già ở Hải Dương. Mỗi tháng có lương là biết liền. Dáng đi của anh và Hồng Thanh Quang lúc đó trở nên dứt khoát, mạnh mẽ, nụ cười vui trên môi. Chúng tôi rủ nhau ra quán cóc ở cầu số 3 gần Quân đoàn bộ mua cút rượu quê, vài chiếc bánh tráng và đĩa dưa chuột xào ít thịt bò. Ngọc Toán hát, Hồng Thanh Quang đọc thơ, những bài mới sáng tác, tôi và nhà văn Lê Hải Triều ngồi nghe. Không có nhạc cụ, Ngọc Toán vẫn hát rất phiêu, đôi mắt nhắm nghiền, thân hình lắc lư, không thể hình dung nổi trước đây anh vốn là lính trinh sát pháo binh cự phách của quân đoàn.Đinh Ngọc Toán sinh năm 1954 ở xã Tiên Động, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Con gia đình nông dân nghèo, nhưng cậu bé Toán vốn có năng khiếu âm nhạc từ nhỏ, nên các kỳ nghỉ hè, xã lại cho lên Ty Văn hóa Hải Dương học nhạc lý. 13 tuổi, cậu đã sử dụng thành thạo sáo, nhị, biết chơi ghi ta nên các cụ cho ngồi ở dàn nhạc chèo của xã...Nhưng chiến tranh ngày càng ác liệt, năm 1972 chưa học hết lớp 10, Đinh Ngọc Toán cùng với thanh niên trong xã lên đường đánh Mỹ. Huấn luyện chiến sĩ mới ngoài Bắc, đầu năm 1973, anh được bổ sung vào Trung đoàn Pháo binh 40 của Mặt trận Tây Nguyên (tháng 3-1975 thành Quân đoàn 3). Từ đó, chàng trai quê Tứ Kỳ trở thành trinh sát pháo binh gan dạ, dũng cảm, đi suốt dọc mảnh đất Tây Nguyên cho đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, rồi cùng quân đoàn chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam Tố quốc, giúp nhân dân Campuchia tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer Đỏ... Trong mọi gian khổ, ác liệt của chiến tranh, Ngọc Toán vẫn nung nấu khát vọng trở thành nhạc sĩ như ước mơ thuở nhỏ của mình.Sau khi đất nước thống nhất, tháng 9-1975, Quân đoàn 3 tổ chức Hội diễn văn nghệ lần thứ nhất. Ngọc Toán mạnh dạn viết ca khúc “Hành quân bảo vệ biên giới cho đội văn nghệ Trung đoàn 40 đi tham gia và được giải. Miền Nam vừa mới giải phóng, mọi nguời còn hân hoan trong niềm vui thống nhất, gia đình đoàn tụ, nhưng chàng trai 21 tuổi Đinh Ngọc Toán vẫn cảm nhận được nhiệm vụ nặng nề của người lính sắp tới trước hiểm họa FULRO và bọn phản động nước ngoài. Sau này, được điều lên Phòng Tuyên huấn Quân đoàn, năm 1979 đi Kampong Cham, Siem Reap, Battambang, Pursat... của Campuchia, năm 1980, cùng quân đoàn ra bảo vệ biên giới phía Bẳc, rồi được đi học lớp sáng tác ngắn hạn, Ngọc Toán vẫn ấp ủ đề tài về Tây Nguyên. Chỉ đến khi quân đoàn trở lại chiến trường Tây Nguyên xưa, sáng tác của anh mới bùng nổ : - Cả một thời thanh xuân đẹp đẽ của tôi gắn với Tây Nguyên - nhạc sĩ Ngọc Toán nói - trung đoàn tôi từng đánh địch ở Chư Mom Ray, Sa Thầy, Đắc Tô -Tân cảnh, Chư Nghé, Ayun Pa... Bao nhiêu kỷ niệm về đồng đội, về các trận đánh, về các cơn sốt rét rừng, những ngày triền miên đói, tình nghĩa với đồng bào nơi đây cứ dồn về trong tôi những ngày đó...Ngọc Toán lại hát:Em đi lên nương khi con chim rừng chưa ngủ dậy Gia Lai, Kon Tum tưng bừng mở hội Chân em đi như tiếng suối reoMiệng em hát như chim Kơ-tiTây Nguyên quê em nhớ nhớ ai Để các rẫy thương ai ngẩn ngơBơ vơTháng Ba về em mơ...
Ca khúc “Tháng Ba bơ vơ” này được tốp nữ là các cô gái nuôi quân bếp ăn quân đoàn bộ gồm những Hà, Hạnh, Vân, Huyền, Hiền... mặc trang phục đồng bào Tây Nguyên vừa hát vừa nhún nhảy rất mới và lạ. Nhưng tác giả của nó gặp không ít phiền hà. Có vị chỉ huy thấy cái tên “Tháng Ba bơ vơ” liền phản đối Ngọc Toán vì sao lại có chuyện bộ đội để đồng bào bơ vơ. Sau mọi người giải thích, đây là lời của cô gái Tây Nguyên khi bộ đội giải phóng Tây Nguyên tháng 3-1975 xong xuống đồng bằng rồi tiến về giải phóng Sài Gòn nên thương, nhớ và cảm thấy bơ vơ... rồi mới ổn. Bài hát còn giành giải nhất trong cuộc thi sáng tác ca khúc của Tạp chí Văn nghệ Gia Lai-Kon Tum năm 1989.- Ấy, bài hát này sau được đoàn Đam San dựng và vẫn biểu diễn cho đến ngày hôm nay - nhạc sĩ Ngọc Toán tự hào - Giao thừa năm ngoái, Chu Thúy Hà còn điện cho tôi nói: “Thầy ơi, thầy nghe này. Chúng em đang hát “Tháng Ba bơ vơ” của thầy đấy!”.Nhưng người nhạc sĩ tài hoa này suýt về hưu ở tuổi 38, nếu như không có sự can thiệp kịp thời của vị tướng nổi tiếng cũng từng gắn bó với Tây Nguyên, số là năm 1992 có chỉ thị cán bộ nào phục vụ quân đội liên tục 20 năm thì sẽ được về hưu. Thiếu tá Đinh Ngọc Toán, lúc này là Chủ nhiệm Nhà văn hóa quân đoàn cũng nằm trong số đó. Nhiều người trong Phòng Tuyên huấn đã cầm quyết định trở về quê hương, riêng anh tạm hoãn một tháng vì còn phải xuống một Sư đoàn giúp xây dựng chương trình tham gia Hội diễn văn nghệ quân đoàn. Đúng lúc đó, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Chính ủy Quân đoàn 3, đang là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị vào Tây Nguyên công tác. Biết được chuyện này và hiểu rõ khả năng của Ngọc Toán, ông chỉ thị cho Quân đoàn dừng ngay việc về hưu của Ngọc Toán và năm 1993 điều anh về Trường Nghệ thuật Quân đội (nay là Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội) làm Phó chủ nhiệm Khoa Âm nhạc rồi Chủ nhiệm - Khoa Quản lý văn hóa.Ở môi trường mới, lại được học tiếp 5 năm ở Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam), nhưng những sáng tác của Ngọc Toán không dứt ra khỏi âm hưởng Tây Nguyên. Anh viết ca khúc cho thiếu nhi “Hát gọi mặt trời” được Hội Nhạc sĩ Việt Nam tặng giải nhì trong một cuộc thi sáng tác; anh viết giao hưởng “Cao nguyên tháng Ba” nói về trận Buôn Ma Thuột tháng 3-1975... Những năm tháng sống với đồng bào, những lễ hội, những đêm đốt lửa múa hát... với những làn điệu dân ca đã ngấm vào anh khi nào không biết.Ngọc Toán là nhạc sĩ viết nhiều nhất về LLVT Tây Nguyên với hơn 30 tác phẩm. Rất nhiều giải thưởng của Bộ Quốc phòng, của Hội Nhạc sĩ Việt Nam dành cho anh, nhưng niềm vui lớn nhất đối với anh là đến đơn vị nào của Quân đoàn 3, các cán bộ, chiến sĩ đều hát ca khúc của anh. Những tác phẩm của Ngọc Toán, dù là ca khúc trữ tình hay truyền thống, đều có những bâng khuâng, nhung nhớ một thời oanh liệt của LLVT Tây Nguyên.- Tôi là nhạc sĩ trưởng thành từ người lính ở chiến trường ác liệt bậc nhất này. Biết bao đồng đội đã hy sinh, riêng tiểu đội trinh sát pháo binh của tôi đã có 5 người ra đi vĩnh viễn. Vì vậy, về hưu mấy năm nay, tuy sức khỏe đã yếu nhiều, tôi vẫn trở lại Tây Nguyên để tìm đồng đội và sáng tác - nhạc sĩ Ngọc Toán xúc động nói.Ngọc Toán lại hát:Cho tôi xin làm cây tượng gỗ Muôn đời nghe suối hát lời ru Đồng đội một thời ru tôi ngủ Lời ru lẫn trong tiếng bom rền...Mẹ ơi, mẹ hãy là con suối Muôn đời ru con giữa Trường Sơn.Bài “Tượng gỗ lời ru” nhạc sĩ Ngọc Toán mới sáng tác khi đi tìm đồng đội dọc các bờ suối ở chiến trường xưa. Trong sự âm u của đại ngàn, ta vẫn nghe thấy những phách nhịp trầm hùng xa xưa của âm hưởng Tây Nguyên. Đó là phách nhịp của rừng đã ăn sâu vào máu của người chiến sĩ-nhạc sĩ này.


Ảnh: Nhạc sỹ Ngọc Toán